“Dòng chảy” vốn tín dụng tại tỉnh An Giang tạo động lực tăng trưởng bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Ngành Ngân hàng với kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Với lợi thế tự nhiên vừa có đồng bằng, miền núi, biên giới giáp với Vương quốc Campuchia và sự hỗ trợ từ những chính sách đặc thù, tỉnh An Giang đã và đang vươn lên trở thành điểm sáng trong thu hút đầu tư và phát triển bền vững.
aa

An Giang là một trong những tỉnh có tiềm năng về kinh tế nông nghiệp, chế biến xuất khẩu thủy sản, trái cây đặc sản, du lịch tâm linh sinh thái, nghỉ dưỡng và kinh tế biên mậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Với lợi thế tự nhiên vừa có đồng bằng, miền núi, biên giới giáp với Vương quốc Campuchia và sự hỗ trợ từ những chính sách đặc thù, tỉnh An Giang đã và đang vươn lên trở thành điểm sáng trong thu hút đầu tư và phát triển bền vững.

Lợi thế tự nhiên và quy hoạch bài bản

Tỉnh An Giang đang sở hữu vị trí chiến lược với mạng lưới giao thông đồng bộ, bao gồm đường sông, cảng, Quốc lộ 91 và cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng. Các khu công nghiệp quy mô vừa cùng các cụm công nghiệp vệ tinh tạo thành nền tảng vững chắc để phát triển công nghiệp và kinh tế biên mậu. Đây là điều kiện thuận lợi để địa phương mở rộng các ngành kinh tế mũi nhọn như: Năng lượng tái tạo, kinh tế nông nghiệp lúa, gạo chất lượng cao, phát thải thấp, chế biến thủy sản và du lịch sinh thái...

Bên cạnh đó, quy hoạch tỉnh An Giang giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã mở ra những cơ hội lớn cho địa phương. Quy hoạch đã định hướng phát triển toàn diện các ngành kinh tế theo lộ trình cụ thể, góp phần nâng cao khả năng thu hút đầu tư và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững.

“Dòng chảy” vốn tín dụng tại tỉnh An Giang tạo động lực tăng trưởng bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Tỉnh An Giang đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hướng đến chuyển biến về chất, tạo ra nhiều giá trị tăng thêm. (Ảnh: Trọng Triết)

Với mục tiêu tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng tốc triển khai các nhiệm vụ đột phá, trọng tâm trong năm 2024, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang và các cấp, các ngành đã quyết liệt thực hiện các giải pháp điều hành kinh tế - xã hội đem lại nhiều khởi sắc, tạo nên khí thế mới, động lực mới trong tăng trưởng và phát triển. Nhiều chủ trương, chính sách quan trọng được ban hành và triển khai hiệu quả, tác động tích cực đến sự phát triển chung của toàn tỉnh.

Kết quả, tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa phương (GRDP) năm 2024 đạt 7,16%. GRDP bình quân đầu người đạt 66,24 triệu đồng/năm. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,67%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,73%; khu vực dịch vụ tăng 8,34%; thuế trừ trợ cấp tăng 2,51%. Về cơ cấu kinh tế năm 2024: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỉ trọng 35,60%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 15,80%; khu vực dịch vụ chiếm 45,29%; thuế sản phẩm trừ trợ giá sản phẩm chiếm 3,31%. Tổng thu ngân sách đạt 7.917 tỉ đồng, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1.220 triệu USD, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 47.890 tỉ đồng, tăng 21,91%.

Các ngành kinh tế chủ lực như: Nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng và năng lượng tái tạo đều có bước phát triển vượt bậc. Nhiều dự án trọng điểm đã được đẩy nhanh tiến độ và đưa vào khai thác, góp phần tạo động lực mới cho kinh tế địa phương.

Để hiện thực hóa những mục tiêu lớn hơn, tỉnh An Giang đang tập trung vào 3 khâu đột phá quan trọng gồm: Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tháo gỡ khó khăn về thủ tục hành chính và khơi thông nguồn lực. Chính quyền tỉnh An Giang đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, từ cải thiện quy hoạch, đất đai, xây dựng đến việc thúc đẩy các chương trình liên kết đào tạo nguồn nhân lực.

Tỉnh An Giang cũng đang kiến nghị Trung ương trao quyền tự chủ lớn hơn nhằm triển khai các chính sách đặc thù phù hợp với thực tiễn địa phương. Điều này không chỉ giúp tỉnh An Giang phát huy tối đa nội lực mà còn tạo điều kiện thuận lợi để thu hút thêm các dự án đầu tư lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng tái tạo.

Vốn tín dụng ngân hàng tạo động lực tăng trưởng

Năm qua, hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh An Giang đã bám sát sự chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) về thực hiện nhiệm vụ hoạt động ngân hàng trong năm 2024; NHNN Chi nhánh An Giang đã triển khai thực hiện đầy đủ và kịp thời, có hiệu quả chính sách tiền tệ và các giải pháp tiền tệ, tín dụng, ngân hàng phù hợp với tình hình địa phương và diễn biến thị trường tiền tệ, tín dụng, ngoại hối cả nước, đặc biệt là lãi suất, tỉ giá và tăng trưởng tín dụng.

Tập trung chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn thực hiện tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, bảo đảm vốn tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh; tập trung cho vay lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đầu tư các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao; đẩy mạnh triển khai các nhiệm vụ ngân hàng tại Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, Chương trình mục tiêu quốc gia và các định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang; thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu kinh tế - xã hội tỉnh trong năm 2024.

Kết quả hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh An Giang năm 2024 đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch đề ra: Tổng số dư huy động vốn đến ngày 31/12/2024 đạt 74.414 tỉ đồng, tăng 7,29% so cuối năm 2023; cho vay nền kinh tế với dư nợ tín dụng đạt 126.026 tỉ đồng, tăng 12% so với cuối năm 2023. Trên thực tế, “dòng chảy” vốn tín dụng đã hỗ trợ nền kinh tế tỉnh An Giang đẩy mạnh tăng trưởng những lĩnh vực kinh tế có thế mạnh, góp phần tăng GRDP trên địa bàn đạt 7,16% (giá trị hiện hành là 126.771 tỉ đồng).

“Dòng chảy” vốn tín dụng tại tỉnh An Giang tạo động lực tăng trưởng bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Nguồn: Tổng hợp từ NHNN Chi nhánh tỉnh An Giang và Cục Thống kê tỉnh An Giang

Cơ cấu tín dụng giữa nội tệ và ngoại tệ, giữa ngắn hạn với trung và dài hạn bảo đảm, phù hợp với cơ cấu nguồn vốn và sử dụng vốn của các TCTD trên địa bàn. Tín dụng tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh là động lực tăng trưởng kinh tế.

Kết quả này có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ của NHNN và chương trình phục hồi tăng trưởng kinh tế.

Về dòng chảy vốn tín dụng đầu tư cho vay vào các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng của tỉnh An Giang gồm: Dư nợ cho vay lĩnh vực ưu tiên phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 76.679 tỉ đồng, tăng 8,73% so với cuối năm 2023, chiếm 63,9% tổng dư nợ toàn địa bàn. Trong đó, dư nợ cho vay phục vụ sản xuất, thu mua chế biến xuất khẩu lúa gạo đạt 19.521 tỉ đồng, tăng 17,42% so với cuối năm 2023. Dư nợ cho vay nuôi trồng, thu mua và chế biến thủy sản xuất khẩu đạt 16.759 tỉ đồng, tăng 12,24% so với cuối năm 2023.

Về cho vay ứng dụng công nghệ cao khác (hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ) đạt khoảng 16,43 tỉ đồng, tăng 15,04% so với năm 2023. Cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 12.113 tỉ đồng, tăng 12,37% so với năm 2023.

Bên cạnh đó, dư nợ cho vay hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ là 2,03 tỉ đồng, số khách hàng còn dư nợ là 17 khách hàng, doanh số cho vay từ đầu chương trình là 93.551 tỉ đồng. Cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ với tổng dư nợ là 23,09 tỉ đồng, với tổng số hộ vay là 211 khách hàng, doanh số cho vay từ đầu chương trình là 93,551 tỉ đồng.

Cho vay theo Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội, dư nợ cho vay là 178,35 tỉ đồng với 409 khách hàng. Trong đó, dư nợ cho vay Dự án tòa nhà T3, T4 thuộc Công ty cổ phần Dịch vụ và thương mại Đông Á là 73,86 tỉ đồng với 291 khách hàng; dư nợ cho vay tòa nhà N.H.O thuộc Chi nhánh Công ty cổ phần Tổ chức nhà quốc gia tại tỉnh An Giang là 104,49 tỉ đồng với 116 khách hàng.

Cho vay theo chương trình 120.000 tỉ đồng cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ tại Dự án tòa nhà T3, T4 thuộc Công ty cổ phần Dịch vụ và Thương mại Đông Á với tổng dư nợ là 2 tỉ đồng, cho 8 hộ vay. Cho vay theo chương trình tín dụng với lĩnh vực lâm sản, thủy sản (gói 60.000 tỉ đồng) đạt 893,61 tỉ đồng, lãi suất dao động từ 5% - 8,9%/năm với 20 doanh nghiệp, 74 hộ cá nhân. Cho vay theo chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030” với hạn mức tín dụng với hạn mức tín dụng là 700 triệu đồng, dư nợ hiện tại 301,54 triệu đồng cho 1 hợp tác xã nông nghiệp. Ngoài ra, để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân, các TCTD trên địa bàn đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 của Thống đốc NHNN cho 34 doanh nghiệp và 267 cá nhân với số lũy kế dư nợ gốc được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ là 1.624,95 tỉ đồng, dư nợ lãi được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ là 102,99 tỉ đồng.

Nguồn: Tác tổng hợp từ NHNN Chi nhánh tỉnh An Giang
Nguồn: Tổng hợp từ NHNN Chi nhánh tỉnh An Giang

Những kết quả đạt được của “dòng chảy” vốn tín dụng ngân hàng góp phần xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung ứng nông, lâm, thủy sản an toàn với các chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn theo VietGAP; hình thành vùng sản xuất chuyên canh, tập trung quy mô lớn đối với các sản phẩm chủ lực của tỉnh An Giang (thủy sản, trái cây, rau màu, lúa, nếp) gắn với liên kết, tiêu thụ theo chuỗi giá trị nông sản, bảo đảm chất lượng và nhu cầu thị trường.

Tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 3,67%, đạt kế hoạch năm 2024. Năm 2024, tỉnh An Giang đã triển khai thực hiện Đề án phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030 được 1.117 ha mô hình. Toàn tỉnh An Giang đã có 165 sản phẩm đạt chứng nhận OCOP từ 3 sao trở lên. Đặc biệt, 2 sản phẩm OCOP 4 sao của tỉnh An Giang được chọn là 2 trong số 23 sản phẩm OCOP tiêu biểu tại Hội thi sản phẩm OCOP tiêu biểu vùng ĐBSCL.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế ngành công nghiệp và xây dựng năm 2024 tăng 12,73%. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,42%. Tình hình sản xuất một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh có nhiều khởi sắc, thị trường trong nước và quốc tế mở rộng như: Sản phẩm thủy sản đông lạnh đang thu hút nhiều đơn đặt hàng từ các thị trường châu Âu, Mỹ và dần mở rộng sang Brazil, Colombia, Nga. Sản phẩm gạo xay xát tiếp tục đón nhận tín hiệu khả quan từ thị trường Philippines, Trung Quốc, Indonesia, Đài Loan, Ghana, Australia... khối lượng sản xuất một số sản phẩm chủ yếu trên địa bàn tỉnh An Giang tăng cao; hạ tầng điện, năng lượng tái tạo được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển.

Năm 2024, tốc độ tăng trưởng kinh tế ngành dịch vụ tăng 8,34%; tổng mức bán buôn, bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 225.631 tỉ đồng, tăng 15,45%; tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 1.220 triệu USD, tăng 3,48% so với năm 2023. Thị trường hàng hóa ổn định, được các doanh nghiệp chuẩn bị số lượng dồi dào, chủng loại phong phú, chất lượng bảo đảm phục vụ tốt nhu cầu mua sắm của người dân. Toàn tỉnh An Giang đón 9,1 triệu lượt khách du lịch, tăng 7,06%, trong đó có 25.000 lượt khách quốc tế, tăng 13,64%. Tổng doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 10.250 tỉ đồng, tăng 73,73%. Tỉnh An Giang đã tập trung kích cầu du lịch nội địa, đẩy mạnh xúc tiến đối với các thị trường khách du lịch quốc tế, nhằm điều chỉnh cơ cấu nguồn khách quốc tế của An Giang, hướng đến sự phát triển bền vững, góp phần đưa du lịch tăng trưởng trở lại. Các sản phẩm du lịch ngày càng được đa dạng hóa và nâng cao về chất lượng.

Định hướng phát triển bền vững

Năm 2025 là năm diễn ra nhiều sự kiện đặc biệt quan trọng đối với đất nước ta: Kỷ niệm 95 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, 135 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 80 năm thành lập Nước và là năm tiến hành Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tình hình thế giới, khu vực tiếp tục phức tạp, khó lường; khó khăn, thách thức và thời cơ, thuận lợi đan xen nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn.

Năm 2025 là năm tăng tốc, bứt phá, về đích; phấn đấu đạt kết quả cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng. Cả hệ thống chính trị toàn tỉnh An Giang đổi mới, đột phá với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, tổ chức thực hiện kịp thời, linh hoạt, hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; tập trung hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2025, trong đó quyết liệt thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hướng đến chuyển biến về chất, tạo ra nhiều giá trị tăng thêm; tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, đẩy nhanh tiến độ đặc biệt là hạ tầng giao thông để tạo nền tảng phát triển du lịch, thương mại và dịch vụ, thúc đẩy liên kết vùng; hoàn thiện các quy hoạch đồng bộ, tập trung cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, bảo đảm môi trường kinh doanh bình đẳng, thuận lợi cho doanh nghiệp và nhà đầu tư đặc biệt là công tác kêu gọi, thu hút đầu tư; làm tốt công tác hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã phù hợp với điều kiện của tỉnh An Giang.

Hai là, ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu, chủ động phòng, chống thiên tai, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; chú trọng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là cho những ngành, lĩnh vực ưu tiên, mới nổi; thúc đẩy mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo vào sản xuất và chế biến, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn gắn với bảo đảm an ninh, an toàn để thúc đẩy phát triển.

Ba là, hệ thống ngân hàng trên địa bàn thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm: Tiếp tục thực hiện các giải pháp trọng tâm năm 2025 trên cơ sở nội dung chỉ đạo của NHNN, các nghị quyết, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế của địa phương để thực hiện tốt hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngoại hối và ngân hàng trên địa bàn tỉnh An Giang; thực hiện và tuân thủ các cơ chế, chính sách và quy định pháp luật về tiền tệ, ngoại hối và hoạt động ngân hàng; đẩy mạnh triển khai các chương trình, đề án, chính sách tín dụng như: (i) Chương trình tín dụng 60.000 tỉ đồng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản; (ii) Chương trình tín dụng góp phần thực hiện Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030” theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg; (iii) Chương trình 120.000 tỉ đồng cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ; tiếp tục triển khai và đẩy mạnh Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp bằng các hình thức phù hợp và chủ động xử lý các kiến nghị đối với hoạt động ngân hàng; đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng của các TCTD trên địa bàn; triển khai công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; phòng, chống, ngăn ngừa vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng; triển khai cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu; thực hiện các phương án cơ cấu và xử lý nợ xấu của các QTDND giai đoạn 2022 - 2025; thực hiện thu hồi nợ xấu của các chi nhánh NHTM; đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt tại địa phương; thực hiện hiệu quả Kế hoạch về thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển chính quyền số và bảo đảm an ninh thông tin; bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động ngân hàng, thực hiện tốt công tác an toàn kho quỹ; bảo đảm an toàn hoạt động máy ATM, POS; đẩy mạnh công tác truyền thông chính sách về các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng để người dân dễ dàng tiếp cận; về các giải pháp tích cực trong điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và giải pháp bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng; tiếp tục duy trì, cải tiến và mở rộng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015; thực hiện nghiêm cơ chế một cửa trong việc tiếp nhận, trả kết quả giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính; các TCTD đẩy mạnh an sinh xã hội tại địa phương. Có thể nói, tỉnh An Giang đang từng bước vươn mình trở thành một trong những trung tâm kinh tế quan trọng của cả nước. Với chiến lược phát triển bài bản, sự hỗ trợ từ chính sách và quyết tâm của chính quyền, người dân lẫn doanh nghiệp, tỉnh An Giang có đủ điều kiện tạo nên những đột phá mới, nỗ lực để tỉnh An Giang không chỉ là miền đất của những giá trị khác biệt mà còn là biểu tượng của sự phát triển bền vững, xứng đáng với niềm tin và kỳ vọng của cả nước.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh An Giang năm 2024 và phương hướng năm 2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang.

2. Báo cáo kết quả hoạt động ngân hàng năm 2024 và phương hướng năm 2025 của NHNN Chi nhánh tỉnh An Giang.

3. Báo cáo tổng sản phẩm GRDP trên địa bàn năm 2024 của Cục Thống kê tỉnh An Giang.

Trần Trọng Triết

Tin bài khác

Báo chí Cách mạng Việt Nam trong thời đại số

Báo chí Cách mạng Việt Nam trong thời đại số

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ".
Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam

Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam

Từ hào khí bất diệt của ngày 30/4 lịch sử đến nhịp sống sôi động của công cuộc kiến thiết đất nước hôm nay, ngành Ngân hàng đang tiếp nối tinh thần bất khuất và khát vọng vươn mình của dân tộc Việt Nam bằng những bước chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định vai trò trụ cột tài chính và động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trong kỷ nguyên mới.
Kinh tế Việt Nam 2025: Thành tựu bứt phá trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén

Kinh tế Việt Nam 2025: Thành tựu bứt phá trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén

Năm 2025 khép lại với những dấu ấn tăng trưởng nổi bật của kinh tế Việt Nam, bất chấp bối cảnh quốc tế nhiều biến động. Tăng trưởng GDP vượt 8%, lạm phát được kiểm soát và các cân đối lớn duy trì ổn định đã cho thấy hiệu quả rõ nét của điều hành vĩ mô, trong đó chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén đóng vai trò then chốt, tạo bệ đỡ cho phục hồi và phát triển.
Ngành Ngân hàng thi đua đổi mới sáng tạo, tiên phong cùng đất nước phát triển hùng cường, thịnh vượng

Ngành Ngân hàng thi đua đổi mới sáng tạo, tiên phong cùng đất nước phát triển hùng cường, thịnh vượng

“Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất” là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài phát biểu khai mạc Đại hội các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc năm 1952, đã trở thành mạch nguồn cảm hứng cho các phong trào thi đua yêu nước suốt gần tám thập niên qua. Với ngành Ngân hàng, tinh thần ấy càng được thấm sâu trong từng chủ trương, từng quyết sách, từng nhiệm vụ hằng ngày.
Tăng cường trách nhiệm, kỷ cương, kỷ luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Tăng cường trách nhiệm, kỷ cương, kỷ luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Trước yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng của đất nước, Đảng ủy Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) xác định siết chặt kỷ cương là yếu tố then chốt và đổi mới phương thức lãnh đạo nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, thích ứng với thách thức kinh tế hiện nay.
Đoàn kết, trách nhiệm, tăng tốc, bứt phá, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Đoàn kết, trách nhiệm, tăng tốc, bứt phá, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước xác định mục tiêu tổng quát trong nhiệm kỳ 2025 - 2030 là tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu quả góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, kinh tế phát triển năng động, nhanh và bền vững.
Đảng bộ Ngân hàng Nhà nước đoàn kết, bứt phá, vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới của đất nước

Đảng bộ Ngân hàng Nhà nước đoàn kết, bứt phá, vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới của đất nước

Đảng bộ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ, xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, cùng đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, giàu mạnh, phồn vinh và thịnh vượng...
Bức thư gửi về quá khứ

Bức thư gửi về quá khứ

Trong không khí tươi vui của những ngày mừng Xuân đại thắng, "Bức thư gửi về quá khứ" không chỉ là lời tri ân sâu sắc đến thế hệ cha ông đã hi sinh vì độc lập dân tộc, mà còn là nhịp cầu kết nối giữa quá khứ huy hoàng và tương lai rạng rỡ, giữa những năm tháng lịch sử gian lao và một non sông hôm nay hùng cường, thịnh vượng, vững vàng bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Xem thêm
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam