Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Chính sách
Bài viết làm rõ triển vọng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đồng thời chỉ ra những điều kiện then chốt để mô hình này phát triển hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
aa

Tóm tắt: Bài viết phân tích triển vọng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, trên cơ sở làm rõ nền tảng lý luận, chính sách và thể chế liên quan. Thông qua đánh giá các lợi thế, thách thức và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, bài viết chỉ ra những điều kiện then chốt quyết định tính khả thi của mô hình trung tâm tài chính tại Việt Nam. Từ đó, tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy chuyển đổi số và tăng cường điều phối chính sách, góp phần xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo hướng hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.

Từ khóa: Trung tâm tài chính quốc tế, hội nhập quốc tế, tự do hóa tài chính.

DEVELOPING INTERNATIONAL FINANCIAL CENTRE IN VIET NAM
IN THE CONTEXT OF INTERNATIONAL INTEGRATION

Abstract: This article analyses the prospects for developing an International Financial Centre in Viet Nam amid deepening international integration, by clarifying the relevant theoretical foundations, policy framework, and institutional arrangements. Through an assessment of advantages and challenges, together with references to international experience, the article identifies key conditions determining the feasibility of International Financial Centre model in Viet Nam. On that basis, the author proposes several policy implications aimed at improving the legal framework, enhancing the quality of financial human resources, promoting digital transformation, and strengthening policy coordination, thereby contributing to the development of an International Financial Centre in Viet Nam in an effective, sustainable manner and in line with international standards.

Keywords: International Financial Centre, international integration, financial liberalisation.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Bối cảnh hội nhập quốc tế và yêu cầu phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, cạnh tranh giữa các Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ phản ánh năng lực phát triển của thị trường tài chính mỗi quốc gia mà còn là thước đo quan trọng về trình độ thể chế, chất lượng điều hành kinh tế vĩ mô và mức độ hội nhập vào hệ thống tài chính toàn cầu. Đối với các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi như Việt Nam, việc hình thành và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế không đơn thuần là mở rộng không gian hoạt động của thị trường tài chính mà còn là một lựa chọn chiến lược mang tính cấu trúc nhằm tái định vị vai trò của quốc gia trong chuỗi giá trị tài chính khu vực và quốc tế.

Từ góc độ lý luận kinh tế chính trị, Trung tâm tài chính quốc tế là một thiết chế tổng hợp, nơi tập trung các dòng vốn, định chế tài chính và công nghệ tài chính (Fintech) hiện đại, tạo hiệu ứng lan tỏa đối với tăng trưởng kinh tế và phân bổ nguồn lực. Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế gắn liền với yêu cầu cải cách thể chế, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và nâng cao năng lực quản trị nhà nước trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ nhằm đáp ứng các chuẩn mực quốc tế ngày càng cao về tính minh bạch, quản trị rủi ro và ổn định tài chính. Việt Nam đứng trước yêu cầu tất yếu phải phát triển một trung tâm tài chính có khả năng kết nối hiệu quả giữa thị trường trong nước với thị trường khu vực và toàn cầu, đáp ứng nhu cầu huy động và phân bổ vốn cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống tài chính quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Đến nay, Việt Nam đã tham gia ngày càng sâu rộng vào hệ thống kinh tế và tài chính toàn cầu, thể hiện qua việc mở rộng và làm sâu sắc các mối liên kết kinh tế quốc tế cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Quá trình hội nhập này được thúc đẩy mạnh mẽ thông qua việc tham gia và thực thi mạng lưới các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, tạo điều kiện thuận lợi cho tự do hóa thương mại, đầu tư và từng bước mở cửa thị trường tài chính theo các cam kết quốc tế. Song song với đó, Việt Nam ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn của các dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI), đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) và các dòng vốn xuyên biên giới khác, phản ánh mức độ hội nhập ngày càng cao của nền kinh tế vào thị trường khu vực và toàn cầu. Trong bối cảnh hội nhập tài chính ngày càng sâu rộng, yêu cầu nâng cao năng lực hấp thụ, phân bổ và quản lý các dòng vốn quốc tế đặt ra ngày càng cao đối với Việt Nam.

Sự gia tăng về quy mô và tính phức tạp của các dòng vốn xuyên biên giới đòi hỏi hệ thống tài chính quốc gia không chỉ đáp ứng yêu cầu ổn định vĩ mô mà còn phải tiệm cận các chuẩn mực quốc tế về quản trị, minh bạch và quản lý rủi ro. Điều này làm nổi bật vai trò của một trung tâm tài chính có khả năng cung cấp các dịch vụ tài chính - ngân hàng - đầu tư đạt chuẩn quốc tế, hoạt động như một đầu mối kết nối hiệu quả giữa thị trường trong nước với thị trường khu vực và toàn cầu. Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ đóng vai trò thu hút các định chế tài chính quốc tế, các quỹ đầu tư và doanh nghiệp Fintech mà còn góp phần nâng cao chất lượng của thị trường tài chính trong nước, hỗ trợ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và bền vững. Đồng thời, sự hiện diện của một Trung tâm tài chính quốc tế còn tạo điều kiện để Việt Nam chủ động tham gia sâu hơn vào mạng lưới tài chính khu vực, qua đó nâng cao vị thế và vai trò của quốc gia trong hệ thống tài chính toàn cầu.

2. Cơ sở chính sách và thể chế phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc hình thành và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam được đặt trên nền tảng chính sách và thể chế đồng bộ, thể hiện sự nhất quán trong chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển thị trường tài chính hiện đại, hội nhập và bền vững. Ngày 18/12/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2755/QĐ-TTg về việc thành lập Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình hiện thực hóa mục tiêu xây dựng trung tâm tài chính mang tầm khu vực và quốc tế. Quyết định thể hiện quyết tâm trong việc thiết lập một cơ chế điều phối chiến lược, liên ngành và liên địa phương bảo đảm tính thống nhất trong hoạch định chính sách, đồng thời tạo nền tảng thể chế cho việc xây dựng lộ trình phát triển Trung tâm tài chính quốc tế theo hướng tiệm cận các thông lệ và chuẩn mực quốc tế.

Theo Quyết định này, Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế được thành lập với mô hình điều hành ở cấp cao nhất do Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ làm Chủ tịch cùng sự tham gia của lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương then chốt và chính quyền hai địa phương trọng điểm là Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Đà Nẵng. Hội đồng điều hành có chức năng hoạch định chiến lược, xây dựng lộ trình và kế hoạch phát triển Trung tâm tài chính quốc tế; ban hành các quy chế hoạt động; điều phối chính sách giữa các cơ quan trung ương và địa phương; đồng thời xử lý các vấn đề phát sinh mang tính liên ngành, liên vùng trong quá trình xây dựng và vận hành trung tâm tài chính. Cách tiếp cận này phản ánh tư duy quản trị hiện đại, trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, định hướng và điều phối phát triển thay vì can thiệp hành chính trực tiếp vào các hoạt động mang tính thị trường. Việc thiết lập cơ chế điều hành ở cấp cao nhất thông qua Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế cho thấy quyết tâm rõ ràng và mạnh mẽ của Chính phủ trong việc phát triển Trung tâm tài chính quốc tế như một cấu phần quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - tài chính quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Đồng thời, đây cũng là tiền đề thể chế quan trọng nhằm tạo lập môi trường chính sách ổn định, minh bạch và có khả năng thích ứng cao, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh với các trung tâm tài chính trong khu vực và trên thế giới.

3. Lợi thế và thách thức của Việt Nam trong phát triển Trung tâm tài chính quốc tế

3.1. Lợi thế

Thứ nhất, nền tảng kinh tế vĩ mô và quy mô thị trường

Trong giai đoạn gần đây, Việt Nam duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định ở mức cao so với khu vực Đông Nam Á, thể hiện qua tốc độ tăng trưởng GDP năm 2025 ước đạt khoảng 8% so với cùng kỳ, bình quân 5 năm (giai đoạn 2021 - 2025) đạt 6,3%, phản ánh sức bật của nền kinh tế trong bối cảnh nhiều thách thức toàn cầu1. Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực, nằm trong nhóm các quốc gia có triển vọng phát triển cao trong trung hạn. Đồng thời, quy mô dân số ước đạt khoảng 102,3 triệu người vào tháng 12/20252 tạo thị trường nội địa lớn cho phát triển dịch vụ tiêu dùng và tài chính. Bối cảnh này, cùng với mức GDP bình quân đầu người dự kiến đạt khoảng 5.000 USD năm 2025, tăng 1,4 lần so với năm 2020 cho thấy tầng lớp trung lưu trong nước đang gia tăng cả về quy mô và khả năng chi tiêu, qua đó tạo dư địa rộng cho các sản phẩm và dịch vụ tài chính phức hợp. Những yếu tố này vừa làm gia tăng nhu cầu đối với các sản phẩm và dịch vụ tài chính đa dạng, vừa tạo nền tảng thị trường đủ lớn để phát triển các phân khúc tài chính có giá trị gia tăng cao. Quy mô thị trường và mức độ năng động của nền kinh tế được xem là điều kiện nền tảng cho sự hình thành và phát triển bền vững của một trung tâm tài chính.

Thứ hai, vị trí địa kinh tế và khả năng kết nối khu vực

Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Đà Nẵng là hai địa phương được xác định là hạt nhân trong chiến lược phát triển Trung tâm tài chính quốc tế đều nằm trên các tuyến giao thương trọng yếu của khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Lợi thế về vị trí địa lý này tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối các hoạt động tài chính với thương mại, logistics và chuỗi cung ứng khu vực, qua đó nâng cao vai trò trung gian tài chính của Việt Nam trong mạng lưới kinh tế khu vực. Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các trung tâm tài chính, khả năng kết nối liên vùng và liên quốc gia là một trong những yếu tố then chốt quyết định sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh dài hạn.

Thứ ba, nền tảng thể chế và cam kết chính sách

Việc thành lập Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế với cơ chế điều phối liên ngành và liên địa phương thể hiện rõ định hướng kiến tạo phát triển của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính. Cơ chế này mở ra khả năng hình thành “không gian thể chế đặc thù” cho phép thử nghiệm và áp dụng các chính sách tài chính tiên tiến, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, đồng thời giảm thiểu các rào cản hành chính trong quá trình triển khai. Đây là điều kiện quan trọng nhằm nâng cao tính linh hoạt, khả năng thích ứng và mức độ tin cậy của môi trường chính sách - những yếu tố cốt lõi đối với sự phát triển của một Trung tâm tài chính quốc tế.

3.2. Thách thức

Bên cạnh những lợi thế trên, quá trình phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam cũng đối mặt với nhiều thách thức mang tính cấu trúc và thể chế có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi và hiệu quả của mô hình trung tâm tài chính trong dài hạn.

Thứ nhất, về khuôn khổ pháp lý và thể chế tài chính

Mặc dù Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong hoàn thiện hệ thống pháp luật về tài chính - ngân hàng, song khuôn khổ pháp lý hiện hành vẫn còn thiếu tính đồng bộ và chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của các hoạt động tài chính hiện đại. So với các Trung tâm tài chính quốc tế phát triển như Singapore hay Hồng Kông, Việt Nam vẫn còn khoảng cách đáng kể về mức độ tự do hóa tài chính, tính minh bạch cũng như các cơ chế bảo vệ nhà đầu tư và quản lý rủi ro. Khoảng cách này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục cải cách thể chế nhằm tạo lập môi trường pháp lý ổn định, dự báo được và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Thứ hai, về chất lượng nguồn nhân lực tài chính cao cấp

Sự thiếu hụt đội ngũ chuyên gia tài chính có trình độ cao, am hiểu sâu các lĩnh vực chuyên biệt như tài chính phái sinh, quản lý tài sản, ngân hàng đầu tư và Fintech đang là một trong những điểm nghẽn lớn đối với quá trình hình thành Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. Trong khi các trung tâm tài chính khu vực đều coi nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố cốt lõi tạo nên lợi thế cạnh tranh, Việt Nam vẫn đang trong quá trình tích lũy và nâng cao năng lực đào tạo, thu hút và giữ chân nhân lực tài chính quốc tế.

Thứ ba, về năng lực cạnh tranh thể chế trong bối cảnh cạnh tranh khu vực gay gắt

Việc thu hút các định chế tài chính toàn cầu không chỉ phụ thuộc vào các ưu đãi về chi phí hay quy mô thị trường, mà còn gắn chặt với chất lượng thể chế, mức độ thuận lợi trong môi trường kinh doanh và khả năng bảo đảm an toàn, ổn định cho các hoạt động tài chính xuyên biên giới. Trong bối cảnh các trung tâm tài chính trong khu vực không ngừng cải cách và nâng cao sức hấp dẫn, năng lực cạnh tranh thể chế của Việt Nam vẫn cần được củng cố mạnh mẽ để có thể tạo dựng niềm tin và sức hút đối với các nhà đầu tư và định chế tài chính quốc tế.

4. Kinh nghiệm quốc tế trong phát triển Trung tâm tài chính quốc tế

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự phát triển bền vững của các Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ dựa vào quy mô thị trường hay vị thế địa lý mà còn phụ thuộc mạnh mẽ vào chất lượng thể chế, môi trường pháp lý minh bạch, cơ sở hạ tầng cạnh tranh và nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo Bảng xếp hạng Global Financial Centres Index (GFCI) do Z/Yen Group (Vương quốc Anh) phối hợp với Viện Phát triển Trung Quốc (China Development Institute) công bố, Hồng Kông và Singapore liên tục nằm trong nhóm các trung tâm tài chính dẫn đầu toàn cầu chỉ sau New York và London trong bảng xếp hạng tổng thể, phản ánh vị thế ổn định và năng lực cạnh tranh cao của các trung tâm tài chính hàng đầu thế giới. Bảng xếp hạng GFCI được xây dựng trên cơ sở tổng hợp hơn 140 yếu tố đầu vào từ các nguồn dữ liệu quốc tế uy tín như Ngân hàng Thế giới, Diễn đàn Kinh tế Thế giới và Liên hợp quốc kết hợp với khảo sát đánh giá của cộng đồng chuyên gia tài chính toàn cầu, qua đó phản ánh tương đối toàn diện năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính.

Các Trung tâm tài chính quốc tế thành công thường hội tụ môi trường pháp lý và thể chế tiên tiến, với hệ thống pháp luật minh bạch, tiệm cận chuẩn mực quốc tế, cơ chế bảo vệ nhà đầu tư hiệu quả, cùng hạ tầng tài chính - công nghệ hiện đại phù hợp với xu hướng chuyển đổi số. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là một trong những trụ cột cạnh tranh quan trọng của trung tâm tài chính theo đánh giá tại Bảng xếp hạng GFCI, trong đó Singapore và Hồng Kông là những điển hình về đào tạo và thu hút nhân lực tài chính có trình độ quốc tế. Ở góc độ các trung tâm mới nổi, Thành phố Hồ Chí Minh đã được đưa vào hệ thống xếp hạng của GFCI từ năm 2024 và có những bước tiến đáng kể, với vị trí được cải thiện liên tục từ hạng 108 (tháng 3/2024) lên hạng 95 (tháng 9/2025), bước đầu được ghi nhận trong mạng lưới các trung tâm tài chính toàn cầu. Việc xuất hiện trong Bảng xếp hạng GFCI cho thấy những tín hiệu tiệm cận theo lộ trình và phản ánh bước tiến nhất định của Việt Nam trong quá trình hội nhập tài chính quốc tế.

Việc xây dựng một Trung tâm tài chính quốc tế có năng lực cạnh tranh đòi hỏi chiến lược phát triển đồng bộ, dài hạn và dựa trên nền tảng thể chế vững chắc, thay vì dựa vào các lợi thế đơn lẻ. Theo đó, Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc các mô hình thành công thông qua việc hoàn thiện môi trường pháp lý và thể chế minh bạch, linh hoạt, tiệm cận chuẩn mực quốc tế, đồng thời xác định phát triển nguồn nhân lực tài chính chất lượng cao và đầu tư vào hạ tầng tài chính - công nghệ hiện đại là những trụ cột then chốt nhằm nâng cao hiệu quả vận hành thị trường và thích ứng với xu thế dịch chuyển của dòng vốn toàn cầu.

5. Một số hàm ý và định hướng chính sách phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Từ góc độ nghiên cứu, để hiện thực hóa triển vọng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc xây dựng và triển khai các giải pháp chính sách cần được tiếp cận một cách đồng bộ, có trọng tâm và dựa trên nền tảng lý luận cũng như thực tiễn phát triển của các Trung tâm tài chính quốc tế thành công.

Thứ nhất, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đặc thù cho Trung tâm tài chính quốc tế theo hướng linh hoạt, minh bạch và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế. Điều này đòi hỏi việc rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến tài chính - ngân hàng, đầu tư, ngoại hối và quản lý rủi ro, đồng thời cho phép áp dụng các cơ chế thử nghiệm chính sách (Regulatory Sandbox) trong phạm vi trung tâm tài chính. Một khuôn khổ pháp lý ổn định và có khả năng dự báo cao là điều kiện tiên quyết để tạo dựng niềm tin cho các nhà đầu tư và định chế tài chính quốc tế.

Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực tài chính chất lượng cao gắn với chuẩn mực quốc tế. Việt Nam cần đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức đào tạo, viện nghiên cứu và Trung tâm tài chính quốc tế nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong các lĩnh vực tài chính chuyên sâu như ngân hàng đầu tư, tài chính phái sinh, quản lý tài sản và công nghệ tài chính. Song song với đó, việc xây dựng các cơ chế thu hút và sử dụng hiệu quả chuyên gia nước ngoài có trình độ cao sẽ góp phần bổ sung nhanh chóng nguồn lực nhân sự cho Trung tâm tài chính quốc tế trong giai đoạn đầu phát triển.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển tài chính xanh như lĩnh vực đột phá để tạo lợi thế cạnh tranh. Việc ứng dụng công nghệ số trong các hoạt động tài chính không chỉ giúp nâng cao hiệu quả vận hành và khả năng quản lý rủi ro, mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển của các mô hình tài chính mới, phù hợp với xu thế toàn cầu. Tài chính xanh và tài chính bền vững cần được xác định là trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển Trung tâm tài chính quốc tế, qua đó góp phần thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về phát triển bền vững và giảm phát thải.

Thứ tư, phát huy vai trò điều phối chiến lược của Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế, bảo đảm sự thống nhất và nhất quán trong hoạch định cũng như thực thi chính sách ở cấp quốc gia. Hội đồng cần được trao đủ thẩm quyền và nguồn lực để thực hiện chức năng điều phối liên ngành, liên địa phương, kịp thời tháo gỡ các vướng mắc về thể chế và chính sách, đồng thời giám sát quá trình triển khai lộ trình phát triển Trung tâm tài chính quốc tế. Đây là yếu tố then chốt nhằm bảo đảm tính hiệu quả và bền vững của mô hình trung tâm tài chính trong dài hạn.

6. Kết luận

Quyết định số 2755/QĐ-TTg đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình xây dựng và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược dài hạn cũng như quyết tâm chính trị của Chính phủ trong việc thúc đẩy hội nhập sâu rộng vào hệ thống tài chính toàn cầu. Việc thiết lập cơ chế điều hành ở cấp cao không chỉ tạo nền tảng thể chế cho quá trình tổ chức thực thi mà còn phản ánh sự chuyển biến trong tư duy quản lý từ tiếp cận hành chính sang tiếp cận kiến tạo phát triển đối với lĩnh vực tài chính. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và cạnh tranh khu vực ngày càng gay gắt, triển vọng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam được đánh giá là tích cực nhưng mang tính điều kiện. Khả năng hiện thực hóa mục tiêu này phụ thuộc lớn vào chất lượng cải cách thể chế, mức độ hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, năng lực điều hành và phối hợp chính sách ở cấp quốc gia, cũng như khả năng chủ động tận dụng các cơ hội từ sự dịch chuyển của dòng vốn và cấu trúc kinh tế toàn cầu. Do đó, việc phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam cần được đặt trong lộ trình cải cách tổng thể, có tầm nhìn dài hạn, bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán và bền vững, qua đó từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trong mạng lưới tài chính khu vực và quốc tế.

1 https://kevesko.vn/20251217/gdp-2025-tang-khoang-8-viet-nam-vao-nhom-quoc-gia-thu-nhap-trung-binh-cao-40263463.html

2 https://www.ceicdata.com/en/indicator/vietnam/population

Tài liệu tham khảo

1. Quyết định số 2755/QĐ-TTg ngày 18/12/2025 của Chính phủ về việc thành lập Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.

2. Z/Yen Group & China Development Institute (2025), The Global Financial Centres Index (GFCI), Issue 38.

3. World Bank (2025), Taking Stock: Viet Nam Economic Update.

4. NHNN (2024), Báo cáo thường niên ngành Ngân hàng.

5. VnEconomy (2024), Sự gia tăng tầng lớp trung lưu và tác động tới thị trường tài chính Việt Nam.

Phạm Linh
Phó Tổng Giám đốc Vietbank

Tin bài khác

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Bài viết phân tích toàn diện khung pháp lý về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại các tổ chức tín dụng, đánh giá khả năng triển khai trong thực tiễn hoạt động ngân hàng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tính khả thi, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng có tài sản bảo đảm.
Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Bài viết phân tích các quy định mới của Nghị định số 06/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), qua đó làm rõ vai trò của việc hoàn thiện khung pháp lý trong nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách, thúc đẩy tài chính toàn diện và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Bài viết phân tích thực trạng khung pháp lý thúc đẩy Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG) trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị hoàn thiện chính sách nhằm tăng cường quản trị rủi ro bền vững và định hướng dòng vốn theo mục tiêu phát triển xanh.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Thông tư số 60/2025/TT-NHNN và thủ tục chấp thuận góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng: Từ kỷ luật an toàn đến chi phí tuân thủ

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN và thủ tục chấp thuận góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng: Từ kỷ luật an toàn đến chi phí tuân thủ

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN ngày 30/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng (TCTD) là một bước tiến quan trọng trong việc cụ thể hóa các thủ tục hành chính, đảm bảo mọi hoạt động góp vốn, mua cổ phần đều phải phục vụ mục tiêu hàng đầu là bảo vệ an toàn vốn và tuân thủ giới hạn đầu tư theo Luật Các TCTD.
Xem thêm
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Bài viết phân tích toàn diện khung pháp lý về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại các tổ chức tín dụng, đánh giá khả năng triển khai trong thực tiễn hoạt động ngân hàng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tính khả thi, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng có tài sản bảo đảm.
Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Bài viết phân tích các quy định mới của Nghị định số 06/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), qua đó làm rõ vai trò của việc hoàn thiện khung pháp lý trong nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách, thúc đẩy tài chính toàn diện và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành