Giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc nhằm hỗ trợ tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và tăng cường sự ổn định của hệ thống ngân hàng

Chính sách
Thông tư số 23/2025/TT-NHNN là bước điều chỉnh quan trọng trong quản lý dự trữ bắt buộc, với tác động đa chiều đến tổ chức tín dụng và toàn bộ hệ thống ngân hàng. Chính sách này không chỉ giải phóng nguồn lực hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng yếu, kém, mà còn tăng cường kỷ luật thị trường, nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ và củng cố niềm tin của công chúng.
aa

Tóm tắt: Ngày 12/8/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 23/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 30/2019/TT-NHNN quy định về thực hiện dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư số 23/2025/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 01/10/2025, với nhiều điểm thay đổi quan trọng như bổ sung đối tượng áp dụng là ngân hàng chính sách, giảm 50% tỉ lệ dự trữ bắt buộc cho các TCTD tham gia hỗ trợ hoặc nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng thương mại yếu, kém, đồng thời điều chỉnh cơ chế giám sát và trách nhiệm xử lý vi phạm. Những điều chỉnh này không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật trong điều hành chính sách tiền tệ, mà còn tác động trực tiếp tới năng lực thanh khoản, quá trình tái cơ cấu ngân hàng yếu, kém và sự ổn định của hệ thống tài chính - ngân hàng. Bài viết này nhằm phân tích các tác động chính của Thông tư số 23/2025/TT-NHNN đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị đối với các bên liên quan để đảm bảo chính sách phát huy hiệu quả trong thực tiễn.

Từ khóa: Thông tư số 23/2025/TT-NHNN, dự trữ bắt buộc, ngành Ngân hàng.

REDUCING THE RESERVE REQUIREMENT RATIO TO SUPPORT THE RESTRUCTURING OF CREDIT INSTITUTIONS AND ENHANCE THE STABILITY OF THE BANKING SYSTEM

Abstract: On August 12, 2025, the Governor of the State Bank of Vietnam promulgated Circular No. 23/2025/TT-NHNN amending and supplementing a number of articles of Circular No. 30/2019/TT-NHNN on the implementation of reserve requirements by credit institutions and foreign bank branches. Effective from October 1, 2025, the new circular introduces several significant changes, including the inclusion of policy banks as regulated entities, a 50% reduction in the reserve requirement ratio for credit institutions participating in the support or mandatory acquisition of weak commercial banks, as well as adjustments to monitoring mechanisms and responsibilities for handling violations. These adjustments not only carry technical implications for monetary policy operations but also have a direct impact on liquidity capacity, the restructuring process of weak banks, and the stability of the financial and banking system. This article analyzes the key impacts of Circular No. 23/2025/TT-NHNN on the Vietnamese banking system and offers recommendations for relevant stakeholders to ensure effective policy implementation in practice.

Keywords: Circular No. 23/2025/TT-NHNN, reserve requirements, banking sector.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Một số nội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng tại Thông tư số 23/2025/TT-NHNN

1.1. Bổ sung ngân hàng chính sách thuộc đối tượng áp dụng quy định về dự trữ bắt buộc

Việc đưa ngân hàng chính sách vào diện áp dụng quy định về dự trữ bắt buộc1 là một trong những điểm đổi mới quan trọng của Thông tư số 23/2025/TT-NHNN. Trước đây, ngân hàng chính sách chủ yếu được coi là công cụ thực thi chính sách của Chính phủ, tập trung cho vay ưu đãi nhằm phục vụ mục tiêu an sinh xã hội và phát triển kinh tế - xã hội, nên thường không bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định mang tính thương mại như dự trữ bắt buộc. Việc mở rộng phạm vi điều chỉnh sang nhóm ngân hàng này giúp tăng tính đồng bộ và toàn diện của chính sách tiền tệ. Khi ngân hàng chính sách cũng thực hiện nghĩa vụ dự trữ bắt buộc, NHNN có thêm công cụ kiểm soát thanh khoản thống nhất trên toàn hệ thống, hạn chế tình trạng “khoảng trống điều tiết” ở một khu vực vốn chiếm tỉ trọng lớn trong tín dụng ưu đãi.

Quy định mới còn góp phần nâng cao kỷ luật tài chính, buộc ngân hàng chính sách tiệm cận hơn với các chuẩn mực hoạt động chung, đồng thời minh bạch hơn trong quản lý dòng vốn. Điều này không chỉ gia tăng niềm tin của công chúng trong nước mà còn cải thiện hình ảnh của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong mắt các tổ chức quốc tế và nhà đầu tư nước ngoài. Dĩ nhiên, do ngân hàng chính sách chủ yếu dựa vào vốn từ ngân sách và phát hành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh, việc phải duy trì dự trữ bắt buộc có thể khiến chi phí vốn tăng lên ở mức nhất định. Tuy vậy, tác động này được bù đắp bằng sự ổn định vĩ mô, tính minh bạch cao hơn và uy tín được nâng lên khi toàn hệ thống vận hành trong một khuôn khổ thống nhất. Đồng thời, nghĩa vụ dự trữ bắt buộc cũng tạo thêm một “bộ đệm an toàn” trong quản lý thanh khoản cho ngân hàng chính sách, nhất là khi nhu cầu tín dụng ưu đãi có thể biến động mạnh theo các chương trình mục tiêu quốc gia. Như vậy, quy định mới không chỉ mang tính kỹ thuật trong quản lý tiền tệ, mà còn phản ánh định hướng thu hẹp khoảng cách giữa ngân hàng chính sách và ngân hàng thương mại, hướng tới một hệ thống tài chính đồng bộ, minh bạch và an toàn hơn.

1.2. Giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc cho TCTD hỗ trợ hoặc nhận chuyển giao

Một trong những điểm nổi bật của Thông tư số 23/2025/TT-NHNN là cơ chế giảm 50% tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD tham gia hỗ trợ ngân hàng yếu, kém trong diện kiểm soát đặc biệt hoặc nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng thương mại được kiểm soát đặc biệt2. Quy định này mang lại nhiều tác động tích cực đối với cả hệ thống ngân hàng. Trước hết, việc giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc giúp giảm gánh nặng chi phí vốn và cải thiện thanh khoản, bởi dự trữ bắt buộc vốn là khoản tiền phải duy trì tại NHNN và không được phép sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Với ưu đãi giảm một nửa tỉ lệ này, các TCTD tham gia tái cơ cấu sẽ có thêm nguồn vốn khả dụng đáng kể để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, mở rộng tín dụng hoặc xử lý khó khăn tài chính tại ngân hàng yếu, kém. Đồng thời, đây là một cơ chế khuyến khích tài chính trực tiếp, tạo động lực để các TCTD mạnh dạn tham gia vào quá trình tái cơ cấu vốn thường tiềm ẩn nhiều chi phí và rủi ro.

Xa hơn, chính sách này góp phần thúc đẩy tiến độ tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, bởi khi có thêm nguồn lực, quá trình xử lý ngân hàng yếu, kém có thể diễn ra nhanh hơn, từ đó giảm nguy cơ “lây lan rủi ro” và củng cố sự ổn định toàn hệ thống. Tuy nhiên, xét ở khía cạnh rủi ro, việc giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc đồng nghĩa với cung tiền trong lưu thông có thể gia tăng, qua đó gây áp lực lạm phát nếu không được điều tiết đồng bộ bằng các công cụ khác của chính sách tiền tệ. Ngoài ra, cơ chế nới lỏng này cũng đòi hỏi đi kèm với giám sát chặt chẽ để đảm bảo nguồn vốn giải phóng được sử dụng đúng mục đích, thay vì chảy vào các lĩnh vực đầu cơ rủi ro cao như bất động sản hoặc chứng khoán. Như vậy, chính sách giảm dự trữ bắt buộc vừa mang tính hỗ trợ tài chính trực tiếp cho TCTD tham gia tái cơ cấu, vừa là giải pháp ổn định hệ thống, nhưng cần được triển khai trong khuôn khổ giám sát minh bạch để đảm bảo hiệu quả và bền vững.

1.3. Bổ sung trách nhiệm cụ thể của Cục Quản lý, giám sát TCTD và Thanh tra NHNN

Thông tư số 23/2025/TT-NHNN không chỉ dừng lại ở việc điều chỉnh kỹ thuật về tỉ lệ dự trữ bắt buộc, mà còn nhấn mạnh vai trò giám sát và chế tài như một “mắt xích” then chốt nhằm đảm bảo hiệu lực thực thi chính sách. Theo Điều 7 của Thông tư, Cục Quản lý, giám sát TCTD có trách nhiệm tổng hợp, rà soát và ban hành văn bản thông báo về việc áp dụng giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD tham gia hỗ trợ hoặc nhận chuyển giao, đồng thời theo dõi và giám sát quá trình thực hiện để kịp thời phát hiện vi phạm. Song song, Thanh tra NHNN được trao thêm thẩm quyền thanh tra, xử lý và kiến nghị xử lý đối với các trường hợp vi phạm quy định về dự trữ bắt buộc, từ đó nâng cao tính răn đe và kỷ luật thị trường.

Cơ chế phối hợp này bảo đảm rằng, mọi hành vi vi phạm sẽ được ghi nhận, chia sẻ thông tin và xử lý qua nhiều cấp, qua đó hạn chế tối đa tình trạng bỏ sót hoặc xử lý chậm. Nhờ đó, tính răn đe được củng cố, buộc các ngân hàng phải chủ động tuân thủ do biết rằng việc thiếu dự trữ sẽ nhanh chóng bị phát hiện và xử lý. Đồng thời, việc quy định rõ trách nhiệm giải trình cho từng đơn vị trong NHNN góp phần tránh tình trạng chồng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm, hướng đến một hệ thống quản trị minh bạch và hiệu quả hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế. Quan trọng hơn, đây cũng là dấu hiệu cho thấy NHNN đang dịch chuyển từ tư duy “quản lý hành chính” sang “giám sát rủi ro”, nhấn mạnh phòng ngừa và kiểm soát chủ động thay vì chỉ tập trung xử lý hậu quả.

2. Một số tác động Thông tư số 23/2025/TT-NHNN đến các TCTD và hệ thống tài chính - ngân hàng

2.1. Đối với các TCTD

Việc giảm 50% dự trữ bắt buộc mang lại nhiều lợi ích trực tiếp cho các ngân hàng tham gia hỗ trợ hoặc nhận chuyển giao. Trước hết, nguồn vốn được giải phóng sẽ giúp giảm áp lực thanh khoản, tạo điều kiện để ngân hàng chủ động xử lý nợ xấu, tái cơ cấu hoạt động và duy trì tăng trưởng tín dụng. Bên cạnh đó, với việc NHNN quy định rõ trách nhiệm giám sát và chế tài, các TCTD sẽ buộc phải nâng cao tính minh bạch và tuân thủ kỷ luật tài chính, qua đó hạn chế hành vi lách luật hoặc sử dụng vốn sai mục đích. Đồng thời, do lượng vốn “bất động” tại NHNN giảm đi, ngân hàng có thể tận dụng nguồn vốn linh hoạt hơn để hạ chi phí vốn, mở rộng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, để cơ chế ưu đãi này phát huy hiệu quả bền vững, các TCTD cần gắn việc sử dụng vốn với chiến lược dài hạn như tăng vốn tự có, trích lập dự phòng rủi ro và nâng cao năng lực quản trị, thay vì chạy theo lợi nhuận ngắn hạn từ các kênh đầu tư rủi ro cao.

2.2. Đối với hệ thống tài chính - ngân hàng

Thông tư số 23/2025/TT-NHNN có tác động trực tiếp đến sự ổn định, hiệu quả và minh bạch của hệ thống tài chính - ngân hàng. Trước hết, cơ chế giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc cho các TCTD tham gia hỗ trợ hoặc nhận chuyển giao ngân hàng yếu, kém, giúp tạo ra một “lá chắn” chống đổ vỡ dây chuyền. Khi một ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, rủi ro lan truyền sang các ngân hàng khác là rất lớn; vì vậy, chính sách này khuyến khích các ngân hàng khỏe mạnh chung tay xử lý, qua đó chia sẻ gánh nặng thay vì để NHNN hoặc ngân sách nhà nước phải gánh toàn bộ chi phí cứu trợ. Đây là bước đi quan trọng nhằm phân tán rủi ro trong hệ thống và củng cố sức khỏe chung của ngành Ngân hàng.

Bên cạnh đó, việc bổ sung cơ chế giám sát chặt chẽ hơn giúp tăng hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ. Dự trữ bắt buộc vốn là công cụ then chốt trong kiểm soát cung tiền, nhưng nếu thiếu giám sát, dễ xảy ra tình trạng ngân hàng duy trì mức dự trữ thấp để tận dụng vốn ngắn hạn. Với sự phối hợp giữa các đơn vị thuộc NHNN (Vụ Chính sách tiền tệ; Cục Quản lý, giám sát TCTD; Thanh tra NHNN), dữ liệu về dự trữ bắt buộc sẽ minh bạch, kịp thời hơn, cho phép NHNN dự báo chính xác hơn tình hình thanh khoản, từ đó điều chỉnh linh hoạt các công cụ khác như lãi suất điều hành, nghiệp vụ thị trường mở để cân bằng giữa kiểm soát lạm phát, ổn định tỉ giá và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Đáng chú ý, Thông tư số 23/2025/TT-NHNN cũng góp phần nâng cao tính kỷ luật và trách nhiệm giải trình. Khi trách nhiệm được phân định rõ ràng, nguy cơ bỏ sót, xử lý chậm hoặc đùn đẩy trách nhiệm sẽ giảm. Điều này không chỉ giúp củng cố kỷ luật tài chính trong nội bộ hệ thống ngân hàng, mà còn tăng niềm tin của thị trường, nhà đầu tư và các tổ chức quốc tế vào sự minh bạch và khả năng giám sát của NHNN. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia cũng như khả năng huy động vốn quốc tế trong tương lai.

Tuy nhiên, trong trung hạn, chính sách giảm dự trữ bắt buộc đồng nghĩa với việc cung tiền lưu thông tăng lên, giúp ngân hàng có thêm dư địa mở rộng tín dụng, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhưng mặt khác, dòng vốn dồi dào và giá vốn rẻ có thể dẫn tới áp lực lạm phát nếu không được kiểm soát, đặc biệt khi dòng vốn chảy quá nhanh vào các lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản hay chứng khoán. Do đó, Thông tư số 23/2025/TT-NHNN vừa tạo ra cơ hội tăng trưởng, vừa đặt ra thách thức trong việc duy trì ổn định vĩ mô và an toàn hệ thống, đòi hỏi NHNN phải song hành với các biện pháp trung hòa thanh khoản và phối hợp chính sách tài khóa để hạn chế rủi ro phát sinh.

Để hình dung rõ hơn tác động của việc giảm 50% tỉ lệ dự trữ bắt buộc, có thể xét tình huống giả định sau:

Giả sử một ngân hàng thương mại tham gia hỗ trợ một ngân hàng yếu kém đang trong diện kiểm soát đặc biệt có 100.000 tỉ đồng tiền gửi VND ngắn hạn (<12 tháng). theo quy định tại thông tư số 30>

3. Một số kiến nghị nhằm triển khai hiệu quả Thông tư số 23/2025/TT-NHNN

3.1. Đối với Chính phủ

Chính phủ đóng vai trò kiến tạo khung pháp lý và điều phối chính sách vĩ mô để hỗ trợ quá trình thực thi Thông tư số 23/2025/TT-NHNN. Theo đó, Chính phủ tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cho tái cơ cấu ngân hàng yếu, kém, bao gồm quy định về phá sản, mua bán - sáp nhập (M&A), quản lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm. Việc tháo gỡ các vướng mắc trong thủ tục pháp lý, cho phép áp dụng cơ chế đặc thù trong một số trường hợp, sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ xử lý và giảm thiểu rủi ro pháp lý cho các TCTD tham gia chuyển giao bắt buộc, hợp nhất hoặc mua lại ngân hàng yếu kém. Song song đó, Chính phủ cần phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để đảm bảo mục tiêu kép: Hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn kiểm soát lạm phát. Cụ thể, nên duy trì chi tiêu công hợp lý, ưu tiên các dự án hạ tầng, chuyển đổi số và năng lượng tái tạo nhằm nâng cao năng suất dài hạn; đồng thời quản lý ngân sách chặt chẽ, kiểm soát bội chi và nợ công để tránh tạo áp lực lạm phát từ phía tài khóa. Bên cạnh đó, việc tăng cường phối hợp giữa Bộ Tài chính và NHNN trong công tác dự báo và giám sát dòng vốn sẽ giúp hai chính sách tài khóa - tiền tệ vận hành đồng bộ, góp phần củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao sức chống chịu của hệ thống tài chính - ngân hàng.

3.2. Đối với NHNN

Để đảm bảo Thông tư số 23/2025/TT-NHNN phát huy hiệu quả thực tiễn, vai trò của NHNN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước hết, NHNN cần giám sát chặt chẽ việc sử dụng nguồn vốn được giải phóng từ giảm dự trữ bắt buộc, bảo đảm dòng vốn này phục vụ đúng mục tiêu hỗ trợ hệ thống, đặc biệt là tái cơ cấu ngân hàng yếu, kém và xử lý nợ xấu. Cơ chế giám sát cần đi kèm với yêu cầu báo cáo chi tiết, định kỳ từ các TCTD về phương án sử dụng vốn, nhằm ngăn ngừa tình trạng vốn bị chuyển hướng sang hoạt động đầu cơ hoặc các lĩnh vực rủi ro cao.

Bên cạnh đó, NHNN cần đánh giá tác động của chính sách đến cung tiền, lãi suất, tỉ giá và lạm phát. Việc giảm dự trữ bắt buộc đồng nghĩa với cung tiền tăng, có thể tạo áp lực lạm phát trong trung hạn; do đó, các công cụ trung hòa như tín phiếu, thị trường mở hoặc điều chỉnh lãi suất điều hành phải được sử dụng linh hoạt và kịp thời để tránh mất cân đối thanh khoản.

Ngoài ra, tính minh bạch trong công bố thông tin là yếu tố quan trọng để củng cố niềm tin thị trường. NHNN nên công khai rõ ràng về cơ chế giảm dự trữ bắt buộc, danh sách các TCTD được hưởng ưu đãi, cũng như các báo cáo đánh giá định kỳ về hiệu quả thực hiện. Sự minh bạch này không chỉ giúp định hướng kỳ vọng thị trường, tránh tâm lý hoang mang, mà còn nâng cao uy tín và kỷ luật của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong mắt nhà đầu tư, người gửi tiền và các tổ chức quốc tế.

3.3. Đối với các TCTD

Việc giảm 50% tỉ lệ dự trữ bắt buộc theo Thông tư số 23/2025/TT-NHNN giúp TCTD có thêm nguồn vốn khả dụng, tạo dư địa tài chính để cơ cấu lại hoạt động. Tuy nhiên, để chính sách thực sự phát huy hiệu quả, các ngân hàng cần định hướng sử dụng nguồn lực này vào những mục tiêu mang tính chiến lược và dài hạn, thay vì chạy theo lợi nhuận ngắn hạn hoặc các khoản đầu tư rủi ro. Cụ thể:

Một là, tăng cường năng lực tài chính và tái cơ cấu hoạt động. Nguồn vốn được giải phóng nên ưu tiên cho các hoạt động như tăng vốn điều lệ, trích lập dự phòng rủi ro, xử lý nợ xấu và đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, quản trị dữ liệu. Đây là những khoản đầu tư bền vững, giúp củng cố sức khỏe tài chính, nâng cao khả năng cạnh tranh và chuẩn bị cho giai đoạn hội nhập sâu rộng.

Hai là, nâng cao năng lực quản trị rủi ro. Nếu nguồn vốn dư thừa bị sử dụng cho các lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản, chứng khoán hoặc dự án thiếu minh bạch, nguy cơ hình thành nợ xấu mới sẽ rất lớn. Do đó, các ngân hàng cần tăng cường kiểm soát nội bộ, thiết lập giới hạn tín dụng theo ngành, lĩnh vực, đầu tư vào hệ thống cảnh báo sớm và quản trị rủi ro toàn diện. Việc tuân thủ các chuẩn mực Basel II và từng bước tiếp cận Basel III sẽ là nền tảng để duy trì an toàn vốn trong dài hạn.

Ba là, minh bạch thông tin và hội nhập chuẩn mực quốc tế. Song song với việc tái cơ cấu và quản trị rủi ro, các TCTD cần nâng cao chuẩn mực công bố thông tin nhằm tạo niềm tin cho thị trường. Việc áp dụng Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế IFRS 9 giúp phản ánh trung thực hơn giá trị tài sản và rủi ro tín dụng, trong khi tiếp cận Basel III sẽ củng cố quản trị vốn và thanh khoản. Ngoài ra, minh bạch hóa báo cáo tài chính, dự phòng rủi ro và kết quả hoạt động sẽ gia tăng niềm tin từ công chúng, nhà đầu tư và tổ chức quốc tế.

4. Kết luận

Thông tư số 23/2025/TT-NHNN là bước điều chỉnh quan trọng trong quản lý dự trữ bắt buộc, với tác động đa chiều đến TCTD và toàn bộ hệ thống ngân hàng. Chính sách này không chỉ giải phóng nguồn lực hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng yếu, kém, mà còn tăng cường kỷ luật thị trường, nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ và củng cố niềm tin của công chúng. Tuy nhiên, để chính sách phát huy tối đa hiệu quả, cần sự phối hợp đồng bộ giữa các TCTD, NHNN và Chính phủ, đảm bảo nguồn lực được sử dụng đúng mục đích và không tạo áp lực lạm phát. Quan trọng hơn, Thông tư số 23/2025/TT-NHNN không chỉ là một thay đổi mang tính kỹ thuật, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược trong việc xây dựng một hệ thống ngân hàng an toàn, minh bạch và hội nhập, góp phần củng cố nền tảng vĩ mô và nâng cao vị thế của ngành ngân hàng Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

1 Điều 1 Thông tư số 23/2025/TT-NHNN.

2 Điều 2 Thông tư số 23/2025/TT-NHNN.

Tài liệu tham khảo:

1. International Monetary Fund (2024), Rethinking Transmission of Monetary Policy in Vietnam.

2. International Monetary Fund (2024), Vietnam: 2024 Article IV Consultation - Staff Report and Press Release.

3. International Monetary Fund (2024), Vietnam: Selected Issues.

4. Krungsri Research (2025), Opportunities for Financial Institutions in Vietnam Amid Economic Uncertainties.

5. NHNN (2025), Báo cáo điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2025.

6. Quyết định số 689/QĐ-TTg ngày 08/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025.

7. Thông tư số 23/2025/TT-NHNN ngày 12/8/2025 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 30/2019/TT-NHNN quy định về dự trữ bắt buộc.

8. Thông tư số 30/2019/TT-NHNN ngày 25/12/2019 của Thống đốc NHNN quy định về dự trữ bắt buộc đối với các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

9. World Bank (2025, March). Taking Stock: Viet Nam Economic Update.

Huyền Linh
NHNN

Tin bài khác

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Ngày 01/01/2026, Văn phòng Quốc hội công bố 10 sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc ban hành các văn bản pháp luật đã phần nào đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (viết tắt là cơ chế thử nghiệm), đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, để cơ chế thử nghiệm thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý tổng thể, thiết lập quy trình minh bạch, cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.
Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Bài viết phân tích thực trạng, nguyên nhân và khẳng định sự cần thiết đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng áp dụng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicators - KPI), đồng thời đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với khu vực công.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bài viết làm rõ triển vọng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đồng thời chỉ ra những điều kiện then chốt để mô hình này phát triển hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Tài chính xanh chỉ có thể phát huy hiệu quả khi dòng vốn được phân bổ đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và thực chất, nhằm bảo đảm tín dụng xanh không chỉ là trách nhiệm với cộng đồng mà còn trở thành cơ hội chiến lược để các ngân hàng định vị hướng phát triển bền vững của mình.
Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm tiền gửi trong mạng lưới an toàn tài chính quốc gia

Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm tiền gửi trong mạng lưới an toàn tài chính quốc gia

Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/5/2026, đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong khuôn khổ pháp lý bảo vệ người gửi tiền tại Việt Nam. Trong bối cảnh hệ thống tài chính - ngân hàng phát triển theo chiều sâu và rủi ro lan truyền gia tăng, bảo hiểm tiền gửi đang được tái định vị như một công cụ chính sách chủ động nhằm quản trị rủi ro hệ thống và củng cố niềm tin thị trường.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Cải cách chính sách thuế thu nhập cá nhân trong bối cảnh hiện đại hóa quản lý tài chính và kinh tế số

Cải cách chính sách thuế thu nhập cá nhân trong bối cảnh hiện đại hóa quản lý tài chính và kinh tế số

Luật Thuế Thu nhập cá nhân năm 2025 cho thấy cách tiếp cận mới trong xây dựng chính sách thuế, khi không chỉ tập trung mở rộng diện thu và tăng cường quản lý thu nhập mà còn chủ động sử dụng thuế như một công cụ định hướng phát triển kinh tế bền vững.
Xem thêm
Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Ngày 01/01/2026, Văn phòng Quốc hội công bố 10 sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc ban hành các văn bản pháp luật đã phần nào đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (viết tắt là cơ chế thử nghiệm), đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, để cơ chế thử nghiệm thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý tổng thể, thiết lập quy trình minh bạch, cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.
Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Bài viết phân tích thực trạng, nguyên nhân và khẳng định sự cần thiết đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng áp dụng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicators - KPI), đồng thời đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với khu vực công.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bài viết làm rõ triển vọng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đồng thời chỉ ra những điều kiện then chốt để mô hình này phát triển hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Tài chính xanh chỉ có thể phát huy hiệu quả khi dòng vốn được phân bổ đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và thực chất, nhằm bảo đảm tín dụng xanh không chỉ là trách nhiệm với cộng đồng mà còn trở thành cơ hội chiến lược để các ngân hàng định vị hướng phát triển bền vững của mình.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế  và khuyến nghị đối với Việt Nam

Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh xét theo cả quy mô giao dịch và mức độ phổ cập trong đời sống tài chính, yêu cầu hoàn thiện khung phòng, chống rửa tiền trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, bởi các chỉ dấu khách quan cho thấy Việt Nam vừa nằm trong nhóm quốc gia có giá trị giao dịch trên chuỗi rất lớn.
Pháp luật Liên minh châu Âu  về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Pháp luật Liên minh châu Âu về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Dữ liệu cá nhân giữ vai trò nền tảng trong thương mại điện tử, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động tương tác và kinh doanh trên môi trường số. Bài viết phân tích quy định của EU (đặc biệt là GDPR 2016), đánh giá tác động thực thi, so sánh với pháp luật Việt Nam để chỉ ra bất cập và đề xuất hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng