Song đề chính sách trong thị trường bất động sản - Ổn định tín dụng và công bằng xã hội

Chính sách
Khi tín dụng bất động sản được siết chặt nhằm hạn chế đầu cơ và kiểm soát rủi ro hệ thống, sẽ làm hạ nhiệt rõ rệt thị trường nhà ở. Tuy nhiên, thay vì làm giá nhà giảm mạnh, chính sách này lại kéo theo sự sụt giảm thanh khoản, đình trệ các dự án và nghịch lý giá nhà vẫn neo ở mức cao. Đây là biểu hiện tiêu biểu của một song đề chính sách trong quản lý kinh tế thị trường...
aa

Tóm tắt: Bài viết phân tích song đề chính sách trong thị trường bất động sản Việt Nam giữa hai mục tiêu: Ổn định tín dụng và bảo đảm công bằng xã hội. Dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế học cổ điển và phúc lợi, nghiên cứu chỉ ra rằng, việc siết cho vay mua nhà thứ hai tuy giúp giảm rủi ro hệ thống, nhưng đồng thời làm suy giảm thanh khoản và gia tăng bất bình đẳng tài chính. Thị trường nhà ở vì thế trở thành một bài toán tối ưu có ràng buộc, nơi hiệu quả và công bằng cần được dung hòa trong giới hạn hiện thực của nền kinh tế. Qua đó, bài viết đề xuất hướng tiếp cận “điều tiết cân bằng”, kết hợp công cụ tín dụng có chọn lọc, thuế tài sản và chính sách nhà ở xã hội, nhằm đạt được sự hài hòa giữa “bàn tay vô hình” của thị trường và “bàn tay hữu hình” của Nhà nước.

Từ khóa: Song đề chính sách; ổn định tín dụng; công bằng xã hội; thị trường bất động sản.

POLICY DILEMMA IN THE REAL ESTATE MARKET - CREDIT STABILITY AND SOCIAL EQUITY

Abstract: The article analyzes the policy dilemma in the Vietnamese real estate market between two goals: Credit stability and social equity. Based on the foundation of classical and welfare economic theory, the study shows that, although tightening second home loans helps reduce systemic risk, it also reduces liquidity and increases financial inequality. The housing market thus becomes a constrained optimization problem, where efficiency and equity need reconciling within the realistic limits of the economy. The article proposes a “balanced regulation” approach, combining selective credit instruments, property taxes and social housing policies, in order to achieve harmony between the “invisible hand” of the market and the “visible hand” of the State.

Keywords: Policy dilemma; credit stability; social justice; real estate market.

Song đề chính sách trong thị trường bất động sản - Ổn định tín dụng và công bằng xã hội
Ảnh: Trần Hiền

1. Đặt vấn đề

Từ sau năm 2022, khi tín dụng bất động sản được siết chặt nhằm hạn chế đầu cơ và kiểm soát rủi ro hệ thống, Việt Nam đã chứng kiến sự hạ nhiệt rõ rệt của thị trường nhà ở. Tuy nhiên, thay vì làm giá nhà giảm mạnh, chính sách này lại kéo theo sự sụt giảm thanh khoản, đình trệ các dự án và nghịch lý giá nhà vẫn neo ở mức cao. Đây là biểu hiện tiêu biểu của một song đề chính sách (policy dilemma) trong quản lý kinh tế thị trường: Làm sao vừa ổn định hệ thống tài chính, vừa bảo đảm khả năng tiếp cận nhà ở cho người dân, đặc biệt cho người có thu nhập trung bình.

2. Song đề chính sách trong thị trường bất động sản

2.1. Cơ sở kinh tế học của song đề chính sách - Kiểm soát và khuyến khích

Theo Ricardo (1817), giá trị đất đai và lợi tức từ bất động sản phản ánh sự khan hiếm tự nhiên của tài nguyên và vị thế địa lý, nên việc can thiệp hành chính vào tín dụng nhà ở thường chỉ làm méo mó các tín hiệu giá cả. Nếu cung đất và quy hoạch không được mở rộng tương ứng, thì việc siết tín dụng chỉ làm giảm thanh khoản mà không thể kéo giá nhà xuống mức cân bằng mới. Thị trường bất động sản chịu tác động đồng thời của hai nhóm động lực: động lực đầu tư (investment motive) và động lực tiêu dùng (consumption motive) (Smith, 1776; Ricardo, 1817). Khi Nhà nước áp dụng chính sách tín dụng thắt chặt - đặc biệt với người mua nhà thứ hai - nhằm hạn chế đầu cơ, hệ thống tài chính được bảo vệ khỏi "bong bóng" bất động sản, nhưng đồng thời, dòng vốn phát triển nhà ở đã bị chặn lại.

Ngược lại, nếu nới lỏng tín dụng, cung nhà ở có thể tăng và thúc đẩy các ngành sản xuất có liên quan - đúng theo luận điểm “cung tạo ra cầu” của Say (1803), song nguy cơ đầu cơ và bất bình đẳng tài sản lại tăng (Minsky, 1986). Vì vậy, chính sách tín dụng trong lĩnh vực bất động sản luôn ở thế tiến thoái lưỡng nan: Nếu thắt chặt thì thị trường nguội lạnh; còn nếu nới lỏng thì thị trường bùng phát.

2.2. Về khía cạnh phân phối và công bằng xã hội

Ở bình diện xã hội, song đề trở nên sâu sắc hơn. Việc siết tín dụng không kéo giá nhà cao cấp xuống đủ để người thu nhập thấp mua được, bởi giá đó phản ánh chi phí đất đai, quy hoạch và cấu trúc cầu của nhóm thu nhập cao.

Theo quan điểm kinh tế học phúc lợi (Pigou, 1920; Musgrave, 1959), giá nhà cao không phải là “vấn đề đạo đức”, mà là hệ quả của phân khúc thị trường. Nỗ lực “bình dân hóa” bằng biện pháp hành chính sẽ làm méo mó tín hiệu giá và giảm hiệu quả phân bổ nguồn lực. Cũng theo Pigou (1920), phúc lợi xã hội tối ưu đạt được khi các tác động ngoại lai được nội hóa thông qua thuế hoặc trợ cấp, chứ không phải bằng cách hạn chế giao dịch. Trong trường hợp thị trường nhà ở, thay vì siết tín dụng mua nhà thứ hai, Nhà nước có thể điều tiết hành vi đầu cơ thông qua thuế tài sản lũy tiến, còn tín dụng nên được điều tiết theo rủi ro thực của từng nhóm người vay.

Giải pháp mang tính phúc lợi phải dựa vào chính sách song hành: Phát triển nhà ở xã hội, tín dụng ưu đãi cho người mua nhà lần đầu, và sử dụng thuế bất động sản như công cụ tái phân phối (Stiglitz, 2015). Như vậy, Chính phủ nên tách biệt mục tiêu ổn định thị trường và mục tiêu công bằng xã hội, tránh việc một chính sách “ôm” hai mục tiêu trái hướng.

2.3. Song đề và rủi ro đạo đức

Trong khung phân tích kinh tế học hiện đại, song đề này có thể được diễn đạt như một đánh đổi (trade-off) giữa hiệu quả (efficiency) và công bằng (equity) dưới các ràng buộc của cân bằng vĩ mô (macro-equilibrium constraints). Việc siết tín dụng làm giảm rủi ro hệ thống (systemic risk) nhưng tạo ra một hình thức rủi ro đạo đức (moral hazard) khác: Doanh nghiệp bất động sản nhỏ mất khả năng tiếp cận vốn, trong khi nhà đầu tư lớn - vốn có tài sản thế chấp mạnh - lại duy trì được lợi thế.

Kết quả là, sự bất bình đẳng tài chính nội tại của thị trường càng gia tăng, dù mục tiêu ban đầu là công bằng. Đây chính là “nghịch lý của ổn định” mà Minsky (1986) đã mô tả: Càng cố gắng làm cho hệ thống ổn định, hệ thống càng dễ tổn thương từ bên trong.

Các kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapore hay Trung Quốc trong hai thập kỷ qua cho thấy, không nền kinh tế nào có thể đơn thuần dựa vào “thắt” hoặc “nới” mà giải quyết bài toán nhà ở. Những quốc gia này thành công hơn khi họ phân tầng chính sách: Vừa duy trì tín dụng thương mại với mức lãi suất thị trường, vừa có hệ thống tín dụng xã hội tách biệt dành riêng cho nhóm thu nhập thấp, được bảo đảm bởi quỹ nhà ở công.

3. Các hàm ý chính sách và kết luận

Bài học của nhiều nền kinh tế mới nổi cho thấy, khi đối diện với song đề tín dụng - giá nhà, chính phủ nên chuyển từ tư duy “kiểm soát” sang “điều tiết cân bằng”. Nhà nước có thể dùng công cụ tín dụng có chọn lọc để ngăn đầu cơ ngắn hạn, nhưng đồng thời bảo đảm kênh vốn cho phát triển nhà ở xã hội, nhà giá hợp lý. Bên cạnh đó, Nhà nước có thể bổ sung chính sách thuế tài sản để điều tiết nhu cầu tích trữ bất động sản dài hạn (OECD, 2022).

Những chính sách như vậy cho phép thị trường giữ vai trò định giá, còn Nhà nước giữ vai trò hiệu chỉnh - đúng theo tinh thần “bàn tay vô hình được soi sáng bởi bàn tay hữu hình” (Samuelson, 1948; Stilitz, 1994).

Song đề chính sách trong thị trường bất động sản Việt Nam phản ánh giới hạn tự nhiên của mọi nền kinh tế thị trường: Không thể cùng lúc đạt được sự ổn định tài chính tuyệt đối và sự công bằng xã hội hoàn hảo. Do đó, thay vì cố gắng “kéo giá xuống”, Nhà nước cần hướng đến thiết kế thể chế song song, trong đó mỗi công cụ chính sách có mục tiêu riêng, tương hỗ nhưng không chồng chéo. Vì vậy, chính sách siết chặt tín dụng đối với bất động sản, đối với căn nhà thứ hai không nên được diễn giải như một lựa chọn nhị nguyên giữa đúng và sai, mà như một bài toán tối ưu có ràng buộc, trong đó các mục tiêu về hiệu quả và công bằng xã hội phải được dung hòa trong giới hạn của các điều kiện kinh tế thực chứng.

Tài liệu tham khảo:

1. Minsky, H. P. (1986), Stabilizing an unstable economy, Yale University Press.

2. Musgrave, R. A. (1959), The theory of public finance: A study in public economy, McGraw-Hill.

3. OECD (2022), Housing and inclusive growth, OECD Publishing.

4. Pigou, A. C. (1920), The economics of welfare, Macmillan.

5. Ricardo, D. (1817), On the principles of political economy and taxation, John Murray.

6. Samuelson, P. A. (1948), Economics: An introductory analysis, McGraw-Hill.

7. Say, J.-B. (1803), Traité d’économie politique, Deterville.

8. Smith, A. (1776), An inquiry into the nature and causes of the wealth of nations, W. Strahan and T. Cadell.

9. Stiglitz, J. E. (1994), Whither socialism?, MIT Press.

10. Stiglitz, J. E. (2015), The great divide: Unequal societies and what we can do about them, W. W. Norton & Company.

PGS., TS. Trương Quang Thông
Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Tin bài khác

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích khoảng trống pháp lý đối với dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam, đồng thời đề xuất khung pháp lý nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ khách hàng và tạo nền tảng cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài sản số.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Bài viết phân tích những giải pháp điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong năm 2025 nhằm ưu tiên nguồn vốn cho nông nghiệp, nông thôn, qua đó củng cố vai trò trụ đỡ của khu vực này đối với tăng trưởng kinh tế, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.
Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục góp phần đưa kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng khu vực

Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục góp phần đưa kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng khu vực

Năm 2025 là một năm đầy khó khăn, thách thức đối với điều hành kinh tế vĩ mô nói chung và công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) nói riêng. Tuy nhiên, khép lại năm 2025, bức tranh kinh tế nước ta tiếp tục là điểm sáng khi tăng trưởng GDP dẫn đầu khu vực và thuộc nhóm cao trên thế giới; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Đóng góp vào thành công đó có vai trò quan trọng của điều hành chính sách tiền tệ của NHNN.
Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Bài viết này phân tích toàn diện những chuyển động lớn của nền kinh tế Việt Nam năm 2025, chỉ ra các kết quả đạt được, những hạn chế mang tính cơ cấu và các rủi ro tiềm ẩn, qua đó gợi mở các định hướng chính sách trọng tâm nhằm nâng cao nội lực, sức chống chịu và chất lượng tăng trưởng trong năm 2026.
Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam

Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam

Bài viết phân tích việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng như một mô hình hệ sinh thái tài chính bậc cao, làm rõ nền tảng pháp lý đột phá, lợi thế chiến lược của Đà Nẵng và những yêu cầu thích ứng đặt ra đối với hệ thống ngân hàng trong nước trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế sâu rộng.
Xem thêm
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích khoảng trống pháp lý đối với dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam, đồng thời đề xuất khung pháp lý nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ khách hàng và tạo nền tảng cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài sản số.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Bài viết phân tích những giải pháp điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong năm 2025 nhằm ưu tiên nguồn vốn cho nông nghiệp, nông thôn, qua đó củng cố vai trò trụ đỡ của khu vực này đối với tăng trưởng kinh tế, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng