Báo chí Cách mạng Việt Nam trong thời đại số

Ngành Ngân hàng với kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ".
aa
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại cuộc gặp mặt 101 nhà báo tiêu biểu đoạt Giải báo chí quốc gia qua các năm nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam ngày 16/6/2026 - Ảnh TTXVN
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại cuộc gặp mặt 101 nhà báo tiêu biểu đoạt Giải báo chí quốc gia qua các năm nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam ngày 16/6/2026 - Ảnh TTXVN

Sau hơn một thế kỷ đồng hành cùng dân tộc, báo chí cách mạng Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển rất mới, rất khác trên hầu hết các phương diện. Không gian số đã trở thành một thành tố thiết yếu của đời sống thực hằng ngày. Công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông xuyên biên giới đã làm thay đổi tận gốc cách thông tin được tạo ra, phân phối, tiếp nhận và kiểm chứng.

Ngày nay, người dân học tập, làm việc, giao tiếp, mua bán, giải trí, bày tỏ quan điểm và tham gia các vấn đề xã hội qua các nền tảng trực tuyến. Dòng chảy thông tin nhanh và đa dạng đem lại cơ hội lớn cho phổ biến tri thức, cho dân chủ xã hội và đổi mới sáng tạo. Các chủ trương lớn của Đảng, chính sách mới của Nhà nước, các thông tin tích cực có thể đến cùng lúc với hàng chục triệu người bằng nhiều hình thức, phương tiện khác nhau. Công nghệ giúp báo chí gần người dân hơn và nhận phản hồi nhanh hơn.

Tuy nhiên, môi trường mạng cũng khiến đời sống thông tin phức tạp hơn, dễ bị chi phối bởi cảm xúc nhất thời, tin sai lệch, thao túng thuật toán và những hoạt động tán phát thông tin có chủ đích. Tin giả, tin nửa đúng nửa sai, mập mờ, hình ảnh và âm thanh giả mạo, nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra, xâm phạm bản quyền, tấn công mạng và đánh cắp dữ liệu diễn ra ngày càng tinh vi. Thông tin sai có thể lan xa trước khi sự thật kịp được kiểm chứng. Tình trạng phát ngôn bị cắt ghép có thể làm tổn hại uy tín cá nhân, tổ chức, thậm chí ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước.

Trong trật tự truyền thông mới, báo chí không còn giữ vị trí gần như độc quyền phát tin. Đến cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng 85,6 triệu người dùng Internet, tương đương 84,2% dân số, và khoảng 79 triệu định danh người dùng mạng xã hội. Theo thống kê gần nhất, tổng số tài khoản người Việt sử dụng mạng xã hội trong nước khoảng 110 triệu, trong khi tài khoản trên các mạng xã hội nước ngoài khoảng 203 triệu. Môi trường số như vậy giúp báo chí vừa có cơ hội tiếp cận công chúng rộng hơn bao giờ hết, vừa phải cạnh tranh trực tiếp với dòng nội dung khổng lồ do các nền tảng và người dùng tạo ra từng giờ, từng phút. Trên không gian số, hầu như mọi cá nhân đều có thể đưa tin. Các tài khoản mạng xã hội đều có thể tạo ảnh hưởng trong một cộng đồng nhất định.

Tuy nhiên, sự thay đổi đó không làm giảm vai trò của báo chí cách mạng. Trái lại, khi thông tin quá nhiều, xã hội càng cần những địa chỉ đáng tin cậy để xác định điều gì đúng, điều gì còn phải kiểm chứng, điều gì chỉ là cảm xúc đám đông hoặc sự sắp đặt có chủ ý. Điều đó đòi hỏi sự chuyên nghiệp, thái độ lao động nghề nghiệp nghiêm túc và bản lĩnh trước mọi sức ép. Báo chí phải là nơi nhân dân tìm đến khi cần sự xác nhận đáng tin cậy, không phải nơi chạy theo xu hướng. Xã hội cần nơi tin cậy để hiểu đúng sự thật. Người dân cần biết việc gì đã xảy ra, vì sao xảy ra, tác động đến ai, trách nhiệm thuộc về đâu và giải pháp nào có cơ sở.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và 101 nhà báo tiêu biểu ngày 16/6/2026
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và 101 nhà báo tiêu biểu ngày 16/6/2026

Không gian số cũng cần có những tác phẩm báo chí giàu về dữ liệu, đa dạng về nội dung, phong phú cách diễn đạt, sâu về phân tích chính sách. Nhiều vấn đề hiện nay, từ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, cải cách hành chính, chính sách an sinh đến biến động kinh tế quốc tế, đều khó nắm bắt nếu chỉ đọc những mẩu tin rời rạc. Vì vậy, trách nhiệm của báo chí không chỉ là nhanh hơn, mà trước hết phải đúng hơn, sâu sắc hơn, có ích hơn.

Từ yêu cầu đó, chuyển đổi số báo chí không thể hiểu đơn giản là lập thêm trang điện tử, mở tài khoản mạng xã hội hay trang bị thiết bị hiện đại. Đó phải là cuộc đổi mới toàn diện về tư duy lãnh đạo, mô hình tòa soạn, quy trình sản xuất, quản trị dữ liệu, phân phối nội dung, đo lường công chúng, kinh tế báo chí và văn hóa nghề nghiệp. Báo chí số không phải là báo chí cũ đặt lên nền tảng mới, mà là cách tổ chức mới trong bối cảnh mới.

Trong tòa soạn, mỗi tác phẩm cần được nhìn như một sản phẩm thông tin có mục tiêu rõ ràng. Mọi hình thức thể hiện phải cùng tuân thủ một chuẩn mực: chính xác, nhân văn, có kiểm chứng, có trách nhiệm. Cần tránh tình trạng nghiêm túc trên trang chính nhưng dễ dãi trên nền tảng phụ. Báo chí càng đa nền tảng, càng phải thống nhất chuẩn mực.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký lưu niệm vào biểu trưng của Hội Nhà báo Việt Nam
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký lưu niệm vào biểu trưng của Hội Nhà báo Việt Nam

Trong thời đại số, dữ liệu là một trụ cột của báo chí. Dữ liệu không chỉ là con số; đó là nền tảng của kiểm chứng và phương tiện để xây dựng và chuyển tải các tác phẩm báo chí một cách thuyết phục hơn, toàn diện hơn. Các cơ quan thông tấn, báo chí lớn, uy tín trên thế giới hiện đều đầu tư rất lớn cho việc xây dựng dữ liệu và dành nguồn nhân lực đáng kể cho công tác dữ liệu. Khi dữ liệu được xây dựng và quản trị tốt, báo chí sẽ tăng sức thuyết phục và có khả năng phát hiện vấn đề từ sớm.

Một vấn đề lớn khác là quyền chủ động trước các nền tảng xuyên biên giới. Báo chí cần tiếp cận được nơi công chúng hiện diện qua mọi nền tảng, nhưng không thể để lệ thuộc vào thuật toán bên ngoài. Nếu chỉ chạy theo lượt xem và cơ chế đề xuất, cơ quan báo chí dễ mất dữ liệu độc giả, mất quyền phân phối, mất bản sắc và chịu rủi ro khi thuật toán thay đổi. Làm chủ không gian số nghĩa là biết khai thác các nền tảng toàn cầu, đồng thời xây dựng kênh riêng, cộng đồng độc giả riêng, dữ liệu riêng và thương hiệu tin cậy riêng.

Vì vậy, chủ quyền thông tin quốc gia cần được nhận thức đầy đủ hơn. Báo chí cách mạng phải là lực lượng chủ lực trong bảo vệ chủ quyền ấy. Bảo vệ chủ quyền thông tin không có nghĩa là khép kín. Việt Nam cần một nền báo chí đối ngoại số mạnh, đa ngôn ngữ, đa phương tiện, có khả năng chuyển tải thông điệp của Việt Nam với thế giới bằng ngôn ngữ hiện đại và bản sắc Việt Nam. Thành tựu đổi mới, văn hóa dân tộc, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển cần được trình bày bằng sản phẩm hấp dẫn, dữ liệu thuyết phục.

Để hoàn thành sứ mệnh đó, báo chí cần nguồn lực phát triển bền vững. Kinh tế báo chí số không đối lập với mục tiêu và các định hướng của báo chí cách mạng. Một nền báo chí thiếu nguồn lực sẽ khó đầu tư công nghệ, bảo vệ bản quyền, đào tạo nhân lực và giữ chân người giỏi. Tuy nhiên, kinh tế báo chí phải phục vụ sứ mệnh báo chí, không dẫn dắt báo chí vào giật gân, câu khách, khai thác đời tư, thương mại hóa thông tin chính trị - xã hội. Báo chí cần nguồn thu mới từ thuê bao số, bản quyền, dữ liệu và sản phẩm chuyên sâu. Nếu không xây dựng được mô hình kinh tế báo chí số lành mạnh, báo chí sẽ khó giữ vững năng lực đầu tư cho nội dung chất lượng cao, điều tra, phân tích, kiểm chứng và bảo vệ bản quyền.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với các nhà báo tiêu biểu. Ảnh: TTXVN
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với các nhà báo tiêu biểu. Ảnh: TTXVN

Bản quyền báo chí trong môi trường số và môi trường AI cũng phải được bảo vệ nghiêm túc. Nội dung báo chí là kết quả của lao động sáng tạo, tác nghiệp, kiểm chứng, biên tập, đầu tư tài chính và trách nhiệm pháp lý. Việc sao chép, cắt ghép, khai thác, tổng hợp, thương mại hóa sẽ làm suy yếu nền tảng kinh tế của báo chí. Bảo vệ bản quyền là bảo vệ lao động chân chính và chất lượng thông tin trong xã hội.

Vấn đề cuối cùng vẫn là con người. Mọi định hướng, chiến lược đều phụ thuộc vào con người. Nhà báo trong kỷ nguyên số phải biết làm việc với dữ liệu, công cụ số, mạng xã hội, nguồn tin mở và các chuẩn mực an toàn thông tin. Càng nhiều công cụ, nhà báo càng cần bản lĩnh. Cần tránh tình trạng đăng trước kiểm chứng sau hay để mạng xã hội dẫn dắt. Người làm báo không được phép đánh đổi uy tín để tăng lượt xem. Trước khi đăng một tác phẩm báo chí, người làm báo cần trả lời ba câu hỏi: có đúng không, có cần thiết không, có ích cho xã hội không?

Lãnh đạo cơ quan báo chí cũng phải thay đổi. Tổng biên tập trong tòa soạn số không chỉ là người duyệt nội dung, mà còn phải kiến tạo chiến lược sản phẩm, dữ liệu, công chúng, công nghệ và nhân lực. Cơ quan báo chí cần một văn hóa làm việc mới: chuyên nghiệp, kỷ luật trong kiểm chứng, nhanh nhạy trong phản ứng, cởi mở với đổi mới, sẵn sàng thử nghiệm nhưng không dễ dãi với chuẩn mực. Đào tạo lại đội ngũ phải trở thành nhiệm vụ thường xuyên, tập trung vào kiểm chứng số, an toàn dữ liệu, báo chí đa nền tảng, đạo đức AI và tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Trong bối cảnh Luật Báo chí số 126/2025/QH15 sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2026, việc hoàn thiện thể chế báo chí số là hết sức cần thiết. Thể chế phải bảo vệ quyền tác nghiệp đúng pháp luật, khuyến khích đổi mới sáng tạo, tạo hành lang cho tòa soạn số, kinh tế báo chí số, báo chí dữ liệu, bảo vệ bản quyền và sử dụng AI có trách nhiệm. Đồng thời, kỷ cương báo chí phải được giữ nghiêm; các sai phạm về thông tin, đạo đức nghề nghiệp, lợi dụng báo chí để trục lợi phải được xử lý kịp thời.

Một nhiệm vụ cấp thiết là hình thành năng lực kiểm chứng thông tin ở quy mô quốc gia. Cần có sự kết nối chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ quan báo chí chủ lực, chuyên gia công nghệ, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp nền tảng và cộng đồng để phát hiện, xác minh, cảnh báo, phản bác tin giả, giả mạo phát ngôn, giả mạo hình ảnh cơ quan nhà nước và các hoạt động tán phát gây nhiễu thông tin. Mạng lưới đó phải vận hành nhanh, có quy trình rõ ràng, dùng dữ liệu và chứng cứ để thuyết phục công chúng.

Trong toàn bộ quá trình đổi mới nền báo chí, phải đặt công chúng ở vị trí trung tâm. Công chúng số hiện nay không chỉ tiếp nhận thông tin mà thường xuyên phản hồi, đặt câu hỏi, kiểm chứng ngược, góp ý, cung cấp dữ liệu và đòi hỏi báo chí minh bạch hơn. Báo chí phải biết lắng nghe nhưng không chạy theo mọi cảm xúc tức thời, tôn trọng tranh luận nhưng tuyệt đối không dung dưỡng thông tin độc hại. Với giới trẻ, báo chí có thể đổi mới để tiếp cận tốt hơn bằng ngôn ngữ, định dạng, nền tảng phù hợp nhưng không được hạ thấp chuẩn mực.

Báo chí cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên số vì vậy phải kết hợp hài hòa giữa bản lĩnh chính trị và năng lực công nghệ, giữa lý tưởng cách mạng và tư duy đổi mới, giữa tính chiến đấu và tính nhân văn, giữa trách nhiệm quốc gia và khả năng hội nhập. Làm chủ không gian số không thể chỉ bằng khẩu hiệu mà phải bắt đầu từ từng tòa soạn, từng quy trình kiểm chứng, từng kho dữ liệu, từng sản phẩm báo chí, từng lớp đào tạo và từng ứng xử của nhà báo trước công chúng.

Nhân dịp kỷ niệm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, tôi mong rằng các cơ quan báo chí và mỗi nhà báo sẽ biến truyền thống cách mạng thành động lực cho đổi mới. Các cơ quan báo chí cần trở thành một tòa soạn số hiện đại, một trung tâm dữ liệu và tri thức, một địa chỉ tin cậy của nhân dân. Các nhà báo tiếp tục là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hóa - thông tin số, vững bản lĩnh, trong sáng đạo đức, sâu sắc nhân văn, tinh thông công nghệ. Với định hướng đó, tôi tin tưởng rằng báo chí cách mạng Việt Nam sẽ tiếp tục đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong thời đại số./.

Theo baochinhphu.vn

Tin bài khác

Từ mùa Thu Độc lập đến nền tài chính hiện đại: Dấu ấn ngành Ngân hàng trong hành trình vươn mình của đất nước

Từ mùa Thu Độc lập đến nền tài chính hiện đại: Dấu ấn ngành Ngân hàng trong hành trình vươn mình của đất nước

Từ nền tảng tài chính, tiền tệ độc lập được xây dựng sau Cách mạng Tháng Tám, ngành Ngân hàng đã không ngừng đổi mới và trưởng thành, trở thành lực lượng quan trọng trong huy động, phân bổ nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng, đồng hành cùng khát vọng xây dựng Việt Nam phát triển, thịnh vượng, hùng cường.
Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam

Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam

Từ hào khí bất diệt của ngày 30/4 lịch sử đến nhịp sống sôi động của công cuộc kiến thiết đất nước hôm nay, ngành Ngân hàng đang tiếp nối tinh thần bất khuất và khát vọng vươn mình của dân tộc Việt Nam bằng những bước chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định vai trò trụ cột tài chính và động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trong kỷ nguyên mới.
Kinh tế Việt Nam 2025: Thành tựu bứt phá trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén

Kinh tế Việt Nam 2025: Thành tựu bứt phá trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén

Năm 2025 khép lại với những dấu ấn tăng trưởng nổi bật của kinh tế Việt Nam, bất chấp bối cảnh quốc tế nhiều biến động. Tăng trưởng GDP vượt 8%, lạm phát được kiểm soát và các cân đối lớn duy trì ổn định đã cho thấy hiệu quả rõ nét của điều hành vĩ mô, trong đó chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén đóng vai trò then chốt, tạo bệ đỡ cho phục hồi và phát triển.
Ngành Ngân hàng thi đua đổi mới sáng tạo, tiên phong cùng đất nước phát triển hùng cường, thịnh vượng

Ngành Ngân hàng thi đua đổi mới sáng tạo, tiên phong cùng đất nước phát triển hùng cường, thịnh vượng

“Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất” là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài phát biểu khai mạc Đại hội các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc năm 1952, đã trở thành mạch nguồn cảm hứng cho các phong trào thi đua yêu nước suốt gần tám thập niên qua. Với ngành Ngân hàng, tinh thần ấy càng được thấm sâu trong từng chủ trương, từng quyết sách, từng nhiệm vụ hằng ngày.
Tăng cường trách nhiệm, kỷ cương, kỷ luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Tăng cường trách nhiệm, kỷ cương, kỷ luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Trước yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng của đất nước, Đảng ủy Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) xác định siết chặt kỷ cương là yếu tố then chốt và đổi mới phương thức lãnh đạo nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, thích ứng với thách thức kinh tế hiện nay.
Đoàn kết, trách nhiệm, tăng tốc, bứt phá, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Đoàn kết, trách nhiệm, tăng tốc, bứt phá, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước xác định mục tiêu tổng quát trong nhiệm kỳ 2025 - 2030 là tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu quả góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, kinh tế phát triển năng động, nhanh và bền vững.
Đảng bộ Ngân hàng Nhà nước đoàn kết, bứt phá, vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới của đất nước

Đảng bộ Ngân hàng Nhà nước đoàn kết, bứt phá, vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới của đất nước

Đảng bộ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ, xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, cùng đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, giàu mạnh, phồn vinh và thịnh vượng...
Bức thư gửi về quá khứ

Bức thư gửi về quá khứ

Trong không khí tươi vui của những ngày mừng Xuân đại thắng, "Bức thư gửi về quá khứ" không chỉ là lời tri ân sâu sắc đến thế hệ cha ông đã hi sinh vì độc lập dân tộc, mà còn là nhịp cầu kết nối giữa quá khứ huy hoàng và tương lai rạng rỡ, giữa những năm tháng lịch sử gian lao và một non sông hôm nay hùng cường, thịnh vượng, vững vàng bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối