Lựa chọn mô hình và lộ trình phù hợp khi thành lập Sàn Giao dịch vàng tại Việt Nam

Thị trường tài chính
Với điều kiện và thực trạng thị trường tại Việt Nam, trước mắt, sàn giao dịch vàng vật chất có thể là lựa chọn phù hợp, trở thành kênh phân phối vàng nguyên liệu nhập khẩu đủ tiêu chuẩn, bảo đảm công khai, minh bạch, từ đó tạo niềm tin đối với các thành viên giao dịch trên sàn. Việc triển khai cần theo lộ trình thận trọng, trước mắt cần xây dựng Nghị quyết của Chính phủ về triển khai thí điểm Sàn giao dịch vàng tại Việt Nam.
aa
Lựa chọn mô hình và lộ trình phù hợp khi thành lập Sàn Giao dịch vàng tại Việt Nam
Ảnh minh họa, nguồn: Internet

Một số mô hình sàn giao dịch vàng trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới, các sàn giao dịch vàng hoạt động với ba mô hình phổ biến từ giao dịch vàng vật chất đến tài khoản và phái sinh.

Thứ nhất, giao dịch vàng thật - tức người mua và người bán thực sự đổi vàng với nhau, thường là dưới dạng thỏi hoặc miếng chuẩn hóa.

Một trong những nơi điển hình là Thị trường vàng thỏi London (London Bullion Market). Thị trường này do Hiệp hội Thị trường Vàng thỏi London (London Bullion Market Association - LBMA) điều phối, được thành lập vào năm 1987, LBMA có trụ sở tại London, Vương quốc Anh. Thành viên giao dịch là thành viên của LBMA. Việc mua bán thường được thực hiện giữa các tổ chức lớn như ngân hàng hoặc công ty tài chính, dựa trên sự thương lượng giá và khối lượng, thay vì khớp lệnh công khai như trên sàn chính thức. Họ giao dịch các thỏi vàng “chuẩn” thường là nặng khoảng 12kg, có độ tinh khiết cao và lưu trữ tại kho bảo đảm.

Thứ hai, giao dịch vàng qua tài khoản - nơi nhà đầu tư không nắm giữ vàng thật mà chỉ mua bán “quyền sở hữu” số vàng đó, tương tự cách người ta đầu tư ngoại tệ hay cổ phiếu. Mô hình này phổ biến ở các trung tâm tài chính như Singapore, Thụy Sĩ, Hồng Kông (Trung Quốc). Giao dịch chủ yếu qua nền tảng điện tử. Người chơi cần nộp một khoản bảo đảm - gọi là ký quỹ - để được mua số vàng lớn hơn số tiền đang có. Chính vì thế, mô hình này thường bị quản lý rất chặt chẽ. Tại Thụy Sĩ, Sàn giao dịch vàng (Zurich Gold Market) được thiết lập và vận hành bởi UBS (ngân hàng lớn nhất Thụy Sĩ) và Bank of Switzerland (Ngân hàng Thụy Sĩ).

Thứ ba, giao dịch vàng phái sinh - một hình thức tài chính chuyên sâu hơn. Ở đây, nhà đầu tư không mua vàng, mà đặt cược vào việc giá vàng sẽ tăng hay giảm trong tương lai thông qua các hợp đồng.

Tại Mỹ có sàn giao dịch COMEX (Commodity Exchange Inc.), một trong những sàn giao dịch hàng hóa nhóm kim loại lớn nhất và quan trọng nhất thế giới, đặc biệt nổi tiếng với giao dịch vàng. Đây là một bộ phận của CME Group (Chicago Mercantile Exchange Group), tập đoàn tài chính hàng đầu có trụ sở tại Chicago, Illinois, Mỹ.

Sàn giao dịch COMEX được thành lập vào năm 1933. Ban đầu, chuyên về giao dịch vàng vật chất, nhưng sau đó đã mở rộng để bao gồm các loại hàng hóa khác và các sản phẩm tài chính. COMEX đã thiết lập một cơ chế phát hiện giá vàng hiệu quả thông qua các hợp đồng tương lai. Điểm hấp dẫn của nó nằm ở khả năng tạo ra giá tham chiếu ngắn hạn, nhờ tính thanh khoản cao của các hợp đồng tương lai gần tháng. Sàn có hệ thống kho lưu trữ, cơ chế ký quỹ và được giám sát bởi Ủy ban Giao dịch hàng hóa tương lai Mỹ (CFTC).

Tại châu Á, Sàn giao dịch vàng Thượng Hải (SGE) được thành lập vào năm 2002, là nơi giao dịch vàng lớn nhất Trung Quốc, giao dịch bằng đồng Nhân dân tệ và chịu sự kiểm soát sát sao từ Ngân hàng Trung ương. Ngoài giao dịch vàng thật, SGE còn có các công cụ tài chính tương tự COMEX. Hệ thống định giá của SGE được sử dụng làm tham chiếu trong khu vực, góp phần cạnh tranh ảnh hưởng với thị trường phương Tây. Sàn SGE được vận hành theo mô hình giao dịch tập trung, kết hợp cả vàng vật chất lẫn phi vật chất, với sự tham gia của các ngân hàng thương mại (NHTM), doanh nghiệp sản xuất vàng miếng và tổ chức tài chính quốc tế. Trên nền tảng điện tử, lệnh mua bán được khớp tự động theo nguyên tắc ưu tiên giá cao nhất cho người bán và thấp nhất cho người mua.

Nhìn chung, các sàn giao dịch vàng ở các trung tâm tài chính quốc tế phát triển không phù hợp với Việt Nam vì khác biệt về mức độ tự do hóa tài chính (đồng tiền có khả năng chuyển đổi hoàn toàn; không cấp quota nhập khẩu vàng…). Phần lớn các sàn giao dịch vàng do ngân hàng trung ương hoặc ngân hàng lớn nhất, tập đoàn tài chính hàng đầu quản lý, giám sát, vận hành. Một số sàn được vận hành theo mô hình giao dịch tập trung, kết hợp cả vàng vật chất lẫn phi vật chất, có sự tham gia của các NHTM, doanh nghiệp sản xuất vàng miếng và tổ chức tài chính.

Dù mô hình khác nhau, điểm chung giữa các thị trường vàng lớn là yêu cầu về nền tảng pháp lý mạnh, hệ thống kỹ thuật tiên tiến và cơ chế giám sát độc lập. Nhiều thị trường áp dụng quy tắc về nguồn gốc vàng hợp pháp. Tức là vàng giao dịch phải minh bạch về xuất xứ, không dính tới khai thác lậu hay khu vực xung đột. Điều này làm tăng tính uy tín cho thị trường và bảo vệ nhà đầu tư. Cuối cùng, để tham gia được vào các sàn này, tổ chức phải có năng lực tài chính mạnh, minh bạch giao dịch và tuân thủ nghiêm các quy định.

Cần triển khai theo lộ trình thận trọng, đảm bảo an toàn, minh bạch

Tại Việt Nam, việc triển khai thành lập sàn giao dịch vàng có những điều kiện thuận lợi về chủ trương, định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, có cơ sở pháp lý, thực tiễn, phù hợp xu thế thế giới.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Thông báo số 211-TB/VPTW ngày 30/5/2025 về cơ chế, chính sách quản lý hiệu quả thị trường vàng, trong đó giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN): “Tập trung nghiên cứu một số giải pháp để sớm áp dụng theo lộ trình: nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế để đề xuất việc triển khai thành lập Sở giao dịch vàng quốc gia; hoặc cho phép đưa vàng vào giao dịch trên Sở giao dịch hàng hóa; hoặc lập Sàn giao dịch vàng trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam”; thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thường trực Chính phủ tại Văn bản số 300/TB-VPCP ngày 11/6/2025 thông báo Kết luận về tình hình và công tác quản lý thị trường vàng, trong đó giao NHNN: “Nghiên cứu việc thành lập các Sàn/Sở giao dịch vàng tập trung; xác định rõ cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh vàng phù hợp, vừa tạo điều kiện cho người dân giao dịch vàng, vừa đảm bảo công tác quản lý nhà nước hiệu lực, hiệu quả”.

Về mặt pháp lý, ngày 26/8/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 232/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 232), bám sát các chủ trương của Đảng và Nhà nước về xóa bỏ cơ chế độc quyền Nhà nước một cách có kiểm soát trên nguyên tắc Nhà nước vẫn quản lý hoạt động sản xuất vàng miếng. Nghị định 232 có hiệu lực từ ngày 10/10/2025.

Việc chấm dứt cơ chế Nhà nước độc quyền thương hiệu vàng miếng, mở rộng đối tượng sản xuất vàng miếng và nhập khẩu vàng nguyên liệu sẽ giúp nguồn cung vàng trên thị trường đa dạng hơn. Người dân sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn, thị trường cạnh tranh, minh bạch hơn, qua đó góp phần thu hẹp chênh lệch giữa giá vàng trong nước với giá vàng thế giới cũng như giữa các thương hiệu vàng.

Theo đó, đối với thị trường vàng miếng, Nghị định 232 quy định NHNN cấp phép cho các doanh nghiệp, NHTM đủ điều kiện tham gia sản xuất vàng miếng, đồng thời cấp phép cho các đơn vị này được nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng; đối với thị trường vàng trang sức, mỹ nghệ, quy định NHNN cấp phép cho các doanh nghiệp, NHTM được nhập khẩu vàng nguyên liệu để bán cho doanh nghiệp để sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ; giao NHNN hướng dẫn quy định hồ sơ, thủ tục cấp Giấy phép sản xuất vàng miếng; kinh doanh mua, bán vàng miếng; sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.

Triển khai thi hành Nghị định 232, NHNN đã khẩn trương xây dựng Thông tư số 34/2025/TT-NHNN ngày 09/10/2025 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 232.

Theo quy định tại Nghị định 232, các NHTM, doanh nghiệp được cấp Giấy phép nhập khẩu vàng có thể thực hiện nhập khẩu vàng để bán trong nước. Đây là một trong những cơ sở quan trọng tạo lập nền tảng triển khai sàn/sở giao dịch vàng tại Việt Nam. Bên cạnh đó, tại Việt Nam, khuôn khổ pháp lý và sự phát triển của môi trường đầu tư tài chính hiện đại như sandbox - cơ chế thử nghiệm, mô hình trung tâm tài chính khu vực và quốc tế, sàn giao dịch tài sản mã hóa, hay mô hình sở giao dịch hàng hóa… tạo điều kiện để thử nghiệm mô hình sàn/sở giao dịch vàng trong phạm vi hợp lý, giúp cơ quan quản lý lường trước được các rủi ro có thể có khi thành lập sàn giao dịch vàng. Ngoài ra, sự phát triển của hệ thống ngân hàng về số lượng và chất lượng dịch vụ có thể đáp ứng các điều kiện về tổ chức, vận hành các sàn giao dịch như tài sản mã hóa, vàng, bảo đảm công nghệ hiện đại.

Tuy nhiên, theo Cục Quản lý ngoại hối (NHNN), việc triển khai thành lập Sàn giao dịch vàng tại Việt Nam cũng đặt ra nhiều thách thức.

Trước hết, kinh doanh vàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư. Do đó hoạt động sàn giao dịch vàng cần phải được thực hiện trên nguyên tắc thận trọng, có lộ trình phù hợp với thực tiễn, an toàn, minh bạch, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên tham gia giao dịch trên sàn. Hơn nữa, Việt Nam không phải là nước khai thác vàng. Từ năm 2014 đến trước năm 2024, để góp phần thực hiện các mục tiêu điều hành tỉ giá, tích lũy dự trữ ngoại hối nhà nước, NHNN không thực hiện nhập khẩu vàng và chưa cấp phép cho doanh nghiệp nhập khẩu vàng. Nguồn cung vàng trong nước đã được bổ sung trong các năm 2014 và 2024 qua các đợt NHNN thực hiện can thiệp vàng miếng với khối lượng không lớn và không thường xuyên.

Chưa kể, bài học trong quá khứ, giai đoạn 2006 - 2010, ở trong nước, các sàn giao dịch vàng tự phát sử dụng đòn bẩy tài chính tạo rủi ro và nguy cơ rất lớn cho thị trường vàng nói riêng, thị trường tài chính nói chung, đặc biệt khi giá vàng biến động mạnh.

Vàng là mặt hàng có giá trị lớn, đòi hỏi có hệ thống kho lưu trữ vàng vật chất đảm bảo an ninh, an toàn tài sản, thậm chí yêu cầu cao hơn so với việc nắm giữ tiền mặt, giấy tờ có giá; đồng thời có trách nhiệm, trung thực trong việc lưu trữ, báo cáo giao dịch vàng. Trong khi đó, Việt Nam chưa có hệ thống kho lưu trữ vàng tập trung, trung tâm kiểm định vàng chuyên biệt.

Với những thuận lợi và thách thức nói trên, trước mắt, giao dịch vàng trên sàn vàng trong nước chỉ nên là giao dịch vàng vật chất.

Tại Tọa đàm về thành lập sàn giao dịch vàng, ông Đào Xuân Tuấn - Cục trưởng Cục Quản lý ngoại hối (NHNN) chia sẻ: Bước đầu là sàn giao dịch vàng vật chất, trở thành kênh phân phối vàng nguyên liệu nhập khẩu đủ tiêu chuẩn, bảo đảm công khai, minh bạch, từ đó tạo niềm tin đối với các thành viên giao dịch trên sàn, đồng thời thực hiện triển khai hiệu quả Nghị định 232. Tiếp đó, từng bước theo lộ trình triển khai các sản phẩm vàng tài khoản, phái sinh. Sau đó trở thành kênh huy động nguồn lực vàng trong dân, giảm tích trữ vàng để chuyển hóa thành nguồn lực đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, giúp ổn định kinh tế vĩ mô; đồng thời, nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi để người dân mang vàng ra bán trên thị trường.

Về lộ trình thí điểm, lãnh đạo Cục Quản lý ngoại hối cho biết, triển khai thí điểm sàn giao dịch vàng tại Việt Nam với 3 giai đoạn. Trước mắt, cần xây dựng dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về triển khai thí điểm sàn giao dịch vàng tại Việt Nam đối với giai đoạn 1 trong thời gian khoảng hai năm. Lộ trình và các nội dung chi tiết trong từng giai đoạn có thể được điều chỉnh tùy thuộc vào tình hình triển khai thực tế của sàn giao dịch vàng. Trong thời gian thí điểm chưa thực hiện liên thông sàn giao dịch vàng trong nước với các sàn giao dịch vàng quốc tế.

Bảo đảm các yếu tố hạ tầng kỹ thuật, cơ chế vận hành, quản lý, giám sát

Trong tương lai, để có thể thành lập sàn giao dịch vàng chính thức cần hội tụ nhiều yếu tố cả về công nghệ, kết nối hệ thống dữ liệu, cơ chế vận hành, quản lý, giám sát đảm bảo an toàn, minh bạch, hiệu quả.

Trước hết, về hạ tầng công nghệ đòi hỏi hiện đại, an toàn và minh bạch: Việt Nam cần xây dựng hệ thống giao dịch điện tử có khả năng xử lý khối lượng lớn lệnh trong thời gian thực, tương tự các sàn chứng khoán; ứng dụng công nghệ Blockchain để đảm bảo tính xác thực, truy xuất nguồn gốc và phòng chống gian lận; sử dụng mã hóa dữ liệu, xác thực đa lớp và chữ ký số để bảo đảm an toàn giao dịch.

Với hệ thống thanh toán và lưu ký: Cần kết nối trực tiếp với hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng. Tiến tới thiết lập Trung tâm lưu ký vàng để quản lý, lưu trữ, và chuyển quyền sở hữu vàng theo mô hình phi vật chất hóa.

Cần có sự kết nối hạ tầng tài chính - ngân hàng, bảo đảm sự liên thông với NHTM, công ty, doanh nghiệp được cấp phép để làm thành viên của sàn. Ứng dụng API mở (Open API) để tích hợp dữ liệu thị trường, báo giá và thanh toán.

Thứ hai, về cơ chế vận hành: Sàn giao dịch vàng cần do Nhà nước quản lý, không phải của một doanh nghiệp hay tổ chức tín dụng nào. Mô hình sàn vàng quốc gia tại Việt Nam cũng hoạt động tương tự sàn chứng khoán. NHTM và doanh nghiệp vàng sẽ là thành viên của sàn, đóng vai trò trung gian thực hiện lệnh mua - bán cho nhà đầu tư cá nhân. Về lâu dài, sàn vàng quốc gia cần kết nối với các sàn vàng quốc tế để xử lý tình huống dư mua, dư bán vàng phi vật chất, cũng như bảo đảm nhập khẩu vàng khi cần giao hàng vật chất.

Về sản phẩm giao dịch, ngoài vàng vật chất theo quy định của NHNN, còn có chứng chỉ vàng điện tử (E-gold certificate); tiến tới hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai vàng trong giai đoạn phát triển sau. Việc giao dịch được niêm yết công khai, giá tham chiếu theo thị trường quốc tế (London Bullion Market, COMEX) và cung - cầu trong nước.

Để phòng ngừa rủi ro, cần quy định về cơ chế ký quỹ bắt buộc để hạn chế đầu cơ. Hệ thống tự động ngắt giao dịch khi biến động giá vượt ngưỡng. Việc xây dựng và duy trì quỹ bảo đảm thanh toán và quỹ dự phòng rủi ro là cần thiết.

Thứ ba, về cơ chế quản lý nhà nước: Cơ quan quản lý là Ngân hàng Trung ương cần quy định rõ về cơ chế cấp phép, tiêu chuẩn hoạt động, trách nhiệm của thành viên sàn, nhà đầu tư, quy trình giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm. Tất cả giao dịch phải thông qua tài khoản ngân hàng được định danh. Vàng vật chất lưu trữ tập trung tại Kho quốc gia hoặc đơn vị lưu ký được ủy quyền. Các thông tin về giá, khối lượng giao dịch được công khai, đồng thời giao dịch theo thời gian thực (các giao dịch được thực hiện và hoàn thành gần như ngay lập tức trên thị trường, với người mua và người bán đạt thỏa thuận và hoàn thành việc trao đổi cùng lúc). Phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Bộ Tài chính để bảo đảm tính minh bạch.

Thứ tư, về giám sát và an ninh: Cần xây dựng hệ thống giám sát giao dịch thời gian thực; ứng dụng AI và phân tích dữ liệu lớn (Big Data) để phát hiện giao dịch bất thường, thao túng giá, hoặc rửa tiền. Yêu cầu các thành viên báo cáo định kỳ về tình hình giao dịch, tồn kho, ký quỹ và thanh toán, thực hiện kiểm toán hệ thống công nghệ và tài chính hằng năm.

Thứ năm, NHNN cần tăng cường kết nối và trao đổi thông tin, học hỏi kinh nghiệm quốc tế trong việc thành lập và vận hành sàn giao dịch vàng; đồng thời, phối hợp các bộ, ngành liên quan trong việc cấp phép, vận hành, giám sát, xử lý vi phạm.

Thứ sáu, về phía các doanh nghiệp, NHTM: Kinh doanh vàng phải đáp ứng các điều kiện khi tham gia sàn giao dịch vàng, bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động xuất nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng; xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất và giao dịch mua, bán vàng; tuân thủ các quy định về phòng, chống rửa tiền cũng như các quy định pháp luật liên quan.

Tài liệu tham khảo:

1. Nghị định số 232/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng.

2. Thông tư số 34/2025/TT-NHNN ngày 09/10/2025 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 232/2025/NĐ-CP.

3. Trang Hội đồng Vàng Thế giới (World Gold Council), https://www.gold.org/goldhub/data/gold-trading-volumes

Linh Anh
NHNN

Tin bài khác

Phát triển sàn giao dịch các-bon: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho hệ thống ngân hàng Việt Nam

Phát triển sàn giao dịch các-bon: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho hệ thống ngân hàng Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, làm rõ cơ hội và thách thức trong quá trình hình thành, vận hành sàn giao dịch các-bon tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng trong tham gia thanh toán, quản lý dòng tiền, hỗ trợ doanh nghiệp và phát triển các sản phẩm tài chính gắn với các-bon.
Phát triển thị trường công cụ phái sinh: Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và đề xuất cho Việt Nam

Phát triển thị trường công cụ phái sinh: Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và đề xuất cho Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế ngày càng sâu rộng, thị trường công cụ phái sinh đang từng bước khẳng định vai trò then chốt trong việc quản trị rủi ro, đồng thời nâng cao hiệu quả phân bổ dòng vốn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững.
Huy động nguồn lực tư nhân cho đầu tư xanh: Thực tiễn triển khai và hàm ý chính sách

Huy động nguồn lực tư nhân cho đầu tư xanh: Thực tiễn triển khai và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích khung pháp lý, thực trạng các kênh huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khó khăn, thách thức và đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường thu hút nguồn lực tư nhân phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh.
Kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: Vai trò dẫn dắt của ngành Ngân hàng

Kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: Vai trò dẫn dắt của ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ nhu cầu vốn rất lớn của khu vực kinh tế tư nhân giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời phân tích vai trò trung tâm của hệ thống ngân hàng, dưới sự điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong dẫn vốn, ổn định vĩ mô và đồng hành chiến lược với phát triển bền vững của kinh tế tư nhân.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Thị trường tài chính toàn cầu: Một số thách thức và triển vọng

Thị trường tài chính toàn cầu: Một số thách thức và triển vọng

Bài viết phân tích những thách thức lớn của thị trường tài chính toàn cầu năm 2025, từ gánh nặng nợ công gia tăng, khủng hoảng bất động sản tại các nền kinh tế chủ chốt đến rủi ro địa chính trị và an ninh tài chính, đồng thời đánh giá triển vọng và hàm ý chính sách trong bối cảnh mới.
Phân mảnh kinh tế toàn cầu: Hàm ý đối với Việt Nam khi hướng đến thịnh vượng và Net-Zero

Phân mảnh kinh tế toàn cầu: Hàm ý đối với Việt Nam khi hướng đến thịnh vượng và Net-Zero

Bài viết phân tích tác động của phân mảnh kinh tế toàn cầu đối với Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu nâng cấp ngoại thương theo hướng xanh và bền vững, hiện đại hóa hệ thống ngân hàng như hạ tầng chiến lược và đặt phát triển con người ở vị trí lõi để vừa củng cố năng lực cạnh tranh, vừa hiện thực hóa mục tiêu Net-Zero vào năm 2050.
Dấu ấn thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2025 và giải pháp trọng tâm năm 2026

Dấu ấn thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2025 và giải pháp trọng tâm năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2025 với dấu ấn phục hồi mạnh mẽ, cải thiện chất lượng thể chế và bước tiến nâng hạng, đồng thời phân tích bối cảnh, cơ hội, thách thức và các giải pháp trọng tâm nhằm hướng tới giai đoạn phát triển minh bạch, bền vững và hội nhập sâu hơn trong năm 2026.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành