Đảm bảo an toàn và hiệu quả giao dịch cho vay trên nền tảng số

Công nghệ & ngân hàng số
Với nhiều ưu thế, cho vay trực tuyến đang trở thành một công cụ chiến lược giúp các ngân hàng thương mại (NHTM) mở rộng thị phần, nâng cao hiệu quả vận hành và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng trong bối cảnh chuyển đổi số.
aa

Để hình thức này thực sự phát huy hiệu quả và bền vững, bảo đảm an toàn, hiệu quả giao dịch cho vay trên nền tảng số, cần có sự điều chỉnh đồng bộ về pháp lý và quản lý nhà nước, chiến lược đầu tư cơ sở hạ tầng và ứng dụng công nghệ trong hoạt động cho vay của các NHTM.

Có thể hiểu rằng cho vay trực tuyến là sản phẩm hay kết quả của việc số hóa quy trình cho vay truyền thống của các NHTM. Nhờ ứng dụng các công nghệ như định danh khách hàng điện tử (eKYC), ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xếp hạng tín dụng, phân tích dữ liệu lớn (Big Data), hợp đồng điện tử…, cho vay trực tuyến hoàn toàn tự động hóa các công đoạn của quá trình thẩm định tín dụng, phê duyệt và giải ngân, qua đó có thể tiết kiệm thời gian xử lý hồ sơ vay vốn, giảm chi phí vận hành và mở rộng khả năng tiếp cận cho khách hàng vay vốn.

Đảm bảo an toàn và hiệu quả giao dịch cho vay trên nền tảng số

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho người dân

Thời gian qua, nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện rà soát, ban hành trong thẩm quyền (hoặc trình cấp có thẩm quyền) ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay bằng phương tiện điện tử, đảm bảo an toàn, hiệu quả của giao dịch cho vay trên nền tảng số.

Cụ thể, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 06/2023/TT-NHNN ngày 28/6/2023 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng; trong đó, bổ sung quy định về hoạt động cho vay bằng phương tiện điện tử. Theo đó, các TCTD được phép triển khai cho vay trực tuyến thông qua các giải pháp eKYC, xét duyệt hồ sơ vay vốn tự động và quản lý hợp đồng tín dụng trên nền tảng số. Quy định này không chỉ hợp pháp hóa hoạt động cho vay online vốn đã được nhiều ngân hàng áp dụng thí điểm, mà còn góp phần giảm thiểu tín dụng đen và mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho người dân. Việc bổ sung quy định về hoạt động cho vay bằng phương tiện điện tử tại Thông tư số 06/2023/TT-NHNN là phù hợp xu thế số hóa, các quy định pháp luật về các TCTD, pháp luật về giao dịch điện tử và pháp luật có liên quan; qua đó thúc đẩy các TCTD ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số vào quy trình cho vay; cung ứng dịch vụ an toàn, tiện lợi, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn vay từ ngân hàng.

Các quy định về cho vay bằng phương tiện điện tử tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN đã tạo hành lang pháp lý để các TCTD tích cực đẩy mạnh triển khai nghiệp vụ này. Hiện nay, NHNN đang nghiên cứu rà soát dự thảo Thông tư sửa đổi Thông tư 39/2016/TT-NHNN; trong đó dự kiến sửa đổi một số nội dung quy định về hoạt động cho vay bằng phương tiện điện tử nhằm tiếp tục tạo điều kiện cho các TCTD thực hiện cho vay bằng phương tiện điện tử đảm bảo an toàn, hiệu quả và tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Bên cạnh đó, Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (phê duyệt theo Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 của Thống đốc NHNN) cũng đóng vai trò định hướng chiến lược, đặt mục tiêu đến năm 2025 có ít nhất 50% khoản vay nhỏ lẻ được thực hiện trên môi trường số. Việc hoàn thiện hành lang pháp lý này giúp các NHTM yên tâm triển khai các sản phẩm tín dụng số, đồng thời bảo đảm tính minh bạch, an toàn và hiệu quả trong hoạt động cấp tín dụng.

Có thể thấy đây là những cơ sở pháp lý quan trọng, tạo hành lang cho các NHTM triển khai quy trình cho vay số hóa hoàn toàn, bao gồm eKYC, hợp đồng điện tử, và giải ngân online…, cho phép TCTD thực hiện cho vay trực tuyến mà không cần gặp mặt trực tiếp khách hàng.

Ngoài ra, ngày 29/4/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 94/2025/NĐ-CP quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng, trong đó lần đầu tiên cho phép triển khai thử nghiệm mô hình cho vay ngang hàng (P2P Lending) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2025.

Theo Nghị định số 94/2025/NĐ-CP, giải pháp cho vay ngang hàng là giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin do công ty cho vay ngang hàng cung cấp để kết nối thông tin, hỗ trợ giao kết hợp đồng trên nền tảng số giữa khách hàng là bên đi vay và bên cho vay. Đồng tiền sử dụng trong giải pháp cho vay ngang hàng là đồng Việt Nam. Công ty cho vay ngang hàng là công ty Fintech cung cấp giải pháp cho vay ngang hàng cho khách hàng.

Thực hiện Nghị định số 94/2025/NĐ-CP, NHNN đã ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai, qua đó tạo điều kiện để mô hình cho vay ngang hàng được vận hành và kiểm chứng trong môi trường thực tế nhưng vẫn đảm bảo được kiểm soát chặt chẽ. Đây là bước đi cần thiết để mở rộng kênh cung ứng vốn mới, linh hoạt, thuận tiện, minh bạch, thúc đẩy tài chính toàn diện, hỗ trợ người dân tiếp cận tài chính. Cụ thể:

Quyết định số 2866/QĐ-NHNN ngày 22/7/2025 của Thống đốc NHNN về dư nợ tối đa đối với một khách hàng vay tại một giải pháp cho vay ngang hàng và toàn bộ các giải pháp cho vay ngang hàng tham gia cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, trong đó quy định dư nợ tối đa đối với một khách hàng vay tại một giải pháp cho vay ngang hàng là 100 triệu đồng, đồng thời thiết lập giới hạn đối với tổng dư nợ của khách hàng tại tất cả các giải pháp cho vay ngang hàng cùng tham gia cơ chế thử nghiệm có kiểm soát là 400 triệu đồng. Quy định này nhằm bảo đảm thống nhất chung nguyên tắc quản trị rủi ro, phù hợp với tính chất thí điểm của cơ chế thử nghiệm, đồng thời giới hạn tổn thất tài chính đối với cả bên cho vay và người đi vay, góp phần ổn định hệ thống tài chính.

Quyết định số 2970/QĐ-NHNN ngày 11/8/2025 của Thống đốc NHNN ban hành quy định hướng dẫn về việc kết nối, báo cáo và kiểm tra thông tin tín dụng của khách hàng giữa các công ty cho vay ngang hàng và Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC). Quyết định này quy định cụ thể về điều kiện kỹ thuật để thực hiện kết nối với CIC, danh mục chỉ tiêu, thời hạn và tần suất cung cấp, quyền và nghĩa vụ của công ty tham gia Cơ chế thử nghiệm khi kết nối với CIC. Việc tham gia hệ thống thông tin tín dụng sẽ giúp các công ty cho vay ngang hàng tham gia Cơ chế thử nghiệm có cơ sở quản lý dư nợ tối đa của một khách hàng tại nền tảng của mình cũng như toàn bộ các nền tảng theo quy định, đồng thời có thể có thêm thông tin về bên đi vay để cung cấp cho bên cho vay (khi được sự chấp thuận của bên đi vay theo quy định pháp luật hiện hành), góp phần nâng cao chất lượng khoản vay.

Việc ban hành hai quyết định nêu trên khẳng định sự sẵn sàng của NHNN trong việc đồng hành cùng các tổ chức Fintech, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tài chính toàn diện trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát rủi ro. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện để các tổ chức có nhu cầu đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm có thể chủ động nghiên cứu, xây dựng, chuẩn bị các điều kiện về kỹ thuật và năng lực quản trị, vận hành giải pháp cho vay ngang hàng an toàn, hiệu quả.

Về phía các NHTM đã tăng cường sử dụng dữ liệu và AI để cá nhân hóa dịch vụ tài chính nói chung, bao gồm cho vay trực tuyến. Với thế mạnh về công nghệ và tận dụng tối đa dữ liệu thuế và hóa đơn, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đồng thời kết nối với nhiều nền tảng số để thu thập dữ liệu báo cáo tài chính, hóa đơn điện tử và dòng tiền của doanh nghiệp, các ngân hàng đã thành công trong việc số hóa toàn bộ hành trình cấp tín dụng. Giải pháp này cũng phần nào giải quyết được những khó khăn về tiếp cận vốn của các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Sau khi Thông tư số 06/2023/TT-NHNN được ban hành chính thức và công nhận phương thức cho vay điện tử là hợp pháp, các ngân hàng như: NHTM cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), NHTM cổ phần Tiên Phong (TPBank), NHTM cổ phần Quân đội (MB) hay NHTM cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank)… đã đẩy mạnh triển khai các sản phẩm vay tiêu dùng trực tuyến, đặc biệt là các khoản vay nhỏ lẻ, vay trả góp và vay qua ứng dụng di động.

Bên cạnh các NHTM truyền thống, các công ty Fintech như Tima, F88, C22 cũng đang đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng dịch vụ cho vay trực tuyến. Những công ty này cung cấp các khoản vay tiêu dùng nhanh, hướng đến nhóm khách hàng trẻ, lao động tự do và người chưa có lịch sử tín dụng.

Điều đáng lưu ý là sự tham gia mạnh mẽ của các nền tảng Fintech vào thị trường tài chính đã thúc đẩy các NHTM lựa chọn tăng cường hợp tác chiến lược với các công ty Fintech thay vì cạnh tranh để tận dụng thế mạnh công nghệ và khả năng tiếp cận khách hàng. Nhiều NHTM đã phát triển sự hợp tác như VPBank đã hợp tác với MoMo để triển khai sản phẩm vay tiêu dùng nhanh, trong khi Techcombank đã tích hợp dịch vụ tài chính vào hệ sinh thái số của VinGroup… Sự hợp tác này đồng thời cũng cho thấy hình ảnh đầu tiên của “mô hình ngân hàng mở" (Open Banking) và đang tạo ra hệ sinh thái tài chính toàn diện, nơi các NHTM đóng vai trò trung tâm nhưng linh hoạt trong cách cung cấp dịch vụ (Baas).

Chú trọng bảo mật dữ liệu, minh bạch hóa quy trình xét duyệt tín dụng

Cho vay trực tuyến của các NHTM tại Việt Nam mặc dù đã được xác định là một xu hướng tất yếu, có tốc độ phát triển nhanh và tiềm năng/dư địa phát triển còn nhiều, song vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.

Thực tế, nhiều quy định liên quan đến hợp đồng điện tử, xử lý tranh chấp, bảo vệ dữ liệu cá nhân và xác thực khách hàng vẫn chưa được ban hành đầy đủ, do vậy việc xác định trách nhiệm pháp lý khi xảy ra tranh chấp còn nhiều khó khăn. Hệ thống chấm điểm tín dụng của một số NHTM vẫn chỉ dựa vào dữ liệu truyền thống, chưa khai thác hiệu quả dữ liệu phi tài chính như hành vi tiêu dùng, mạng xã hội hay dữ liệu viễn thông. Tội phạm công nghệ cao ngày càng tinh vi, phức tạp. Chưa kể, một số khách hàng còn do dự về tính pháp lý của hợp đồng điện tử, độ bảo mật thông tin cá nhân và khả năng hỗ trợ khi xảy ra tranh chấp, một phần do hiện nay vẫn chưa có quy định chi tiết về hợp đồng điện tử, chữ ký số, lưu trữ dữ liệu vay online. Một bộ phận không nhỏ người dân, đặc biệt ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa do chưa tiếp cận được thông tin nên bị dụ dỗ vào các hình thức cho vay qua App không rõ nguồn gốc, rơi vào vòng xoáy của tín dụng đen.

Việc phát triển cho vay trực tuyến không chỉ dựa vào công nghệ, mà phải đặt trong một hệ sinh thái tài chính số an toàn, minh bạch và có trách nhiệm. Phát triển cho vay trực tuyến cần phải được tiến hành với sự kiểm soát chặt chẽ về bảo mật dữ liệu cá nhân và minh bạch hóa quy trình xét duyệt tín dụng trên cơ sở ứng dụng công nghệ một cách có trách nhiệm, bảo đảm công bằng trong tiếp cận vốn. Theo đó, bên cạnh việc hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cấp hạ tầng công nghệ, kết nối liên thông, đồng bộ, an toàn, việc đảm bảo an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng dịch vụ tài chính - ngân hàng trên môi trường mạng là rất quan trọng.

Về phía NHNN tiếp tục phối hợp các bộ ngành liên quan hoàn thiện pháp lý đối với cho vay trực tuyến, cho vay ngang hàng; bổ sung các quy định liên quan đến hợp đồng điện tử, xác thực khách hàng, lưu trữ dữ liệu, xử lý tranh chấp và bảo vệ thông tin cá nhân. Sau thời gian cấp phép thử nghiệm giải pháp P2P Lending cho các công ty Fintech, cơ quan quản lý sẽ đánh giá và tạo điều kiện để mô hình cho vay ngang hàng được vận hành và kiểm chứng trong môi trường thực tế. Đồng thời có cơ chế thúc đẩy các NHTM tham gia thử nghiệm các mô hình cho vay số mới, từ đó đánh giá rủi ro và hiệu quả trước khi triển khai đại trà.

NHNN và các tổ chức tài chính tại Việt Nam cần tăng cường hợp tác quốc tế, chủ động chia sẻ thông tin và xây dựng cơ chế phối hợp ứng phó khẩn cấp xuyên biên giới. Song song đó, việc hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân, tuân thủ chuẩn mực quốc tế là điều kiện cần thiết.

Về phía các TCTD tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng bảo mật, thường xuyên cập nhật giải pháp công nghệ mới, đồng thời xây dựng hệ thống giám sát an ninh mạng ứng dụng AI. Trên cơ sở kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, dữ liệu thuế và hóa đơn điện tử sẽ giúp ngân hàng xác thực khách hàng nhanh chóng và có thể đánh giá năng lực tài chính chính xác hơn. Đồng thời, các TCTD xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng nội bộ, mạnh dạn ứng dụng AI để tích hợp dữ liệu phi tài chính như hành vi tiêu dùng, lịch sử giao dịch số, mạng xã hội để mở rộng khả năng cấp tín dụng cho nhóm khách hàng chưa có lịch sử vay vốn

Các NHTM cần tăng cường liên kết với các công ty công nghệ, công ty Fintech để tận dụng nền tảng, thuật toán và dữ liệu nhằm tối ưu hóa quy trình cho vay. Việc kết nối đa chiều sẽ giúp ngân hàng mở rộng thị trường và cải thiện hiệu quả vận hành. Bên cạnh đó, các TCTD cần tăng cường hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức đối với khách hàng, giúp người dân hiểu rõ về quyền lợi, nghĩa vụ và quy trình vay trực tuyến; hướng dẫn người dân nhận diện App vay uy tín, tránh nhầm lẫn với những App cho vay trên mạng không rõ nguồn gốc. Ngoài ra, các NHTM cần chú trọng nâng cao năng lực chuyên môn, tư duy số và kỹ năng vận hành hệ thống tín dụng trực tuyến cho đội ngũ cán bộ ngân hàng, từ cấp quản lý đến nhân viên nghiệp vụ.

Hà Trang
NHNN

Tin bài khác

Rào cản từ hệ thống ngân hàng lõi kế thừa trong quá trình chuyển đổi số và tích hợp trí tuệ nhân tạo của ngành Ngân hàng

Rào cản từ hệ thống ngân hàng lõi kế thừa trong quá trình chuyển đổi số và tích hợp trí tuệ nhân tạo của ngành Ngân hàng

Trong kỷ nguyên của tốc độ và dữ liệu, ngành Ngân hàng toàn cầu đang phải chuyển mình để duy trì khả năng cạnh tranh và ổn định. Bài viết phân tích các thách thức trọng yếu mà hệ thống ngân hàng lõi kế thừa đặt ra trong bối cảnh hiện nay, từ đó đề xuất các chiến lược hiện đại hóa nhằm giúp các ngân hàng xây dựng nền tảng công nghệ linh hoạt, an toàn cho kỷ nguyên số.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng trong bối cảnh ngân hàng số Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm mới cho bối cảnh Việt Nam, đồng thời củng cố các lý thuyết trước đó về niềm tin trong môi trường ngân hàng số.
Tích hợp chuẩn mực đạo đức trí tuệ nhân tạo vào khung đạo đức nghề nghiệp ngân hàng

Tích hợp chuẩn mực đạo đức trí tuệ nhân tạo vào khung đạo đức nghề nghiệp ngân hàng

Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang tái định hình hoạt động của ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra nhiều thách thức đạo đức mới như thiên vị thuật toán và sự thiếu minh bạch.
Nền tảng dữ liệu số về công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng

Nền tảng dữ liệu số về công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng

Trong bối cảnh kinh tế số đang phát triển mạnh mẽ và nhu cầu của khách hàng đối với dịch vụ số ngày càng tăng cao, ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, tiện ích mới, mang lại nhiều trải nghiệm cho khách hàng. Tuy nhiên, tội phạm công nghệ cao hiện đang gia tăng nhanh chóng, diễn biến phức tạp và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng.
Nghiên cứu triển khai tiền kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Nghiên cứu triển khai tiền kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Tiền kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương (CBDC) là một dạng tiền pháp định kỹ thuật số, do chính Ngân hàng Trung ương phát hành, bảo lãnh. Loại tài sản này được kỳ vọng sẽ cải thiện đáng kể hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia thông qua việc giảm chi phí giao dịch, tăng tốc độ xử lý.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tăng tốc chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tăng tốc chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số, AI không chỉ là một công cụ công nghệ đơn lẻ mà đã trở thành một động lực cốt lõi, một chất xúc tác chiến lược định hình lại toàn bộ kiến trúc và mô hình vận hành của ngành Ngân hàng.
Bức tranh chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam năm 2025: Một số thành tựu, thách thức và định hướng chiến lược

Bức tranh chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam năm 2025: Một số thành tựu, thách thức và định hướng chiến lược

Năm 2025, ngành tài chính - ngân hàng Việt Nam đã hình thành nền tảng số hóa vững chắc, mở ra một giai đoạn phát triển mới với mức độ trưởng thành cao hơn về dịch vụ số, hạ tầng định danh điện tử và mô hình vận hành hiện đại. Những thành tựu này tạo đà thuận lợi để toàn ngành bước vào năm 2026 với tâm thế chủ động, sẵn sàng khai thác các cơ hội tăng trưởng gắn với công nghệ và dữ liệu.
Xem thêm
Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Bài viết phân tích thực trạng, nguyên nhân và khẳng định sự cần thiết đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng áp dụng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicators - KPI), đồng thời đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với khu vực công.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bài viết làm rõ triển vọng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đồng thời chỉ ra những điều kiện then chốt để mô hình này phát triển hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Tài chính xanh chỉ có thể phát huy hiệu quả khi dòng vốn được phân bổ đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và thực chất, nhằm bảo đảm tín dụng xanh không chỉ là trách nhiệm với cộng đồng mà còn trở thành cơ hội chiến lược để các ngân hàng định vị hướng phát triển bền vững của mình.
Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm tiền gửi trong mạng lưới an toàn tài chính quốc gia

Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm tiền gửi trong mạng lưới an toàn tài chính quốc gia

Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/5/2026, đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong khuôn khổ pháp lý bảo vệ người gửi tiền tại Việt Nam. Trong bối cảnh hệ thống tài chính - ngân hàng phát triển theo chiều sâu và rủi ro lan truyền gia tăng, bảo hiểm tiền gửi đang được tái định vị như một công cụ chính sách chủ động nhằm quản trị rủi ro hệ thống và củng cố niềm tin thị trường.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế  và khuyến nghị đối với Việt Nam

Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh xét theo cả quy mô giao dịch và mức độ phổ cập trong đời sống tài chính, yêu cầu hoàn thiện khung phòng, chống rửa tiền trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, bởi các chỉ dấu khách quan cho thấy Việt Nam vừa nằm trong nhóm quốc gia có giá trị giao dịch trên chuỗi rất lớn.
Pháp luật Liên minh châu Âu  về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Pháp luật Liên minh châu Âu về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Dữ liệu cá nhân giữ vai trò nền tảng trong thương mại điện tử, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động tương tác và kinh doanh trên môi trường số. Bài viết phân tích quy định của EU (đặc biệt là GDPR 2016), đánh giá tác động thực thi, so sánh với pháp luật Việt Nam để chỉ ra bất cập và đề xuất hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng