Chuẩn hóa chi trả bảo hiểm tiền gửi tiên tiến, thúc đẩy bảo vệ kịp thời và đầy đủ hơn quyền lợi của người gửi tiền

Hoạt động ngân hàng
Vai trò quan trọng của công cụ bảo hiểm tiền gửi (BHTG) có thể được tóm tắt ở ba nội dung (1) bảo vệ tốt nhất quyền lợi người gửi tiền Vai trò quan trọng của công cụ bảo hiểm tiền gửi (BHTG) có thể...
aa

Vai trò quan trọng của công cụ bảo hiểm tiền gửi (BHTG) có thể được tóm tắt ở ba nội dung (1) bảo vệ tốt nhất quyền lợi người gửi tiền

Vai trò quan trọng của công cụ bảo hiểm tiền gửi (BHTG) có thể được tóm tắt ở ba nội dung (1) bảo vệ tốt nhất quyền lợi người gửi tiền, (2) góp phần kiểm soát rủi ro hoạt động ngân hàng, và (3) thúc đẩy huy động tối đa nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế. Đối với người gửi tiền, chi trả bảo hiểm tiền gửi là cách thức cho thấy mức độ bảo vệ trực tiếp và có tác động tức thì đối với tâm lý người gửi tiền khi ngân hàng có khó khăn và chấm dứt hoạt động. Nội dung chi trả BHTG được hoạch định bao gồm các khía cạnh: qui mô hạn mức chi trả, tính kịp thời và tiện lợi, cơ chế điều chỉnh hạn mức chi trả, và nguồn quĩ cho chi trả BHTG.



Hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi

Hạn mức chi trả BHTG được hiểu là giới hạn tối đa cho phép chi trả bảo hiểm cho tiền gửi khi ngân hàng nhận tiền gửi của họ đặt vào tình huống sự kiện BHTG. Qui mô tiền chi trả bảo hiểm càng cao, quyền lợi của người gửi tiền được bảo vệ càng cao và ngược lại. Mặc dầu vậy, mức độ chi trả tiền bảo hiểm có mối liên hệ trực tiếp với khả năng phát sinh rủi ro, đặc biệt là loại rủi ro có tên gọi “rủi ro đạo đức” (tham khảo Hình 1).
Có hai hình thức chi trả BHTG được áp dụng ở các hệ thống BHTG trên thế giới:
- Chi trả toàn bộ số tiền gửi (cùng lãi) thuộc đối tượng được bảo hiểm (chi trả không giới hạn);
- Chi trả tới một giới hạn nhất đinh (chi trả có giới hạn). Nếu số dư tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm thấp hơn hoặc bằng giới hạn đó thì người gửi tiền sẽ được hoàn trả toàn bộ tiền gửi của họ (bao gồm cả tiền lãi cộng dồn). Nếu số dư tiền gửi (tính cả lãi) lớn hơn hạn mức chi trả BHTG thì người gửi tiền chỉ được nhận khoản tiền bồi thường từ tổ chức BHTG bằng hạn mức chi trả BHTG mà thôi.


Chi trả có giới hạn là phổ biến do có nhiều ưu việt so với chi trả không giới hạn, đặc biệt là ưu việt về khả năng giảm thiểu rủi ro đạo đức, tăng kỷ cương thị trường. Tính đến tháng 7 năm 2001, trong số 73 hệ thống BHTG trên thế giới chỉ còn hệ thống BHTG ở Mexico và Thổ Nhĩ Kỳ cam kết chi trả BHTG không giới hạn [Kunt and Sobaci, 2000, tr36].
Hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi được xác định theo hai phương thức: phương thức xác định theo người gửi tiền tại một tổ chức nhận tiền gửi và phương thức xác định theo tài khoản. Do tính ưu việt và tác dụng kiểm soát rủi ro trong thực thi công cụ BHTG, phương thức xác định hạn mức chi trả theo người gửi tiền được lựa chọn phổ biến. Trong tình huống xẩy ra khủng hoảng, niềm tin của công chúng đối với hoạt động ngân hàng quốc gia giảm sút nghiêm trọng, điều chỉnh hạn mức chi trả tăng tới mức không giới hạn có thể được áp dụng cho một khoảng thời gian nhất định. Thời gian duy trì hạn mức chi trả ở mức cao hoặc không giới hạn tùy thuộc vào mức độ tiến triển và khắc phục khó khăn của hệ thống ngân hàng. Lưu ý việc áp dụng hạn mức chi trả cao hơn mức hợp lý cho phép sẽ phát sinh rủi ro chấp nhận rủi ro cao trong hoạt động ngân hàng. Hậu quả của trạng thái này có thể dẫn tới số lượng ngân hàng đóng cửa tăng (tham chiếu hình 2 và 3).


Cách thức chi trả bảo hiểm tiền gửi

Tổ chức BHTG cần dàn xếp để có thể thực hiện chi trả tiện lợi nhất cho người gửi tiền, trong thời gian nhanh nhất có thể và đảm bảo tính chính xác cao. Thủ tục chi trả cần có sự hỗ trợ của ứng dụng công nghệ, đối chiếu thông tin định danh người gửi tiền, số tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm và tiền lãi dồn tích. Song hành với bố trí chi trả BHTG, khích lệ sự tham gia của các ngân hàng trong khu vực trong cùng địa bàn tổ chức huy động tiền gửi được chi trả, góp phần tăng tính ổn định hoạt động ngân hàng tại địa bàn có xẩy ra sự kiện chi trả BHTG. Kinh nghiệm của BHTG Nhật Bản cho thấy, khi có ngân hàng gặp khó khăn tới mức phát sinh sự kiện chi trả BHTG, ngân hàng đó ngay lập tức chuyển tới cơ quan BHTG file số liệu về người gửi tiền và qui mô tiền gửi thuộc đối tượng chi trả BHTG. Việc đối chiếu xác minh tính chính xác của số liệu cần chi trả được thực hiện khẩn trương và phương án chi trả, bao gồm nguồn tiền chi trả, hình thức chi trả và thời điểm bắt đầu chi trả được triển khai và thực thi.

Xử lý đối với tiền gửi trên mức chi trả

Người gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ ngoài việc được nhận số tiền bảo hiểm theo hạn mức trả tiền bảo hiểm, số tiền vượt quá hạn mức sẽ được giải quyết trong quá trình xử lý tài sản của tổ chức tín dụng (TCTD) bị phá sản. Thông thường, khi tòa án tuyên bố một ngân hàng bị phá sản sẽ giao cho một cơ quan tiếp quản ngân hàng đổ vỡ và cơ quan đó sẽ bán nợ, thanh lý tài sản để trả lệ phí cho họ, trả phí cho luật sư, thuế, phần còn lại trả cho khách hàng. Ví dụ, tại Đài Loan, tổ chức BHTG Đài Loan (CDIC) được chỉ định là cơ quan tiếp nhận các tổ chức tham gia BHTG ngay từ khi đóng cửa. Để đáp ứng các nhu cầu thanh khoản của các chủ nợ của tổ chức tham gia BHTG bị đóng cửa, Luật CDIC quy định, CDIC có thể chi trả trước cho các yêu cầu thanh toán của người gửi tiền vượt quá hạn mức bảo hiểm tối đa và của các chủ nợ không phải người gửi tiền trên cơ sở tỷ lệ hoàn trả đã được dự tính từ việc đánh giá giá trị các tài sản của tổ chức bị đóng cửa, mà không làm tăng chi phí do CDIC thực hiện trách nhiệm bảo hiểm theo khoản 1 Điều 28 Luật DCIC. Số tiền thanh toán trước nói trên sẽ được tính từng khoản một trên cơ sở lệnh thu hồi các khoản chi trả trước, và được khấu trừ trước từ số thu từ thanh lý và trả lại cho CDIC. Quy định về tính toán và tiến hành việc chi trả trước đối với người gửi tiền vượt trên hạn mức bảo hiểm tối đa và các chủ nợ không phải người gửi tiền trên cơ sở tỉ lệ hoàn trả đã được dự báo trước sẽ được CDIC xây dựng và đệ trình lên cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn (CDIC, 2010).

Tại Việt Nam, Luật BHTG quy định số tiền gửi của người được BHTG bao gồm cả gốc và lãi vượt quá hạn mức trả tiền bảo hiểm sẽ được giải quyết trong quá trình xử lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Luật Phá sản 2014 quy định thứ tự phân chia tài sản trong phá sản TCTD thực hiện theo trật tự như sau: Chi phí phá sản; khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết; khoản tiền gửi; khoản tiền tổ chức BHTG phải trả cho người gửi tiền tại TCTD phá sản theo quy định của pháp luật về BHTG và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước; nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; và khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ. Trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ nêu trên, các đối tượng thuộc cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ. Như vậy, khoản tiền gửi không thuộc đối tượng được BHTG và số tiền gửi vượt hạn mức chi trả tại TCTD phá sản sẽ được ưu tiên chi trả trước các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.

Hàm ý chính sách
Xây dựng cơ chế điều chỉnh hạn mức chi trả BHTG kịp thời: xác định tình huống điều chỉnh, mức độ điều chỉnh, đối tượng (cá nhân và tổ chức) có trách nhiệm quyết định điều chỉnh kịp thời.
Tổ chức dàn xếp chi trả BHTG kịp thời, thuận tiện và chính xác. Tính kịp thời, thuận tiện và chính xác trong chi trả BHTG có vài trò đặc biệt quan trọng. Sự lo lắng, bức xúc và mất niềm tin của người gửi tiền sẽ được giảm bớt và được kiểm soát tỷ lệ thuận với mức độ kịp thời, thuận tiện và chính xác của việc chi trả BHTG. Kinh nghiệm thành công của tổ chức BHTG Mỹ cho thấy, đối với ngân hàng gặp khó khăn, không tiếp tục duy trì hoạt động và chọn phương án đóng cửa ngân hàng, thu xếp tuyên bố thời điểm đóng cửa gắn liền với sắp xếp chi trả tiện lợi, kịp thời có ý nghĩa lớn trong ổn định tâm lý người gửi tiền và giảm ảnh hưởng bất lợi trong giải quyết đóng cửa ngân hàng. Trong tình huống như vậy, ngân hàng được tổ chức BHTG tiếp cận tức thì về hệ thống thông tin khách hàng gửi tiền, qui mô tiền gửi cần chi trả. Ngân hàng sẽ được dàn xếp tuyên bố chấm dứt hoạt động vào chiều ngày thứ 6 của tuần làm việc và việc chi trả BHTG sẽ được thực hiện vào ngày thứ 2 của tuần làm việc kế tiếp. Với dàn xếp như vậy, gián đoạn đối với người gửi tiền về giao dịch tiếp cận tiền gửi của họ được giảm tối đa có thể.
Tích tụ tài chính để đáp ứng chi trả BHTG đầy đủ và kịp thời là nội dung cần được quan tâm. Cơ chế BHTG được đánh giá hiệu quả và thành công khi đạt được trạng thái khó khăn ngân hàng đơn lẻ và hệ thống sẽ được giải quyết bằng chính nguồn lực tài chính tích tụ từ cộng đồng ngân hàng quốc gia. Cơ chế BHTG được kỳ vọng tích tụ tài chính cho bảo vệ người gửi tiền, chấm dứt tình trạng sử dụng tiền thuế của người dân để giải quyết khó khăn ngân hàng. Trong tình huống khó khăn ngân hàng diễn ra ở diện rộng, khả năng bảo vệ người gửi tiền không thể được đáp ứng đầy đủ bằng nguồn tài chính tích tụ, tổ chức BHTG được sử dụng cơ chế cho phép vay trong và ngoài quốc gia. Mặc dầu vậy, trong quá trình củng cố ngân hàng tiếp theo, tổ chức BHTG có trách nhiệm huy động từ phí BHTG và có cơ chế thu hồi từ đối tượng gây ra rủi ro ngân hàng để trả nợ vay và tiếp tục tích tụ tài chính. BHTG Nhật Bản những năm gần đây rất thành công trong truy thu trách nhiệm tài chính từ rủi ro ngân hàng gây nên sự kiện chi trả BHTG.

Tài liệu tham khảo:
Federal Deposit Insurance Corporation (1998), A Brief History of Deposit Insurance in the United States
Kunt D. A. and Sobaci T. (2000), Deposit Insurance around the World: A Data Base, The Word Bank
Luật BHTG Đài Loan, năm 2010
Luật BHTG số 06/2012/QH13
Luật phá sản số 51/2014/QH13
Nguyễn Thị Kim Oanh (2004), Bảo hiểm tiền gửi: Nguyên lý, thực tiễn và định hướng, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội.

TS. Nguyễn Thị Kim Oanh
Ths. Nguyễn Việt Trung


Nguồn: TCNH số 12-2019


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Bài viết phân tích yêu cầu về khả năng thanh toán - điều kiện cốt lõi trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp (Emergency Liquidity Assistance - ELA) của ngân hàng trung ương (NHTW), thông qua việc so sánh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xử lý các cuộc khủng hoảng ngân hàng gần đây, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện khuôn khổ hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp tại Việt Nam theo hướng linh hoạt, dựa trên đánh giá triển vọng và tăng cường phối hợp chính sách giữa các cơ quan liên quan.
Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành ngày càng được áp dụng rộng rãi, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng lộ trình áp dụng IFRS phù hợp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhằm nâng cao minh bạch tài chính, năng lực quản trị và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ vai trò của các yếu tố công nghệ, tâm lý và tài chính cá nhân trong việc hình thành hành vi chấp nhận dịch vụ của khách hàng.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Xem thêm
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng