Cấp thiết hoàn thiện pháp luật về tài sản bảo đảm là tài sản số, tín chỉ carbon

Chính sách
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế số và quá trình chuyển đổi xanh, vấn đề đặt ra hiện nay là liệu các loại tài sản mới như tài sản số, tín chỉ carbon có thể và sẽ được chấp nhận như thế nào với vai trò là tài sản bảo đảm cho khoản vay tại các tổ chức tín dụng ở Việt Nam. Các chuyên gia trong nước và quốc tế đều cùng chung nhận định đó là cần sớm hoàn thiện pháp luật về tài sản bảo đảm là tài sản số, tín chỉ carbon tại Hội thảo “Tài sản bảo đảm ngân hàng - Những vấn đề quan tâm hiện nay” do Thời báo Ngân hàng tổ chức ngày 28/4/2025.
aa
Hoàn thiện pháp luật đất đai trong hoạt động xử lí tài sản bảo đảm của công ty quản lý tài sản Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với cổ phần là tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng Xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ tại các tổ chức tín dụng - Từ quy định pháp luật đến thực tiễn thực hiện

Sự kiện có sự góp mặt của gần 100 đại biểu là lãnh đạo, đại diện các bộ, ngành liên quan; các chuyên gia, nhà hoạch định chính sách, các tổ chức tài chính uy tín trong và ngoài nước; đại diện các tổ chức tín dụng...

Bà Lê Thị Thúy Sen - Tổng Biên tập Thời báo Ngân hàng: Hoàn thiện pháp luật về tài sản bảo đảm là tài sản số, tín chỉ carbon sẽ góp phần thúc đẩy vốn ra nền kinh tế

Phát biểu khai mạc Hội thảo, bà Lê Thị Thúy Sen - Tổng Biên tập Thời báo Ngân hàng cho biết, bên cạnh việc tổ chức xuất bản các ấn phẩm Thời báo Ngân hàng, Tạp chí Ngân hàng và tham gia vận hành Cổng thông tin điện tử Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), thời gian qua Thời báo Ngân hàng còn tổ chức nhiều sự kiện nhằm nâng cao hiệu quả công tác truyền thông chính sách, tổ chức các diễn đàn nghiên cứu, gợi mở cho cơ quan quản lý nhà nước về các vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn.

Cấp thiết hoàn thiện pháp luật về tài sản bảo đảm là tài sản số, tín chỉ carbon
Bà Lê Thị Thúy Sen - Tổng Biên tập Thời báo Ngân hàng phát biểu tại Hội thảo

Vấn đề tài sản bảo đảm ngân hàng cũng là một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay, trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, có những loại tài sản mà trước đây chưa chính thức được công nhận như tài sản số, tín chỉ carbon. Đây rõ ràng là một loại hình tài sản rất tiềm năng, có thể đưa ra làm tài sản bảo đảm, thế chấp cho khoản vay. Chính vì vậy, Hội thảo kỳ vọng sẽ tạo ra một diễn đàn thảo luận chuyên sâu về tài sản bảo đảm ngân hàng, nhất là những loại tài sản mới ở Việt Nam hiện nay. Hành lang pháp lý, những rủi ro, cách thức triển khai như thế nào nếu xác định tài sản bảo đảm có thể là tài sản số, tín chỉ carbon… Tất cả những vấn đề này sẽ được thảo luận dựa trên thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế. Với sự tham gia của các chuyên gia nước ngoài có kinh nghiệm, đại diện một số bộ, ngành, viện nghiên cứu và các đơn vị liên quan tới vấn đề tài sản bảo đảm, Hội thảo là diễn đàn chuyên sâu, đa chiều, kết nối giữa lý luận và thực tiễn, giữa kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam, giữa khung pháp lý và nhu cầu thị trường, để các cơ quan quản lý có thêm kênh thông tin tham vấn trong quá trình xây dựng chính sách về vấn đề này.

Tiến sĩ danh dự Giacomo Merello - Chủ tịch Hội đồng Thúc đẩy Kinh doanh Tài sản Kỹ thuật số Antigua & Barbuda, đặc phái viên Kinh tế đặc biệt của Thủ tướng Antigua và Barbuda tại Cộng hòa Singapore: Tận dụng kinh nghiệm quốc tế để Việt Nam quản lý tài sản điện tử hiệu quả

Cấp thiết hoàn thiện pháp luật về tài sản bảo đảm là tài sản số, tín chỉ carbon
Tiến sĩ danh dự Giacomo Merello, Chủ tịch Hội đồng Thúc đẩy Kinh doanh Tài sản Kỹ thuật số Antigua & Barbuda, đặc phái viên Kinh tế đặc biệt của Thủ tướng Antigua và Barbuda tại Cộng hòa Singapore trao đổi tại Hội thảo

Trong khuôn khổ Hội thảo, TS. Giacomo Merello - Chủ tịch Hội đồng Thúc đẩy Kinh doanh Tài sản Kỹ thuật số Antigua và Barbuda, đặc phái viên Kinh tế đặc biệt của Thủ tướng Antigua và Barbuda tại Cộng hòa Singapore chia sẻ: Trong kỷ nguyên số hóa, công nghệ chuỗi khối (Blockchain) nổi lên như một cuộc cách mạng về công nghệ, đóng vai trò là nền tảng vững chắc cho nhiều ứng dụng đột phá, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng.

Về bản chất, Blockchain là một mạng lưới phi tập trung, bao gồm vô số máy tính (hay còn gọi là các nút mạng) cùng nhau duy trì một “sổ cái” kỹ thuật số ghi lại mọi giao dịch. Tiền điện tử và mã thông báo trên Blockchain hoạt động như các hình thức tài sản tài chính mới (chuỗi liên khối), trở thành những hình thức tài sản tài chính mới đầy tiềm năng. Điển hình có thể kể đến Bitcoin, Ethereum, Stablecoin. Dù còn nhiều vấn đề song tại một số quốc gia, tài sản mã hóa đã được chấp nhận là tài sản bảo đảm ngân hàng.

Thị trường tiền điện tử của Việt Nam có nhiều tiềm năng và người dân dành rất nhiều sự quan tâm cho thị trường này khi có gần 17 triệu người Việt Nam nắm giữ tài sản kỹ thuật số (tính đến năm 2024), với giá trị thị trường trên 100 tỉ USD. Việt Nam đứng thứ 5 toàn cầu về sự quan tâm đến tiền điện tử và thứ 3 về việc sử dụng sàn giao dịch, cho thấy nhu cầu trong nước là vô cùng mạnh mẽ. Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng khuôn khổ tiền điện tử. Các dự thảo luật hiện định nghĩa "tài sản kỹ thuật số" và trung tâm tài chính - nơi giao dịch tiền điện tử được cấp phép hoạt động (mục tiêu khoảng tháng 7/2026). Để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho loại hình này, Việt Nam có thể tận dụng các kinh nghiệm quốc tế như: Xây dựng bộ luật rõ ràng về tiền điện tử; thực hiện các quy tắc cấp phép và lưu ký, khuyến khích mã hóa (trái phiếu kỹ thuật số) tại trung tâm tài chính sẽ hình thành tới đây.

Tuy nhiên, bất kỳ khuôn khổ pháp lý nào cho tài sản kỹ thuật số ở Việt Nam cũng phải hướng tới mục tiêu kép, vừa tạo điều kiện cho sự đổi mới và thu hút đầu tư, vừa bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính. Để xây dựng một khung pháp lý hiệu quả cho tài sản kỹ thuật số, Việt Nam cần đồng thời giải quyết các vấn đề về chống rửa tiền và tài trợ khủng bố (AML/CFT) cũng như các chính sách thuế, trong đó, có thể nghiên cứu mức thuế 0,1% đối với tiền điện tử. Đồng thời, các cơ quan quản lý có thể khuyến khích sự đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại và đầu tư, bằng cách yêu cầu tính minh bạch của tài sản thế chấp và giám sát chặt chẽ tỉ lệ cho vay trên giá trị tài sản, nhằm bảo vệ sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

Như vậy, tài sản kỹ thuật số cung cấp các hình thức thế chấp mới nhưng đi kèm với những thách thức pháp lý/kỹ thuật mới. Đặc biệt, khi mở cửa trung tâm tài chính của mình cho tiền điện tử, Việt Nam có thể áp dụng các thông lệ tốt nhất (như pháp luật thế chấp rõ ràng, có cơ chế kiểm soát rủi ro chặt chẽ) để khai thác xu hướng này một cách an toàn. Các ngân hàng nên định giá tài sản thế chấp tiền điện tử biến động ra sao, xem cần có những thay đổi pháp lý nào (quyền sở hữu, hồ sơ chứng khoán) để quản lý quyền lưu ký và rủi ro mạng…

TS. Lê Thị Giang - Giảng viên chính Trường Đại học Luật Hà Nội: Thừa nhận tài sản số và tín chỉ carbon là tài sản bảo đảm sẽ mang lại nhiều lợi ích

Cấp thiết hoàn thiện pháp luật về tài sản bảo đảm là tài sản số, tín chỉ carbon
TS. Lê Thị Giang - Giảng viên chính Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng việc thừa nhận tài sản số và tín chỉ carbon là tài sản bảo đảm sẽ mang lại nhiều lợi ích

Tài sản số được hiểu là sản phẩm công nghệ số được tạo ra, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực quyền sở hữu bằng Blockchain mà con người có quyền sở hữu theo quy định của pháp luật về dân sự và pháp luật có liên quan. Tài sản số không cần hình thức vật lý, tồn tại trên Blockchain, điện toán đám mây, cơ sở dữ liệu; có thể chia nhỏ, lập trình, giao dịch toàn cầu, chống làm giả. Đây là động lực tăng trưởng kinh tế trong kỷ nguyên số hóa. Hiện nay, khung pháp lý cho tài sản số vẫn đang trong quá trình xây dựng. Đáng chú ý, Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số đã bước đầu xác lập khái niệm tài sản số và quyền sở hữu với tài sản này. Đây là bước đi quan trọng mở đường cho việc xác lập và giao dịch bảo đảm đối với tài sản số trong tương lai. Còn tín chỉ carbon là loại tài sản gắn với xu hướng chuyển đổi xanh và được quan tâm ngày càng nhiều trong lĩnh vực tài chính. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 xác định, tín chỉ carbon là chứng nhận có thể giao dịch, thể hiện quyền phát thải một tấn CO₂ hoặc tương đương. Tín chỉ này thường được tạo ra từ các dự án giảm phát thải như trồng rừng, sử dụng năng lượng tái tạo hoặc cải tiến công nghệ. Trên thực tế, tín chỉ carbon đang dần trở thành công cụ tài chính hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi mô hình phát triển bền vững. Tuy nhiên, việc xác lập giao dịch bảo đảm đối với tín chỉ carbon vẫn chưa có quy định cụ thể trong pháp luật Việt Nam.

Chính vì vậy, nếu coi tài sản số, tín chỉ carbon là tài sản bảo đảm ngân hàng, ngân hàng sẽ e ngại bởi khi thực hiện bất kỳ giao dịch nào phải dựa trên cơ sở pháp lý được quy định rõ ràng. Hiện chưa có quy định pháp luật nào chỉ ra, ngoài các tài sản bảo đảm thông thường, truyền thống thì tín chỉ carbon, tài sản số có thể coi là tài sản bảo đảm.

Dù chưa có khung pháp lý hoàn chỉnh, song một số quy định hiện hành đã manh nha định hướng cho việc này. Tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ hướng dẫn Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ quy định: Tài sản bảo đảm bao gồm tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai trừ tài sản đang bị cấm mua, bán, cấm chuyển nhượng, cấm chuyển giao. Vì vậy hoàn toàn có thể khẳng định, Luật đã quy định rất rộng về tài sản bảo đảm. Nếu đối chiếu với quy định này, có thể thấy Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã trực tiếp đề cập đến tín chỉ carbon. Hiện nay, tại Việt Nam, hoạt động giao dịch tín chỉ carbon đang ngày càng phổ biến và không bị cấm mua bán, chuyển nhượng. Do đó, có thể hiểu rằng việc nhận bảo đảm bằng tài sản là tín chỉ carbon là hoàn toàn khả thi. Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế lại là một bài toán vô cùng khó đối với các ngân hàng. Đối với tài sản bảo đảm truyền thống như đất đai, nhà ở, các ngân hàng đã có nhiều kinh nghiệm, nghiệp vụ xử lý, thì với tín chỉ carbon còn là một loại tài sản rất mới mẻ, do đó, việc chấp nhận tín chỉ carbon như tài sản bảo đảm là thách thức không nhỏ đối với những ngân hàng tiên phong trong lĩnh vực này.

Theo TS. Lê Thị Giang, sự hiện diện của tài sản số và tín chỉ carbon là thực sự cần thiết đối với đời sống. Trước hết, cần xác lập rõ ràng địa vị pháp lý của tài sản số và tín chỉ carbon, coi đây là loại hình tài sản trong Bộ luật Dân sự. Đây sẽ là tiền đề quan trọng để hai loại tài sản này có thể sử dụng làm tài sản bảo đảm trong các giao dịch tài chính.

PGS.,TS. Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Việt Nam đã có ví dụ coi tín chỉ carbon là tài sản bảo đảm

PGS.,TS. Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường
PGS.,TS. Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Phát biểu tại Hội thảo, PGS.,TS. Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, theo Bộ luật Dân sự, tài sản số hay tín chỉ carbon đều có quyền tài sản. Về lo ngại vấn đề mất giá, PGS.,TS. Nguyễn Đình Thọ cho rằng, không chỉ tài sản số hay tín chỉ carbon, mà ngay cả vàng, USD, bất động sản... cũng có thể mất giá. Bên cạnh đó, khi sử dụng tài sản làm bảo đảm, Nhà nước không có nghĩa vụ xác định giá trị tài sản. Do đó, mong muốn Nhà nước ban hành quy trình định giá các loại tài sản này để giảm thiểu rủi ro là không thực sự cần thiết.

Tín chỉ carbon đã được khẳng định địa vị pháp lý trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Hiện nay, Chính phủ đang triển khai lộ trình thí điểm xây dựng thị trường tín chỉ carbon. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định yêu cầu 2.166 doanh nghiệp thực hiện kiểm kê và báo cáo phát thải khí nhà kính, với thời hạn hoàn thành trước ngày 31/3/2025. Trên cơ sở các báo cáo này, Chính phủ sẽ tiến hành phân bổ hạn ngạch phát thải, đồng thời xác định phần hạn ngạch có thể giao dịch.

Có thể thấy, hệ thống pháp luật Việt Nam đã bước đầu khẳng định tín chỉ carbon trong tương lai sẽ là một loại tài sản có thể giao dịch và biến động về giá trị. Thực tế, Việt Nam đang tiến tới sử dụng tín chỉ carbon như một tài sản bảo đảm. Một minh chứng rõ ràng là thỏa thuận giữa Việt Nam và Ngân hàng Thế giới (WB) về việc WB cam kết mua tín chỉ carbon với mức giá 5 USD mỗi tín chỉ. Năm 2023, Việt Nam đã thu về 10,5 triệu tín chỉ carbon, đem lại khoản thu 51,5 triệu USD. Điều này cho thấy tín chỉ carbon đang đem lại nhiều giá trị thiết thực cho Việt Nam, nhất là trong việc phát triển các dự án hạ tầng.

Luật sư Trương Thanh Đức - Giám đốc Công ty Luật ANVI: "Câu chuyện không chỉ đơn giản, không cấm là xong!"

Cấp thiết hoàn thiện pháp luật về tài sản bảo đảm là tài sản số, tín chỉ carbon
Luật sư Trương Thanh Đức - Giám đốc Công ty Luật ANVI cho rằng vấn đề về các loại tài sản bảo đảm mới như tài sản số, tín chỉ carbon là một vấn đề mới và quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng trong tương lai

Vấn đề về các loại tài sản bảo đảm mới như tài sản số, tín chỉ carbon là một vấn đề mới, vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng trong tương lai. Hiện nay, chưa có luật nào ở Việt Nam cấm giao dịch, sở hữu hay lấy tiền ảo, tài sản số là tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, "câu chuyện không chỉ đơn giản, không cấm là xong" - Luật sư Trương Thanh Đức - Giám đốc Công ty Luật ANVI chia sẻ tại Hội thảo.

Luật sư Trương Thanh Đức nhấn mạnh: Theo pháp luật dân sự, tài sản bảo đảm được hiểu là tài sản hiện hữu hoặc sẽ hình thành trong tương lai; trong khi các luật về tài chính, kế toán có sự phân định giữa tài sản hữu hình và vô hình. Tín chỉ carbon thuộc quyền sở hữu của chủ thể và không bị cấm mua, bán. Theo nguyên tắc, để được công nhận là tài sản bảo đảm, tài sản cần đáp ứng hai điều kiện là có quyền sở hữu và không bị cấm giao dịch.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là mục đích của việc nhận tài sản bảo đảm nhằm phòng ngừa, hạn chế rủi ro, trong khi tài sản số và tín chỉ carbon lại tiềm ẩn nhiều biến động về giá trị. Đây chính là điểm gây khó khăn cho các ngân hàng. Ngoài rủi ro về giá, việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ cho vay, sụt giảm giá trị tài sản... cũng sẽ phát sinh nhiều vướng mắc và phức tạp trong thực tiễn.

Ông Đỗ Giang Nam - Thành viên Hội đồng thành viên Công ty TNHH một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC): Tín chỉ carbon là tài sản bảo đảm tiềm năng

Cấp thiết hoàn thiện pháp luật về tài sản bảo đảm là tài sản số, tín chỉ carbon
Ông Đỗ Giang Nam - Thành viên Hội đồng thành viên VAMC cho rằng tín chỉ carbon là tài sản đảm bảo tiềm năng

Đứng từ góc độ của VAMC, ông Đỗ Giang Nam - Thành viên Hội đồng thành viên VAMC cho biết: Nguyên tắc nhận tài sản bảo đảm gồm hai điều kiện. Thứ nhất, về hành lang pháp lý, hiện nay tài sản số và thị trường tín chỉ carbon đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để được chính thức thừa nhận là đối tượng của tài sản bảo đảm. Khi hành lang pháp lý hoàn thiện, đây sẽ là điều kiện cần. Thứ hai, điều kiện đủ là việc ngân hàng có nhận các loại tài sản này làm tài sản bảo đảm hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là khả năng quản lý và xử lý những tài sản đó khi rủi ro xảy ra đối với khách hàng vay vốn.

Tín chỉ carbon được coi là một loại tài sản số nhưng mang tính đặc thù. Tín chỉ này phát sinh từ các dự án nhằm mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính. Thông thường, chủ sở hữu tín chỉ carbon có thể thế chấp chúng để vay vốn ngân hàng, đặc biệt trong trường hợp đầu cơ - khi họ kỳ vọng tín chỉ tăng giá hoặc chưa tìm được đối tác mua bán, tương tự như cách thức thế chấp các tài sản khác. Tín chỉ carbon không chỉ đóng vai trò thúc đẩy tín dụng xanh và phát triển thị trường tài chính xanh, mà còn được kỳ vọng gia tăng giá trị thương mại trong tương lai. Dưới góc độ ngân hàng, đây là loại tài sản bảo đảm tiềm năng nếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về quản lý rủi ro trong hoạt động.

Việt Nam đang hướng tới mục tiêu hình thành thị trường giao dịch tín chỉ carbon tương đối đầy đủ vào năm 2028. Tuy nhiên, để thực hiện các giao dịch tín chỉ carbon, cần phải cân nhắc kỹ các yếu tố, nhất là biến động giá cả, do giá tín chỉ phụ thuộc vào cung - cầu thị trường. Trong bối cảnh hiện nay, nhiều chủ đầu tư đang có xu hướng đầu tư nâng cấp công nghệ để giảm lượng khí thải thay vì mua tín chỉ carbon, điều này tác động đến nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó, giá trị tín chỉ còn phụ thuộc vào chất lượng tín chỉ, yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát của ngân hàng. Vì vậy, nếu ngân hàng nhận tín chỉ carbon làm tài sản bảo đảm, cần có sự đánh giá hết sức thận trọng về giá trị, độ uy tín, chất lượng chứng chỉ cũng như phương thức quản lý tín chỉ carbon.

Tiến sĩ Vũ Thị Vân Anh - Trưởng phòng Cao cấp Khối ESG - KPMG Việt Nam: Việc quản lý, giám sát các loại tài sản mới là rất quan trọng

Cấp thiết hoàn thiện pháp luật về tài sản bảo đảm là tài sản số, tín chỉ carbon
Tiến sĩ Vũ Thị Vân Anh - Trưởng phòng Cao cấp Khối ESG - KPMG Việt Nam cho rằng việc quản lý, giám sát các loại tài sản mới là rất quan trọng

Đối với KPMG, từ khía cạnh góc nhìn của một doanh nghiệp kiểm toán và tư vấn, TS. Vũ Thị Vân Anh - Trưởng phòng Cao cấp Khối ESG - KPMG Việt Nam nhận thấy rằng, xu hướng hiện nay của các tài sản phi chính thức như tài sản xanh, tài sản số đang đặt các doanh nghiệp cũng như tổ chức liên quan trong một tình huống mà phải đặt ra những quy định, thực hành chưa có tiền lệ. Chính vì vậy, sự phối - kết hợp trong quá trình quản lý và giám sát đối với các tài sản phi chính thức, đặc biệt là tài sản số rất quan trọng; TS. Vũ Thị Vân Anh cũng cho biết, EU là một trong những khu vực tốt nhất hiện tại liên quan đến thị trường tài sản số, tài sản xanh để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, đồng thời cũng là một ví dụ điển hình để Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm trong việc phát triển các loại hình tài sản bảo đảm mới như tài sản số và tín chỉ carbon.

Ông Nguyễn Kim Hùng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Kim Nam: Doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn đến giải pháp thay vì thể chế

Cấp thiết hoàn thiện pháp luật về tài sản bảo đảm là tài sản số, tín chỉ carbon
Ông Nguyễn Kim Hùng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Kim Nam cho biết, doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn đến giải pháp thay vì thể chế

Ông Nguyễn Kim Hùng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Kim Nam cho rằng, bên cạnh những vấn về thể chế, các doanh nghiệp cần quan tâm nhiều hơn đến giải pháp thực tiễn trong việc sử dụng tài sản số. Thực tế, mặc dù Việt Nam chưa hoàn thiện khung pháp lý, nhưng vẫn nằm trong nhóm các quốc gia có tỉ lệ đầu tư và nắm giữ tài sản số cao trên thế giới. Ông Nguyễn Kim Hùng đặt vấn đề: Nếu chưa có giải pháp cụ thể, làm thế nào để đánh giá giá trị tài sản số khi mà giá trị của chúng biến động liên tục chỉ trong vài giờ? Liệu đã có công ty kiểm toán nào đứng ra giám định và cấp chứng thư định giá tài sản số hay chưa? Nếu doanh nghiệp không có chứng thư định giá thì tài sản số thì loại tài sản này khó có ý nghĩa thực tế trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy, ông nhấn mạnh rằng, Chính phủ cần đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng giải pháp, thay vì để các tổ chức riêng lẻ tự thực hiện.

Liên quan đến trách nhiệm quản lý, một số ý kiến hiện nay đang thiên về giao Bộ Tài chính phụ trách, tuy nhiên, theo ông Nguyễn Kim Hùng, Bộ Tài chính không phải là cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về tài sản số. Thay vào đó, Bộ Khoa học và Công nghệ mới thực sự là đơn vị được giao nhiệm vụ chính theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Ông cũng nêu thêm một số bài toán thực tiễn: Một doanh nghiệp cung cấp phần mềm có thể được hạch toán tài sản hay không? Các loại tài sản số như sở hữu trí tuệ, thương hiệu doanh nghiệp có thể quy đổi ra tiền để ghi nhận trên sổ sách hay không? Đây là những vấn đề chưa có lời giải rõ ràng, khiến cho hệ thống ngân hàng gặp nhiều khó khăn khi xem xét tài sản bảo đảm.

Về khả năng sử dụng tài sản số làm tài sản bảo đảm, ông Nguyễn Kim Hùng đánh giá là hoàn toàn khả thi. "Trên thế giới, công nghệ số, Big Data, mã nguồn mở đang phát triển rất mạnh mẽ. Nếu chúng ta giảm bớt sự can thiệp hành chính và dựa nhiều hơn vào công nghệ, thị trường sẽ tự minh bạch hóa" - ông Nguyễn Kim Hùng nhấn mạnh.

Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn còn nhiều băn khoăn xoay quanh quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản số. Một số quốc gia đã rất thành công trong việc nhượng quyền tài sản phi vật chất như thương hiệu, bằng sáng chế... nhưng ở Việt Nam, việc phân định bao giờ có quyền sở hữu hay bao giờ có quyền sử dụng tài sản số vẫn còn chưa rõ ràng. Ông Nguyễn Kim Hùng đưa ví dụ, nếu một doanh nghiệp bán cổ phần và chỉ nhận được 80% giá trị thanh toán, còn 20% bị chậm trễ hoặc không thanh toán, thì quyền đòi lại cổ phần như thế nào? Với tài sản số, vấn đề này còn xảy ra nhanh hơn và rủi ro lớn hơn. Do đó, cộng đồng doanh nghiệp rất mong muốn các cơ quan quản lý làm rõ những quy định liên quan để bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ.

Quỳnh Trang - Ảnh: Hoàng Giáp

Tin bài khác

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.
Xem thêm
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành