Hệ thống Ngân hàng Khu vực 14: Khơi thông vốn tín dụng phát triển kinh tế địa phương

Hoạt động ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực 14 gồm thành phố Cần Thơ và các tỉnh: Hậu Giang, Sóc Trăng, Vĩnh Long và Bạc Liêu, đây là địa bàn với tiềm năng và thế mạnh kinh tế là trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
aa
Hệ thống Ngân hàng Khu vực 14: Khơi thông vốn tín dụng phát triển kinh tế địa phương
Cánh đồng điện gió tỉnh Bạc Liêu (Ảnh: Trần Trọng Triết)

Nỗ lực duy trì tăng trưởng trong khu vực

Trên địa bàn khu vực, Thành phố Cần Thơ có lợi thế nhiều khu công nghiệp chế xuất tập trung phát triển công nghiệp chế tạo chế biến. 5 tháng đầu năm 2025, hoạt động kinh tế của thành phố Cần Thơ tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng, nhiều chỉ tiêu kinh tế tăng so với cùng kỳ năm trước. Trên tinh thần khẩn trương quyết liệt với nỗ lực cao, thành phố linh hoạt triển khai hiệu quả các giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế... Cụ thể, so với cùng kỳ năm 2024, chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm 2025 tăng 6,06%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 60.174 tỉ đồng, tăng 13,66%; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt hơn 1 tỉ USD, tăng 10,7%; hoạt động du lịch tiếp tục phát triển ổn định, tổng số khách tham quan, du lịch hơn 3,16 triệu lượt, tăng 13%, với doanh thu đạt 3.131 tỉ đồng, tăng 20,5%. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển ổn định, sản lượng thủy sản thu hoạch tăng so với cùng kỳ. Ðến ngày 31/5/2025, tổng thu ngân sách trên địa bàn thành phố là 6.032 tỉ đồng, đạt 48,79% dự toán, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm 2024.

Còn tỉnh Hậu Giang có 317 dự án đầu tư, với tổng mức đầu tư hơn 191.500 tỉ đồng. Trong đó, có 251 dự án ngoài khu, cụm công nghiệp, 63 dự án trong khu công nghiệp và 3 dự án trong Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Hậu Giang.

Trong 5 tháng đầu năm 2025, Hậu Giang không cấp mới dự án FDI, hiện đang có 24 dự án FDI (trong khu công nghiệp là 5 dự án, ngoài khu công nghiệp 19 dự án), với tổng số vốn đăng ký hơn 610 triệu USD; có 479 hồ sơ doanh nghiệp đăng ký mới với tổng số vốn 2.020 tỉ đồng, lũy kế đến nay có 4.837 doanh nghiệp hoạt động, với tổng vốn hơn 74.400 tỉ đồng; về hộ kinh doanh có 1.055 hộ kinh doanh thành lập mới, với vốn đăng ký hơn 201 tỉ đồng, lũy kế đến nay có 56.344 hộ kinh doanh thành lập mới, tổng vốn đăng ký hơn 7.500 tỉ đồng.

Tại tỉnh Vĩnh Long, trong 5 tháng đầu năm 2025, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng 14,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,12%,...; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 475,4 triệu USD, tăng 6,86%, đạt 43,22% kế hoạch; giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp đạt trên 11.475 tỉ đồng và tăng 48,53%; xuất khẩu trên 370 triệu USD, tăng 38,46% và đạt 47,44% so với kế hoạch năm 2025.

Đối với tỉnh Sóc Trăng, thế mạnh của tỉnh là phát triển các giống lúa chất lượng cao, lúa đặc sản, cao sản nhằm nâng cao thu nhập cho người dân trên địa bàn tỉnh. Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất và cơ cấu mùa vụ phù hợp để thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao năng suất, chất lượng lúa, thì công tác liên kết tiêu thụ lúa rất được chú trọng, bởi việc liên kết nhằm tạo đầu ra ổn định cho nông dân trồng lúa. Để đạt sản lượng lúa chất lượng cao chiếm hơn 90%, ngành nông nghiệp tỉnh đã triển khai thực hiện Đề án Phát triển sản xuất lúa đặc sản, Đề án Nông nghiệp hữu cơ và Đề án Phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh. Diện tích sản xuất lúa theo đề án này đến nay đạt gần 5.000 ha. Các sản phẩm gạo đặc sản của tỉnh thường có mặt trong các cuộc triển lãm, hội chợ trong nước và ngoài nước, đặc biệt tỉnh có sản phẩm gạo ST rất được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng, trong đó có gạo ST25 đạt giải gạo ngon nhất thế giới trong nhiều năm, càng khẳng định chất lượng của lúa ST trên vùng đất Sóc Trăng. Chính nhờ sản phẩm lúa ST và các giống lúa chất lượng cao của tỉnh mà đã có 20 doanh nghiệp, công ty trong, ngoài tỉnh tìm đến liên kết tiêu thụ lúa sau thu hoạch, với diện tích lúa được liên kết bao tiêu đầu ra hằng năm gần 70.000 ha, giá liên kết thu mua cao hơn so với bên ngoài thị trường từ 100 - 500 đồng/kg. Đồng thời, tỉnh cũng có lợi thế là có 3 doanh nghiệp chế biến lúa gạo xuất khẩu với quy mô 20.000 tấn/năm; có 19 nhà máy, cơ sở xay xát chế biến lúa gạo, tổng sản lượng sơ chế 50.000 tấn/năm. Các doanh nghiệp và nhà máy nêu trên cũng đã góp phần tiêu thụ tốt số lượng lúa sau thu hoạch của bà con nông dân toàn tỉnh.

Bên cạnh đó, tỉnh Bạc Liêu tập trung đẩy mạnh các chương trình xúc tiến thương mại và kích cầu tiêu dùng nên thị trường bán lẻ hàng hóa cùng xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng so với cùng kỳ. Tính đến tháng 5/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt hơn 35.668 tỉ đồng, tăng 10,35% so với cùng kỳ.

Riêng hoạt động xuất khẩu hàng hóa tiếp tục tăng khá và chủ yếu vẫn tập trung vào mặt hàng chủ lực là chế biến thủy sản. Trong tháng 5/2025, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 91 triệu USD, nâng tổng kim ngạch trong 5 tháng đạt trên 402 triệu USD, tăng 6,85% so với cùng kỳ.

Tình hình kinh tế - xã hội của các địa phương trên địa bàn đạt được kết quả tăng trưởng trên cũng có phần đóng góp của ngành Ngân hàng Khu vực 14 trong việc khơi thông tín dụng “tiếp sức” vốn vay cho các thành phần kinh tế tại địa phương.

Mở rộng cơ hội tiếp cận tín dụng ngân hàng

Xác định tín dụng ngân hàng là một trong những “đòn bẩy” quan trọng giúp doanh nghiệp và người dân cải thiện đời sống và phát triển kinh tế, sau khi ổn định cơ cấu tổ chức, NHNN Chi nhánh Khu vực 14 đã tập trung chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn chú trọng mở rộng mạng lưới đến các vùng sâu, vùng xa để người dân và doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn vay của ngân hàng không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, mà còn thể hiện tinh thần đồng hành, sẻ chia với cộng đồng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tài chính toàn diện mà Chính phủ đang hướng tới.

Kết quả thực hiện tăng trưởng tín dụng của các TCTD Khu vực 14 đến cuối tháng 5/2025, tổng dư nợ cho vay của khu vực đạt 403.850 tỉ đồng, tăng 4,7% so với cuối năm 2024. Trong đó, dư nợ cho vay ngành nông, lâm, thủy sản đạt 42.700 tỉ đồng, chiếm 10,57% tổng dư nợ; dư nợ cho vay ngành công nghiệp và xây dựng 83.600 tỉ đồng, chiếm 20,7%; dư nợ cho vay ngành thương mại - dịch vụ 277.550 tỉ đồng, chiếm 68,73%.

Riêng nguồn vốn huy động của các TCTD Khu vực 14 đến cuối tháng 5/2025 đạt 298.553 tỉ đồng, tăng 1% so với cuối năm 2024 và đáp ứng được 73,93% tổng dư nợ cho vay.

Điểm đáng chú ý, là hầu hết dư nợ cho vay các lĩnh vực ưu tiên tại Khu vực 14 đều tăng so với cuối năm 2024. Cụ thể, đến cuối tháng 5/2025, dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 175.055 tỉ đồng, tăng 11,45% so với cuối năm 2024; dư nợ cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 71.800 tỉ đồng, tăng 4,2%; cho vay xuất khẩu dư nợ đạt 33.267 tỉ đồng, tăng 18,9%; cho vay công nghiệp hỗ trợ 1.600 tỉ đồng, tăng gần 114,5%; cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 172 tỉ đồng, tăng 1,55% so với cuối năm 2024.

Bên cạnh đó, các TCTD Khu vực 14 còn chú trọng triển khai cho vay các chương trình tín dụng khác, với dư nợ tăng khá. Đơn cử như chương trình tín dụng đối với lĩnh vực thủy sản, dư nợ đến cuối tháng 5/2025 đạt 36.300 tỉ đồng, tăng 6,1% so với cuối năm 2024; chương trình tín dụng đối với lúa, gạo dư nợ cho vay 35.900 tỉ đồng, tăng 7,19%; dư nợ tín dụng rau quả đạt 11.500 tỉ đồng, tăng 7,11% so với cuối năm 2024.

Đặc biệt, các TCTD đều chú trọng cho vay lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN; tập trung cho vay các lĩnh vực thế mạnh của khu vực là nông, thủy sản, xuất khẩu lúa gạo… Đồng thời, thực hiện tốt các giải pháp huy động vốn và mở rộng tín dụng đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, người dân tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh.

Hiện nay tại Khu vực 14 có hơn 1,07 triệu khách hàng còn dư nợ tín dụng. Mặt bằng lãi suất cho vay và huy động tiếp tục giữ ổn định. Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa đối với các lĩnh vực ưu tiên là 4%/năm; trung dài hạn từ 7% - 10%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến đối với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường phổ biến đối với ngắn hạn từ 6,5% - 10%/năm; trung, dài hạn từ 8,5% - 10,5%/năm. Lãi suất cho vay USD phổ biến ngắn hạn 4,5% - 5,8%/năm.

Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN, từ đầu năm đến nay, NHNN Chi nhánh Khu vực 14 đã chỉ đạo các TCTD tiếp tục hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Trung ương. Các TCTD tiếp tục kiểm soát chặt chẽ tín dụng các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng. Song song đó triển khai hiệu quả Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng khu vực đạt mục tiêu đề ra, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế các địa phương.

Thực hiện Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản với 100.000 tỉ đồng với lãi suất ưu đãi, ngày 15/4/2025, NHNN đã có Công văn số 2756/NHNN-TD đề nghị các ngân hàng thương mại triển khai cho đến khi doanh số cho vay đạt mức chỉ đạo của Chính phủ. Tại Khu vực 14, đến cuối tháng 5/2025 dư nợ cho vay Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản đạt 2.798 tỉ đồng, chiếm 0,69% tổng dư nợ; Chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ của Chính phủ, trên địa bàn Khu vực 14 hiện có 3 dự án nhà ở xã hội đã được UBND tỉnh/thành phố công bố đủ điều kiện vay vốn ưu đãi; các TCTD triển khai Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL.

Tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, tạo động lực tăng trưởng kinh tế

Định hướng nhiệm vụ thời gian từ nay đến cuối năm 2025, NHNN Chi nhánh Khu vực 14 tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục thực hiện hiệu quả theo Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 08/01/2025 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2025 và Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 20/01/2025 của Thống đốc NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2025.

Hai là, tập trung thực hiện tốt các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng năm 2025, góp phần ưu tiên thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng kinh tế, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối của nền kinh tế. Về định hướng chung là phấn đấu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 16% trong năm 2025, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.

Ba là, tiếp tục chỉ đạo các TCTD phải phấn đấu chung là đạt được mục tiêu đề ra. Qua đó góp phần hỗ trợ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Chính phủ là phải đảm bảo tăng trưởng 8% trong năm 2025. Trong đó, tín dụng là một trong những kênh có thể hỗ trợ tăng trưởng tốt nhất.

Bốn là, tiếp tục thực hiện đề án xử lý nợ xấu và củng cố TCTD. Các TCTD phải chủ động xây dựng kế hoạch cụ thể để kiểm soát, xử lý nợ xấu, đảm bảo hoạt động an toàn và tăng trưởng tín dụng, nhưng đồng thời kiểm soát được nợ xấu và đảm bảo cho dòng vốn luân chuyển bớt rủi ro hơn.

Năm là, cần nâng cao ý thức đạo đức công vụ đối với công chức, người lao động trong ngành Ngân hàng, cán bộ tín dụng, làm sao để hỗ trợ tốt nhất cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các TCTD trên địa bàn Khu vực 14 cần tiếp tục chú trọng ứng dụng công nghệ nhằm hạn chế rủi ro trên không gian mạng và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận các dịch vụ tài chính một cách thuận tiện nhất. Các TCTD Khu vực 14 luôn xác định chuyển đổi số ngành Ngân hàng là mục tiêu hàng đầu trong những năm qua cũng như hiện nay và trong tương lai. Vì thế, các ngân hàng thương mại cần chú trọng vào đào tạo nhân sự và xây dựng các chương trình chuyển đổi số sao cho hoạt động này diễn ra an ninh, an toàn, nhanh chóng và hiệu quả.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ tháng 5 và triển khai nhiệm vụ tháng 6 năm 2025 của NHNN Chi nhánh Khu vực 14.

2. Báo cáo tóm tắt tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng năm 2025 của UBND thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng và Bạc Liêu.

ThS. Trần Trọng Triết

Tin bài khác

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN). Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu lần đầu tiên nước ta có một ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sự ra đời này là kết quả của quá trình xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, mở ra bước phát triển mới về chất trong hoạt động tài chính - tiền tệ. Trải qua 75 năm xây dựng, củng cố và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế về giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro, qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chuyển đổi hiệu quả sang mô hình giám sát hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Chuyển đổi tư duy bảo vệ dữ liệu cá nhân: Xây văn hóa, củng cố niềm tin trong hoạt động ngân hàng

Chuyển đổi tư duy bảo vệ dữ liệu cá nhân: Xây văn hóa, củng cố niềm tin trong hoạt động ngân hàng

Sự hoàn thiện không ngừng của các quy định pháp lý đang giúp hệ thống ngân hàng định hình rõ nét chiến lược bảo vệ dữ liệu cá nhân, song cũng đặt ra không ít thách thức về quản lý sự thay đổi và nguồn lực triển khai. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) nhìn nhận đây là hành trình hoàn thiện công tác quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động ngân hàng. Hành trình này không chỉ dừng lại ở thay đổi các quy trình nghiệp vụ, mà sâu xa hơn, đây là quá trình nâng cao giá trị thương hiệu, mở ra cánh cửa để ngân hàng sẵn sàng trao đổi và chia sẻ dữ liệu trong hệ sinh thái mở.
Xem thêm
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành