Hệ thống Ngân hàng Khu vực 14: Khơi thông vốn tín dụng phát triển kinh tế địa phương

Hoạt động ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực 14 gồm thành phố Cần Thơ và các tỉnh: Hậu Giang, Sóc Trăng, Vĩnh Long và Bạc Liêu, đây là địa bàn với tiềm năng và thế mạnh kinh tế là trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
aa
Hệ thống Ngân hàng Khu vực 14: Khơi thông vốn tín dụng phát triển kinh tế địa phương
Cánh đồng điện gió tỉnh Bạc Liêu (Ảnh: Trần Trọng Triết)

Nỗ lực duy trì tăng trưởng trong khu vực

Trên địa bàn khu vực, Thành phố Cần Thơ có lợi thế nhiều khu công nghiệp chế xuất tập trung phát triển công nghiệp chế tạo chế biến. 5 tháng đầu năm 2025, hoạt động kinh tế của thành phố Cần Thơ tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng, nhiều chỉ tiêu kinh tế tăng so với cùng kỳ năm trước. Trên tinh thần khẩn trương quyết liệt với nỗ lực cao, thành phố linh hoạt triển khai hiệu quả các giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế... Cụ thể, so với cùng kỳ năm 2024, chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm 2025 tăng 6,06%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 60.174 tỉ đồng, tăng 13,66%; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt hơn 1 tỉ USD, tăng 10,7%; hoạt động du lịch tiếp tục phát triển ổn định, tổng số khách tham quan, du lịch hơn 3,16 triệu lượt, tăng 13%, với doanh thu đạt 3.131 tỉ đồng, tăng 20,5%. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển ổn định, sản lượng thủy sản thu hoạch tăng so với cùng kỳ. Ðến ngày 31/5/2025, tổng thu ngân sách trên địa bàn thành phố là 6.032 tỉ đồng, đạt 48,79% dự toán, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm 2024.

Còn tỉnh Hậu Giang có 317 dự án đầu tư, với tổng mức đầu tư hơn 191.500 tỉ đồng. Trong đó, có 251 dự án ngoài khu, cụm công nghiệp, 63 dự án trong khu công nghiệp và 3 dự án trong Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Hậu Giang.

Trong 5 tháng đầu năm 2025, Hậu Giang không cấp mới dự án FDI, hiện đang có 24 dự án FDI (trong khu công nghiệp là 5 dự án, ngoài khu công nghiệp 19 dự án), với tổng số vốn đăng ký hơn 610 triệu USD; có 479 hồ sơ doanh nghiệp đăng ký mới với tổng số vốn 2.020 tỉ đồng, lũy kế đến nay có 4.837 doanh nghiệp hoạt động, với tổng vốn hơn 74.400 tỉ đồng; về hộ kinh doanh có 1.055 hộ kinh doanh thành lập mới, với vốn đăng ký hơn 201 tỉ đồng, lũy kế đến nay có 56.344 hộ kinh doanh thành lập mới, tổng vốn đăng ký hơn 7.500 tỉ đồng.

Tại tỉnh Vĩnh Long, trong 5 tháng đầu năm 2025, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng 14,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,12%,...; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 475,4 triệu USD, tăng 6,86%, đạt 43,22% kế hoạch; giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp đạt trên 11.475 tỉ đồng và tăng 48,53%; xuất khẩu trên 370 triệu USD, tăng 38,46% và đạt 47,44% so với kế hoạch năm 2025.

Đối với tỉnh Sóc Trăng, thế mạnh của tỉnh là phát triển các giống lúa chất lượng cao, lúa đặc sản, cao sản nhằm nâng cao thu nhập cho người dân trên địa bàn tỉnh. Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất và cơ cấu mùa vụ phù hợp để thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao năng suất, chất lượng lúa, thì công tác liên kết tiêu thụ lúa rất được chú trọng, bởi việc liên kết nhằm tạo đầu ra ổn định cho nông dân trồng lúa. Để đạt sản lượng lúa chất lượng cao chiếm hơn 90%, ngành nông nghiệp tỉnh đã triển khai thực hiện Đề án Phát triển sản xuất lúa đặc sản, Đề án Nông nghiệp hữu cơ và Đề án Phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh. Diện tích sản xuất lúa theo đề án này đến nay đạt gần 5.000 ha. Các sản phẩm gạo đặc sản của tỉnh thường có mặt trong các cuộc triển lãm, hội chợ trong nước và ngoài nước, đặc biệt tỉnh có sản phẩm gạo ST rất được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng, trong đó có gạo ST25 đạt giải gạo ngon nhất thế giới trong nhiều năm, càng khẳng định chất lượng của lúa ST trên vùng đất Sóc Trăng. Chính nhờ sản phẩm lúa ST và các giống lúa chất lượng cao của tỉnh mà đã có 20 doanh nghiệp, công ty trong, ngoài tỉnh tìm đến liên kết tiêu thụ lúa sau thu hoạch, với diện tích lúa được liên kết bao tiêu đầu ra hằng năm gần 70.000 ha, giá liên kết thu mua cao hơn so với bên ngoài thị trường từ 100 - 500 đồng/kg. Đồng thời, tỉnh cũng có lợi thế là có 3 doanh nghiệp chế biến lúa gạo xuất khẩu với quy mô 20.000 tấn/năm; có 19 nhà máy, cơ sở xay xát chế biến lúa gạo, tổng sản lượng sơ chế 50.000 tấn/năm. Các doanh nghiệp và nhà máy nêu trên cũng đã góp phần tiêu thụ tốt số lượng lúa sau thu hoạch của bà con nông dân toàn tỉnh.

Bên cạnh đó, tỉnh Bạc Liêu tập trung đẩy mạnh các chương trình xúc tiến thương mại và kích cầu tiêu dùng nên thị trường bán lẻ hàng hóa cùng xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng so với cùng kỳ. Tính đến tháng 5/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt hơn 35.668 tỉ đồng, tăng 10,35% so với cùng kỳ.

Riêng hoạt động xuất khẩu hàng hóa tiếp tục tăng khá và chủ yếu vẫn tập trung vào mặt hàng chủ lực là chế biến thủy sản. Trong tháng 5/2025, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 91 triệu USD, nâng tổng kim ngạch trong 5 tháng đạt trên 402 triệu USD, tăng 6,85% so với cùng kỳ.

Tình hình kinh tế - xã hội của các địa phương trên địa bàn đạt được kết quả tăng trưởng trên cũng có phần đóng góp của ngành Ngân hàng Khu vực 14 trong việc khơi thông tín dụng “tiếp sức” vốn vay cho các thành phần kinh tế tại địa phương.

Mở rộng cơ hội tiếp cận tín dụng ngân hàng

Xác định tín dụng ngân hàng là một trong những “đòn bẩy” quan trọng giúp doanh nghiệp và người dân cải thiện đời sống và phát triển kinh tế, sau khi ổn định cơ cấu tổ chức, NHNN Chi nhánh Khu vực 14 đã tập trung chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn chú trọng mở rộng mạng lưới đến các vùng sâu, vùng xa để người dân và doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn vay của ngân hàng không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, mà còn thể hiện tinh thần đồng hành, sẻ chia với cộng đồng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tài chính toàn diện mà Chính phủ đang hướng tới.

Kết quả thực hiện tăng trưởng tín dụng của các TCTD Khu vực 14 đến cuối tháng 5/2025, tổng dư nợ cho vay của khu vực đạt 403.850 tỉ đồng, tăng 4,7% so với cuối năm 2024. Trong đó, dư nợ cho vay ngành nông, lâm, thủy sản đạt 42.700 tỉ đồng, chiếm 10,57% tổng dư nợ; dư nợ cho vay ngành công nghiệp và xây dựng 83.600 tỉ đồng, chiếm 20,7%; dư nợ cho vay ngành thương mại - dịch vụ 277.550 tỉ đồng, chiếm 68,73%.

Riêng nguồn vốn huy động của các TCTD Khu vực 14 đến cuối tháng 5/2025 đạt 298.553 tỉ đồng, tăng 1% so với cuối năm 2024 và đáp ứng được 73,93% tổng dư nợ cho vay.

Điểm đáng chú ý, là hầu hết dư nợ cho vay các lĩnh vực ưu tiên tại Khu vực 14 đều tăng so với cuối năm 2024. Cụ thể, đến cuối tháng 5/2025, dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 175.055 tỉ đồng, tăng 11,45% so với cuối năm 2024; dư nợ cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 71.800 tỉ đồng, tăng 4,2%; cho vay xuất khẩu dư nợ đạt 33.267 tỉ đồng, tăng 18,9%; cho vay công nghiệp hỗ trợ 1.600 tỉ đồng, tăng gần 114,5%; cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 172 tỉ đồng, tăng 1,55% so với cuối năm 2024.

Bên cạnh đó, các TCTD Khu vực 14 còn chú trọng triển khai cho vay các chương trình tín dụng khác, với dư nợ tăng khá. Đơn cử như chương trình tín dụng đối với lĩnh vực thủy sản, dư nợ đến cuối tháng 5/2025 đạt 36.300 tỉ đồng, tăng 6,1% so với cuối năm 2024; chương trình tín dụng đối với lúa, gạo dư nợ cho vay 35.900 tỉ đồng, tăng 7,19%; dư nợ tín dụng rau quả đạt 11.500 tỉ đồng, tăng 7,11% so với cuối năm 2024.

Đặc biệt, các TCTD đều chú trọng cho vay lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN; tập trung cho vay các lĩnh vực thế mạnh của khu vực là nông, thủy sản, xuất khẩu lúa gạo… Đồng thời, thực hiện tốt các giải pháp huy động vốn và mở rộng tín dụng đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, người dân tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh.

Hiện nay tại Khu vực 14 có hơn 1,07 triệu khách hàng còn dư nợ tín dụng. Mặt bằng lãi suất cho vay và huy động tiếp tục giữ ổn định. Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa đối với các lĩnh vực ưu tiên là 4%/năm; trung dài hạn từ 7% - 10%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến đối với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường phổ biến đối với ngắn hạn từ 6,5% - 10%/năm; trung, dài hạn từ 8,5% - 10,5%/năm. Lãi suất cho vay USD phổ biến ngắn hạn 4,5% - 5,8%/năm.

Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN, từ đầu năm đến nay, NHNN Chi nhánh Khu vực 14 đã chỉ đạo các TCTD tiếp tục hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Trung ương. Các TCTD tiếp tục kiểm soát chặt chẽ tín dụng các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng. Song song đó triển khai hiệu quả Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng khu vực đạt mục tiêu đề ra, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế các địa phương.

Thực hiện Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản với 100.000 tỉ đồng với lãi suất ưu đãi, ngày 15/4/2025, NHNN đã có Công văn số 2756/NHNN-TD đề nghị các ngân hàng thương mại triển khai cho đến khi doanh số cho vay đạt mức chỉ đạo của Chính phủ. Tại Khu vực 14, đến cuối tháng 5/2025 dư nợ cho vay Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản đạt 2.798 tỉ đồng, chiếm 0,69% tổng dư nợ; Chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ của Chính phủ, trên địa bàn Khu vực 14 hiện có 3 dự án nhà ở xã hội đã được UBND tỉnh/thành phố công bố đủ điều kiện vay vốn ưu đãi; các TCTD triển khai Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL.

Tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, tạo động lực tăng trưởng kinh tế

Định hướng nhiệm vụ thời gian từ nay đến cuối năm 2025, NHNN Chi nhánh Khu vực 14 tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục thực hiện hiệu quả theo Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 08/01/2025 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2025 và Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 20/01/2025 của Thống đốc NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2025.

Hai là, tập trung thực hiện tốt các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng năm 2025, góp phần ưu tiên thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng kinh tế, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối của nền kinh tế. Về định hướng chung là phấn đấu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 16% trong năm 2025, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.

Ba là, tiếp tục chỉ đạo các TCTD phải phấn đấu chung là đạt được mục tiêu đề ra. Qua đó góp phần hỗ trợ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Chính phủ là phải đảm bảo tăng trưởng 8% trong năm 2025. Trong đó, tín dụng là một trong những kênh có thể hỗ trợ tăng trưởng tốt nhất.

Bốn là, tiếp tục thực hiện đề án xử lý nợ xấu và củng cố TCTD. Các TCTD phải chủ động xây dựng kế hoạch cụ thể để kiểm soát, xử lý nợ xấu, đảm bảo hoạt động an toàn và tăng trưởng tín dụng, nhưng đồng thời kiểm soát được nợ xấu và đảm bảo cho dòng vốn luân chuyển bớt rủi ro hơn.

Năm là, cần nâng cao ý thức đạo đức công vụ đối với công chức, người lao động trong ngành Ngân hàng, cán bộ tín dụng, làm sao để hỗ trợ tốt nhất cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các TCTD trên địa bàn Khu vực 14 cần tiếp tục chú trọng ứng dụng công nghệ nhằm hạn chế rủi ro trên không gian mạng và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận các dịch vụ tài chính một cách thuận tiện nhất. Các TCTD Khu vực 14 luôn xác định chuyển đổi số ngành Ngân hàng là mục tiêu hàng đầu trong những năm qua cũng như hiện nay và trong tương lai. Vì thế, các ngân hàng thương mại cần chú trọng vào đào tạo nhân sự và xây dựng các chương trình chuyển đổi số sao cho hoạt động này diễn ra an ninh, an toàn, nhanh chóng và hiệu quả.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ tháng 5 và triển khai nhiệm vụ tháng 6 năm 2025 của NHNN Chi nhánh Khu vực 14.

2. Báo cáo tóm tắt tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng năm 2025 của UBND thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng và Bạc Liêu.

ThS. Trần Trọng Triết

Tin bài khác

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết tổng hợp bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm sau một thập kỷ triển khai Basel III, cho thấy tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản đã góp phần tăng cường chống chịu thanh khoản cho ngân hàng, song cũng đặt ra các đánh đổi về thu hẹp tín dụng, hành vi chấp nhận rủi ro và yêu cầu điều chỉnh linh hoạt trong thiết kế, giám sát và phối hợp chính sách ngân hàng trung ương.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Năm 2025, bám sát đường lối, chủ trương hội nhập quốc tế mới của Đảng và Chính phủ, với cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và mềm dẻo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thúc đẩy hiệu quả, toàn diện các kênh đối ngoại và hội nhập quốc tế trên cả bình diện đa phương, song phương cũng như trong hợp tác với các tổ chức tài chính, tiền tệ, ngân hàng quốc tế.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Bài viết phân tích yêu cầu đột phá phát triển nguồn nhân lực số của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới, làm rõ những bước đi chiến lược về thể chế, đào tạo và làm chủ công nghệ nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện và phát triển bền vững.
Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh hoạt động ngân hàng tại Khu vực 2 năm 2025 trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, làm rõ những kết quả nổi bật về tăng trưởng tín dụng, ổn định lãi suất, cải cách hành chính và chuyển đổi số, đồng thời định hướng vai trò đồng hành của hệ thống ngân hàng với các động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Năm 2025, trong bối cảnh toàn ngành Ngân hàng tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam đã bám sát sự lãnh đạo của Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác; qua đó, tiếp tục khẳng định vai trò là chỗ dựa tin cậy của đoàn viên, người lao động, đồng thời lan tỏa mạnh mẽ trách nhiệm xã hội của Ngành.
Hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân: Cơ hội và triển vọng phát triển

Hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân: Cơ hội và triển vọng phát triển

Trong thời gian qua, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) đã cơ bản duy trì hoạt động ổn định, an toàn, phát huy tốt vai trò là kênh cung ứng vốn hiệu quả cho khu vực kinh tế hộ gia đình, cá nhân và sản xuất - kinh doanh quy mô nhỏ tại địa phương. Thông qua việc bám sát địa bàn, phục vụ linh hoạt và lấy thành viên làm trung tâm, QTDND đã góp phần tích cực hỗ trợ phát triển kinh tế cơ sở, thúc đẩy tài chính toàn diện và ổn định an sinh xã hội địa phương.
Xem thêm
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích khoảng trống pháp lý đối với dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam, đồng thời đề xuất khung pháp lý nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ khách hàng và tạo nền tảng cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài sản số.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Bài viết phân tích những giải pháp điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong năm 2025 nhằm ưu tiên nguồn vốn cho nông nghiệp, nông thôn, qua đó củng cố vai trò trụ đỡ của khu vực này đối với tăng trưởng kinh tế, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng