Hoạt động cung ứng sản phẩm phái sinh của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam

Hoạt động ngân hàng
Hiện nay, Việt Nam đang là một nền kinh tế có độ mở lớn, việc giao thương với các quốc gia trên thế giới đã mở ra nhiều cơ hội trong việc kinh doanh ngoại tệ nói chung và hoạt động cung ứng sản phẩm phái sinh tại các TCTD nói chung. Theo đó, các TCTD đã tận dụng tốt cơ hội và lợi thế để triển khai các sản phẩm phái sinh đến khách hàng dưới sự giám sát, quản lý chặt chẽ của cơ quan chức năng cũng như sự điều tiết của thị trường.
aa

Tóm tắt: Các công cụ phái sinh đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tài chính quốc tế và được xem là giải pháp phòng ngừa rủi ro tỉ giá cũng như đầu cơ hữu hiệu. Trong xu hướng tự do thương mại toàn cầu, tiềm năng phát triển hoạt động phái sinh tại Việt Nam rất lớn. Bài viết này trình bày tổng quan về hoạt động cung ứng sản phẩm phái sinh của các tổ chức tín dụng (TCTD) tại Việt Nam, đưa ra các vấn đề còn hạn chế, khó khăn; từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển của hoạt động phái sinh trong thời gian tới.

Từ khóa: Công cụ phái sinh, tỉ giá hối đoái, tài chính quốc tế.

THE ACTIVITIES OF SUPPLYING DERIVATIVE PRODUCTS AT VIETNAMESE CREDIT INSTITUTIONS

Abstract: Derivative instruments play a crucial role in international financial activities and are considered effective tools for hedging currency risks and engaging in speculation. The trend of global trade liberalization has pushed up the potential development of derivative activities in Vietnam. This article provides the current situation with some challenges of supplying derivative products at Vietnamese credit institutions, thereby, making some recommendations to improve the development of derivative activities in the future.

Keywords: Derivative instruments, exchange rates, international finance.

1. Giới thiệu chung

Từ khi thị trường tiền tệ quốc tế chính thức được thành lập bởi Sàn giao dịch Chicago (CME) vào năm 1972 để giao dịch tương lai ngoại tệ, nhiều sàn giao dịch khác trên thế giới đã thực hiện giao dịch này như: Sàn giao dịch New York (NYSE Euronext), Sàn giao dịch Toronto (TSX), Sàn giao dịch London (LSE), Sàn giao dịch tiền tệ quốc tế Singapore (SIMEX), Sàn giao dịch tài chính Tokyo (TFX), Sàn giao dịch hàng hóa và hợp đồng tương lai Brazil (BM&F). Trong những năm 1980, các sàn giao dịch đã phát triển thêm hợp đồng quyền chọn về ngoại hối, trong đó, Sàn giao dịch Philippines là sàn giao dịch đầu tiên thực hiện giao dịch về loại hợp đồng phái sinh này. Từ đó đến nay, với sự phát triển nhanh chóng của các hoạt động tài chính quốc tế, thị trường phái sinh tiếp tục cho ra đời các hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi và được triển khai áp dụng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thị trường tiền tệ quốc tế.

Đối với các TCTD, công cụ phái sinh là giải pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro tỉ giá cũng như đóng góp vào hoạt động kinh doanh ngoại hối. Hơn nữa, các công cụ phái sinh còn bảo đảm số lượng ngoại tệ bất thường cho TCTD để bảo đảm tính thanh khoản của mình. Ngoài ra, phái sinh cũng là công cụ đầu cơ của các TCTD. Dựa vào đánh giá, phân tích xu hướng chuyển biến tỉ giá trong hiện tại và tương lai, TCTD có thể dựa vào sự chênh lệch của tỉ giá giao ngay và lãi suất các đồng tiền tương ứng để thực hiện kinh doanh, từ đó, thu được tỉ suất sinh lời lớn hơn thị trường ngoại hối cơ sở.

Tại Việt Nam - một nền kinh tế có độ mở lớn, việc giao thương với các quốc gia trên thế giới đã mở ra nhiều cơ hội trong việc kinh doanh ngoại tệ nói chung và hoạt động cung ứng sản phẩm phái sinh tại các TCTD nói chung. Theo đó, các TCTD đã tận dụng tốt cơ hội và lợi thế để triển khai các sản phẩm phái sinh đến khách hàng dưới sự giám sát, quản lý chặt chẽ của cơ quan chức năng cũng như sự điều tiết của thị trường.

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet
Ảnh minh họa - Nguồn: Internet

2. Hoạt động cung ứng sản phẩm phái sinh của các TCTD tại Việt Nam

2.1. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động cung ứng sản phẩm phái sinh

Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động cung ứng sản phẩm phái sinh cho các TCTD được điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) từ rất sớm và liên tục được bổ sung, sửa đổi theo sự phát triển của thị trường phái sinh. Cụ thể, quy định chung liên quan đến quản lý, kinh doanh ngoại tệ: Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 ngày 13/12/2005 và Pháp lệnh số 06/2013/PL-UBTVQH13 ngày 18/3/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11; đồng thời, Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối, tạo khung pháp lý cụ thể cho các giao dịch ngoại tệ phái sinh được diễn ra thông suốt, đúng quy định pháp luật.

Các quy định cụ thể liên quan đến việc cung ứng sản phẩm phái sinh được NHNN quy định như sau:

Về giao dịch kỳ hạn ngoại tệ: Được quy định tại Quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN7 ngày 25/02/1999 của Thống đốc NHNN về việc quy định nguyên tắc xác định tỉ giá mua bán ngoại tệ của các TCTD được phép kinh doanh ngoại tệ, các giao dịch kỳ hạn được thực hiện trong hợp đồng mua bán USD và VND giữa TCTD với doanh nghiệp xuất, nhập khẩu hoặc với các TCTD khác được phép của NHNN.

Về giao dịch phái sinh lãi suất: Giao dịch hoán đổi lãi suất được quy định cụ thể trong Quyết định số 430/1997/QĐ-NHNN13 ngày 24/12/1997 của Thống đốc NHNN về việc thực hiện giao dịch SWAP giữa NHNN và các ngân hàng thương mại (NHTM); Quyết định số 893/2001/QĐ-NHNN ngày 17/7/2001 của Thống đốc NHNN về việc thực hiện nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ giữa NHNN với các ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn bằng Đồng Việt Nam cho các ngân hàng; Quyết định số 1133/2003/QĐ-NHNN ngày 30/9/2003 của Thống đốc NHNN về việc ban hành Quy chế thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất. Theo đó, hoán đổi lãi suất được thực hiện đối với cả VND và ngoại tệ giữa các ngân hàng với doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng; giữa ngân hàng với những doanh nghiệp vay vốn tại TCTD khác, kể cả vay vốn nước ngoài; giữa các ngân hàng trong nước với nhau và giữa các NHTM trong nước với các TCTD nước ngoài. Bên cạnh đó, Thông tư số 01/2015/TT-NHNN ngày 06/01/2015 của Thống đốc NHNN quy định hoạt động kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 25/2021/TT-NHNN ngày 31/12/2021), đã nêu rõ quy định về hoạt động cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất trên phương tiện điện tử. Theo đó, các NHTM xây dựng quy trình kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh bằng phương tiện điện tử phải phù hợp với quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền, pháp luật về giao dịch điện tử và các quy định pháp luật liên quan, đồng thời, phải lưu trữ đầy đủ các thông tin liên quan để phục vụ cho công tác kiểm tra, đối chiếu, giải quyết tra soát, khiếu nại, tranh chấp và cung cấp thông tin khi có yêu cầu từ cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Về giao dịch quyền chọn ngoại tệ: Được quy định tại Quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN ngày 10/11/2004 của Thống đốc NHNN về giao dịch hối đoái của các TCTD được phép hoạt động ngoại hối, chỉ bao gồm giao dịch giữa các ngoại tệ (không liên quan đến VND). Đối tượng được tham gia giao dịch ngoại hối bao gồm TCTD, tổ chức kinh tế, tổ chức khác, cá nhân và NHNN. TCTD được duy trì tổng giá trị hợp đồng quyền chọn không có giao dịch đối ứng tối đa là 10% so với vốn tự có. Cũng trong Quyết định này, các TCTD không được mua quyền chọn của tổ chức kinh tế, tổ chức khác và cá nhân mà họ chỉ được phép bán quyền chọn cho các đối tượng này.

Về tỉ giá giao dịch: Được quy định tại Quyết định số 648/2004/QĐ-NHNN ngày 28/5/2004 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 679/2002/QĐ-NHNN ngày 01/7/2002 về việc ban hành một số quy định liên quan đến giao dịch ngoại tệ của các TCTD được phép kinh doanh ngoại tệ; theo đó, giao dịch kỳ hạn và giao dịch hoán đổi có thời hạn từ 3 - 365 ngày, với tỉ giá kỳ hạn được xác định trên cơ sở: Tỉ giá giao ngay của ngày ký hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi; chênh lệch giữa 2 mức lãi suất hiện hành là lãi suất cơ bản của VND (tính theo năm) do NHNN công bố và lãi suất mục tiêu do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) công bố. Như vậy, quy định về cách thức tính tỉ giá kỳ hạn này đã tiến gần với thông lệ quốc tế và là tiền đề pháp lý quan trọng cho sự phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam nói chung và giao dịch ngoại hối kỳ hạn nói riêng.

Về các sản phẩm phái sinh: Được quy định cụ thể tại Luật Các TCTD năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024. Theo đó, “Sản phẩm phái sinh là công cụ tài chính được định giá theo biến động dự kiến về giá trị của một tài sản tài chính gốc như tỉ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ hoặc tài sản tài chính khác”. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định rõ về chức năng quản lý các hoạt động phái sinh ngoại tệ của NHNN như sau: “NHNN quy định về phạm vi kinh doanh ngoại hối; điều kiện, trình tự, thủ tục chấp thuận việc kinh doanh ngoại hối; kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh của NHTM”.

Các quy định về công cụ phái sinh liên tục được hoàn thiện với sự ra đời của Thông tư số 15/2015/TT-NHNN ngày 02/10/2015 và Thông tư số 02/2021/TT-NHNN ngày 31/3/2021 của Thống đốc NHNN hướng dẫn giao dịch ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ của các TCTD được phép hoạt động ngoại hối; Văn bản hợp nhất số 45/VBHN-NHNN ngày 17/10/2016 của Thống đốc NHNN hợp nhất Thông tư hướng dẫn về phạm vi hoạt động ngoại hối, điều kiện, trình tự, thủ tục chấp thuận hoạt động ngoại hối của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-NHNN ngày 29/11/2017 của Thống đốc NHNN hợp nhất Thông tư quy định về việc cấp giấy phép và tổ chức, hoạt động của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và văn phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. Ngoài ra, hiện nay, NHNN đang lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 02/2021/TT-NHNN theo hướng: Cơ sở xác định tỉ giá kỳ hạn giữa VND với USD trong giao dịch kỳ hạn, giao dịch kỳ hạn trong giao dịch hoán đổi sẽ không quy định cụ thể tại Thông tư mà được quy định tại quyết định do Thống đốc NHNN ban hành trong từng thời kỳ. Theo đó, TCTD được phép hoạt động ngoại hối là các ngân hàng, TCTD phi ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài (gọi chung là TCTD được phép) được kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối. Khách hàng bao gồm: Người cư trú là tổ chức kinh tế (bao gồm cả TCTD không phải là TCTD được phép hoạt động ngoại hối), tổ chức khác và cá nhân; người không cư trú là tổ chức, cá nhân.

Mặc dù năm 2009, để hạn chế yếu tố đầu cơ ảnh hưởng đến điều hành tỉ giá, NHNN đã ban hành Văn bản số 1820/NHNN-QLNH ngày 18/3/2009 về việc yêu cầu các NHTM chấm dứt thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn giữa VND và ngoại tệ, tuy nhiên hiện nay, theo Thông tư số 02/2021/TT-NHNN, các TCTD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã được phép thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ cùng các giao dịch ngoại tệ khác. Điều 4 Thông tư số 02/2021/TT-NHNN quy định về loại hình phái sinh ngoại tệ được phép cung ứng cho khách hàng như sau: (i) TCTD được phép được thực hiện giao dịch giao ngay, giao dịch kỳ hạn, giao dịch hoán đổi, giao dịch quyền chọn với TCTD được phép khác; (ii) TCTD được phép được thực hiện giao dịch giao ngay, giao dịch kỳ hạn, giao dịch hoán đổi, giao dịch bán quyền chọn với tổ chức kinh tế; (iii) TCTD được phép được thực hiện giao dịch giao ngay, giao dịch kỳ hạn với người cư trú là tổ chức khác và cá nhân; (iv) TCTD được phép được thực hiện giao dịch giao ngay với người không cư trú là tổ chức, cá nhân và giao dịch bán ngoại tệ kỳ hạn với người không cư trú quy định tại khoản (v) Điều này; (v) TCTD được phép được thực hiện giao dịch bán ngoại tệ kỳ hạn với người không cư trú là nhà đầu tư nước ngoài sở hữu trái phiếu Chính phủ phát hành bằng VND tại thị trường trong nước để phòng ngừa rủi ro tỉ giá cho trái phiếu đầu tư của nhà đầu tư.

2.2. Thực trạng hoạt động cung ứng sản phẩm phái sinh của các TCTD

2.2.1. Trong giai đoạn thí điểm

Tại Việt Nam, hoạt động cung ứng sản phẩm phái sinh của các TCTD xuất hiện khoảng đầu năm 2000, khi thị trường chứng khoán trong nước bắt đầu có những nền móng phát triển. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, cơ sở pháp lý của các nghiệp vụ phái sinh còn mang tính thí điểm và đơn lẻ, do vậy, số lượng các giao dịch còn ít, trong đó, hợp đồng hoán đổi lãi suất và một số hợp đồng phái sinh không chuẩn khác đã được cho phép thực hiện (trong số đó có một số giao dịch đã chưa phát sinh giao dịch). Trong thời gian này, NHNN đã cho phép một số TCTD thực hiện các giao dịch phái sinh ngoại tệ như:

(i) Ngân hàng Citibank Việt Nam thực hiện thí điểm hoán đổi lãi suất giữa 2 đồng tiền từ tháng 3/2005 đến tháng 02/2006; Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam thực hiện hoán đổi lãi suất chéo giữa 2 đồng tiền (Cross Currency Swap - CCS) đối với khoản vay ngoại tệ của khách hàng sau khi khách hàng vay ngoại tệ; thực hiện cung cấp sản phẩm gắn với rủi ro tín dụng - lãi suất cơ cấu cho tiền gửi và giấy tờ có giá; theo đó, lãi suất của khách hàng được hưởng sẽ không cố định mà nằm trong một khoảng dao động nhất định và phụ thuộc vào sự biến động của một số yếu tố thị trường như tỉ giá, lãi suất, giá sản phẩm hàng hóa.

(ii) NHTM cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn lãi suất đối với các khoản cho vay hoặc đi vay trung hạn bằng USD hoặc Euro. Đối tác thực hiện giao dịch quyền chọn lãi suất là các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, các NHTM hoạt động tại Việt Nam được NHNN cho phép thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn lãi suất và các ngân hàng nước ngoài.

(iii) NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất kèm theo điều kiện quyền chọn với các đối tác là TCTD hoạt động tại Việt Nam và các pháp nhân khác hoạt động ở trong nước và nước ngoài, phù hợp với quy định của pháp luật. Quyền chọn thuộc về Vietcombank là quyền kết thúc trước hạn hợp đồng Swap đối với các khoản vay.

(iv) Ngân hàng HSBC Việt Nam thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất cộng dồn, thời hạn của hợp đồng tối đa 5 năm. Theo thỏa thuận hoán đổi này, khách hàng vay của Ngân hàng HSBC Việt Nam sẽ trả theo tỉ giá tham chiếu hàng ngày dựa trên lãi suất mà ngân hàng đề nghị cho các ngân hàng khác vay tiền không có bảo đảm trên thị trường tiền tệ bán buôn Singapore (Sibor) cộng với phần chênh lệch và tổng lãi suất phải trả này không vượt quá mức lãi suất cao nhất đã được định trước. Đổi lại, Ngân hàng HSBC Việt Nam sẽ trả lãi suất Sibor cộng với phần chênh lệch cho những ngày lãi suất Sibor dao động trong một khoảng được định trước. Cụ thể, hợp đồng này thỏa thuận giữa khách hàng vay vốn với thời hạn 6 năm lãi suất thả nổi. Nếu đến ngày đáo hạn lãi suất Sibor không vượt quá mức lãi suất xác định trước (4,5%/năm) thì Ngân hàng HSBC Việt Nam sẽ trả lãi suất cho khách hàng với mức lãi suất (Sibor + 1,1% ). Trường hợp vượt mức lãi suất định trước, thì Ngân hàng HSBC Việt Nam không phải trả mức lãi suất này. Đổi lại, khách hàng sẽ trả cho Ngân hàng HSBC Việt Nam mức lãi suất (Sibor + 0,6%), nhưng tối đa không vượt quá 5,1%/năm; thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất giữa 2 đồng tiền.

(v) NHTM cổ phần Quốc tế (VIB), Vietcombank; NHTM cổ phần Á Châu (ACB), BIDV, NHTM cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), NHTM cổ phần Quân đội (MB) thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ (Option ngoại tệ/VND); Ngân hàng Citibank Việt Nam, Ngân hàng ABN-AMRO Việt Nam thực hiện nghiệp vụ hoán đổi lãi suất bắt đầu thực hiện trong tương lai (Forward Start Swap).

2.2.2. Trong giai đoạn phát triển hiện nay

Cùng với sự phát triển của các loại hình chứng khoán phái sinh trên thị trường tài chính, bên cạnh các sản phẩm phái sinh hàng hóa, phái sinh lãi suất… các NHTM đang tăng cường triển khai và hoàn thiện các sản phẩm phái sinh ngoại tệ. Đây là xu hướng tất yếu, phản ánh sự hội nhập quốc tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong xu hướng tự do hóa thị trường tài chính toàn cầu. Hiện nay, loại công cụ tài chính phái sinh được phổ biến nhiều nhất ở Việt Nam là công cụ tài chính phái sinh tiền tệ. Để thực hiện hoạt động mua bán ngoại tệ, các NHTM đã tổ chức phòng kinh doanh tiền tệ, đầu tư hệ thống máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại như hệ thống Reuters Dealing, Reuters Extra, Reuters Eikon, hệ thống SWIFT, hệ thống Core Banking, máy fax, máy scan, máy điện thoại ghi âm... tạo thuận lợi cho các giao dịch viên giao dịch tức thời nhưng vẫn bảo đảm tính chất pháp lý của giao dịch.

Bên cạnh đó, để kiểm soát, ngăn ngừa, hạn chế rủi ro, các NHTM cũng đã xây dựng một số hệ thống hạn mức như: Hạn mức/một giao dịch, hạn mức lỗ/một giao dịch, trạng thái mở trong ngày, trạng thái mở qua đêm đối với từng chức danh và báo cáo trạng thái ngoại tệ theo quy định của NHNN. Một số NHTM đã nghiên cứu đưa ra các sản phẩm phái sinh kết hợp nhiều tiện ích, thích hợp với điều kiện lạm phát và tỉ giá biến động thường xuyên, điển hình như một số sản phẩm phái sinh do BIDV cung cấp là kết hợp giữa mua bán ngoại tệ, phái sinh với sản phẩm tiền gửi, tín dụng, tài trợ thương mại, chuyển tiền… Đặc biệt, các sản phẩm của BIDV được đánh giá là cạnh tranh trên thị trường do đa dạng về kỳ hạn, đồng tiền, mặt hàng giao dịch, lãi suất tham chiếu và linh hoạt về thời gian thanh toán.

Từ giai đoạn thí điểm triển khai cung ứng các sản phẩm phái sinh đến nay, BIDV là một trong những ngân hàng luôn tiên phong trong triển khai đa dạng các sản phẩm phái sinh tiền tệ và lãi suất với thời gian thanh toán linh hoạt. Nhằm hỗ trợ khách hàng tiết kiệm chi phí giao dịch và đa dạng hóa việc lựa chọn sản phẩm, BIDV cung cấp các gói sản phẩm kết hợp như mua bán ngoại tệ, phái sinh với tiền gửi, tín dụng và tài trợ thương mại. Theo Báo cáo tài chính quý IV/2024 của BIDV, tính đến ngày 31/12/2024, tổng giá trị ghi sổ của các giao dịch phái sinh tiền tệ đạt 75.548,664 tỉ đồng, trong đó, giao dịch kỳ hạn đạt 10.943,598 tỉ đồng, giao dịch hoán đổi đạt 64.605,066 tỉ đồng. Với giao dịch hoán đổi lãi suất ghi nhận tổng giá trị ghi sổ đạt 6.249,793 tỉ đồng. Trong 4 năm liền (2021 - 2024), BIDV cũng đã nhận giải thưởng "Ngân hàng cung cấp dịch vụ phái sinh tốt nhất Việt Nam" do Tạp chí Asian Banking & Finance (ABF) bình chọn.

Tại NHTM cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), cung ứng sản phẩm phái sinh là một trong những mô hình kinh doanh được VPBank đầu tư nhằm nâng cao các giải pháp quản lý rủi cho khách hàng. Theo đó, VPBank đã từng bước cải tiến, số hóa mọi khâu trong quy trình giao dịch phái sinh, qua đó, giúp khách hàng có cơ hội trải nghiệm nhiều phương thức giao dịch tự động thông qua các sản phẩm ngoại tệ giao ngay, ngoại tệ kỳ hạn, hoán đổi tiền tệ chéo (CCS), hoán đổi lãi suất một đồng tiền (IRS), hoán đổi lãi suất cộng dồn (AIRS). Theo Báo cáo tài chính quý IV/2024 của VPBank, tổng giá trị hợp đồng (tính theo tỉ giá ngày hiệu lực hợp đồng) của các sản phẩm phái sinh tiền tệ đạt 175.293,112 tỉ đồng, trong đó, giao dịch kỳ hạn đạt 36.417,208 tỉ đồng, giao dịch hoán đổi đạt 138.875,904 tỉ đồng.

Trên nền tảng số, MB là ngân hàng tiên phong triển khai sản phẩm phái sinh ngoại tệ qua App MBBank cho khách hàng cá nhân và BIZ MBBank cho khách hàng doanh nghiệp. Đồng thời, MB cũng là ngân hàng đầu tiên ra mắt công cụ Chatbot giúp tư vấn thông tin thị trường cũng như tự động chốt giao dịch phái sinh ngoại tệ với khách hàng doanh nghiệp.

NHTM cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cung ứng sản phẩm cho vay bằng VND theo lãi suất ngoại tệ. Với sản phẩm này, khách hàng được ngân hàng cho vay bằng VND với lãi suất ngoại tệ (số tiền cho vay này sẽ được xác định trước bằng một giá trị ngoại tệ khi ký kết hợp đồng tín dụng và giải ngân), khi thực hiện hợp đồng tín dụng, khách hàng trả nợ vay, lãi vay bằng VND theo tỉ giá ngoại tệ vào ngày trả nợ; cho vay bằng VND theo lãi suất ngoại tệ có bảo hiểm tỉ giá: Sản phẩm này giống như sản phẩm trên nhưng ngân hàng có thể thực hiện bảo hiểm tỉ giá cho doanh nghiệp. Cụ thể khi tỉ giá ngoại tệ tăng trên 2% hoặc 3% so với tỉ giá tại thời điểm giải ngân thì khách hàng chỉ phải thanh toán cho ngân hàng số tiền VND tương ứng với mức tăng tỉ giá 2 - 3%, phần vượt ngân hàng chịu. Với sản phẩm này, khách hàng có thể tính toán được trước mức tối đa mà khách hàng phải thanh toán do tỉ giá tăng.

3. Một số hạn chế và kiến nghị trong hoạt động cung ứng sản phẩm phái sinh của các TCTD tại Việt Nam

3.1. Hạn chế

Một là, chi phí giao dịch có liên quan để mua/bán/giao dịch công cụ tài chính phái sinh còn cao. Chi phí giao dịch bao gồm: Chi phí tìm kiếm thông tin; chi phí thương lượng với đối tác; chi phí để điều chỉnh trạng thái nhằm thích nghi với điều kiện mới của thị trường; chi phí phát sinh từ những yếu tố bất định và rủi ro về thông tin, thể chế...; chi phí ủy quyền tác nghiệp; chi phí thực hiện và giám sát.

Hai là, một số TCTD tại Việt Nam còn thiếu nguồn nhân lực chất lượng và cơ sở hạ tầng hiện đại để thực hiện các giao dịch phái sinh do việc cung ứng sản phẩm phái sinh đòi hỏi TCTD phải có hệ thống thông tin dự báo tỉ giá quốc tế nhanh, chính xác, cập nhật liên tục; công cụ đo lường, cảnh báo rủi ro tỉ giá, lãi suất; có đội ngũ các nhà quản lý, giao dịch viên chuyên nghiệp, am hiểu thị trường phái sinh.

Ba là, thực tế hiện nay cho thấy, đa phần các TCTD không ưu tiên triển khai loại hợp đồng quyền chọn ngoại tệ do các TCTD và nhà đầu tư ưa thích lựa chọn những giao dịch phổ biến như hợp đồng giao ngay và kỳ hạn.

3.2. Một số kiến nghị

Hoạt động cung ứng sản phẩm phái sinh của các TCTD Việt Nam khá giàu tiềm năng phát triển trong tương lai khi tỉ giá chịu nhiều biến động của thị trường. Để thúc đẩy sự phát triển của hoạt động phái sinh, bài viết đề xuất một số kiến nghị với phía cơ quan quản lý nhà nước và các TCTD như sau:

Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Nghiên cứu chỉnh sửa, bổ sung các thuật ngữ có liên quan đến phái sinh một cách rõ ràng, phù hợp hơn với thực tiễn và thông lệ quốc tế; xây dựng phương án đánh giá sản phẩm phái sinh trên cả hai mặt tích cực và hạn chế, xem xét mở rộng phạm vi thực hiện các công cụ phái sinh…; tăng cường giám sát rủi ro từ xa qua hệ thống thông tin báo cáo của các TCTD và kiểm tra tại chỗ để kịp thời phát hiện, ngăn chặn rủi ro kinh doanh tiền tệ, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.

Đối với các TCTD: Tiếp tục đa dạng hóa các sản phẩm phái sinh. Các TCTD cũng cần chủ động hơn trong việc kiểm soát rủi ro khi cung ứng, sử dụng các sản phẩm phái sinh, đặc biệt là trong việc đưa ra các quy định nội bộ về kiểm soát, kiểm toán nội bộ, quản lý rủi ro liên quan đến hoạt động kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh. Thêm vào đó, các TCTD cần mở các lớp tập huấn cho cán bộ, nhân viên nhằm nâng cao hiểu biết và học tập kinh nghiệm quốc tế về công cụ phái sinh. Ngoài ra, TCTD cũng cần trang bị thêm phần mềm xử lý, quản lý rủi ro đối với các nghiệp vụ phái sinh; đồng thời, mở rộng quan hệ hợp tác với các TCTD trên thị trường quốc tế để tranh thủ sự tư vấn, hỗ trợ về kiến thức, công nghệ… nhằm nâng cao chất lượng hoạt động cung ứng sản phẩm phái sinh.

Tài liệu tham khảo:

1. Đỗ Thu Hằng, Nguyễn Thị Thu Trang (2018). Thực trạng cung ứng phái sinh tại các TCTD Việt Nam và một số khuyến nghị. Tạp chí Ngân hàng số 24, 12/2018.

2. NHNN (2015). Thị trường công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam - Những tác động đến phát triển kinh tế và giải pháp về kế toán. https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/sm/chitiet/inbaiviet?dDocName=SBV240652&_afrLoop=627018091228000

3. Nguyễn Trọng Nghiệp, Nguyễn Hoàng Thanh Trúc, Huỳnh Minh Đoàn, Thái Thanh Thu, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Lê Thị Xuyến (2018). Thực trạng giao dịch các công cụ phái sinh của các NHTM Việt Nam. Tạp chí Khoa học Đại học Cửu Long số 11/2018.

4. Trần Quốc Thịnh (2019). Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường phái sinh tiền tệ tại các NHTM Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing số 51, 06/2019.

5. Báo cáo tài chính của hợp nhất quý IV/2024 của BIDV và VPBank

6. Một số tài liệu tham khảo khác.

Ngọc Linh
NHNN

Tin bài khác

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Ngày 03/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm sơ kết, đánh giá những kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức, khó khăn, đề ra giải pháp, định hướng thời gian tới. Thống đốc Phạm Đức Ấn và Ban Lãnh đạo NHNN điều hành Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục thuộc NHNN, lãnh đạo các tổ chức, Hiệp hội trong Ngành, các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới điểm cầu NHNN chi nhánh các khu vực.
Xem thêm
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại