Tokenization trong lĩnh vực tài chính

Công nghệ & ngân hàng số
Những năm gần đây, token được sử dụng rộng rãi đối với các giao dịch trực tuyến trong lĩnh vực tài chính -ngân hàng, nhằm đảm bảo an toàn cho tài khoản của khách hàng. Tiến bộ công nghệ đã dẫn đến xu hướng tạo dựng token điện tử trên các nền tảng có khả năng lập trình với mục tiêu cung cấp hạ tầng cơ sở (gọi là sắp đặt token) và mã hóa các token (tokenization) để hỗ trợ các bên tham gia phát hành, chuyển giao tiền tệ và những tài sản khác, bắt đầu được triển khai trên thị trường tài sản ảo và nhanh chóng được nghiên cứu, thử nghiệm rộng rãi.
aa
Tokenisation trong lĩnh vực tài chính
Trong lĩnh vực ngân hàng, token được sử dụng để xác thực các giao dịch trực tuyến, bảo đảm an toàn cho tài khoản của khách hàng (Ảnh minh họa. Nguồn: Internet)

Một số khái niệm về token, tokenization và cơ chế vận hành

Token: Là một đoạn mã hoặc ký hiệu số đại diện cho quyền truy cập hoặc quyền sở hữu trong một hệ thống kỹ thuật số. Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, token được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch trực tuyến. Nó có thể được coi là một mật khẩu bắt buộc nhằm mục đích bảo mật thông tin và tài sản của người dùng.

Với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống thanh toán số và cơ sở hạ tầng tài chính, các mô hình token hiện đại đang cho thấy tiềm năng lớn trong việc nâng cao tính bảo mật, hiệu quả vận hành và khả năng quản trị rủi ro. Tuy nhiên, việc triển khai các giải pháp token cũng đòi hỏi phải kiểm soát chặt chẽ rủi ro và phản ứng nhanh trước các thay đổi về cấu trúc thị trường do công nghệ mang lại.

Tokenization: Là quy trình tạo ra và ghi chép một đại diện số của các tài sản truyền thống trên nền tảng có khả năng lập trình, chuyển hóa thông tin nhạy cảm của khách hàng thành một mã ký tự, được gọi là mã token. Trong hoạt động ngân hàng trực tuyến hay ví điện tử, số tài khoản và những thông tin cần bảo mật khác sẽ được lưu trữ dưới dạng mã token. Với công nghệ này, thông tin của khách hàng được lưu trữ đầy đủ trong hệ thống với mức độ bảo mật cao, góp phần giảm thiểu rủi ro mất cắp thông tin và truy cập bất hợp pháp.

Trong tương lai, tokenization có thể ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán, chính sách tiền tệ và ổn định tài chính của các ngân hàng trung ương (NHTW), khi các sáng kiến tokenization đang diễn ra ở khu vực tư nhân, thì đặt ra bài toán liệu các token có tuân thủ đầy đủ các quy định pháp lý, cũng như các nguyên tắc quốc tế về hạ tầng thị trường tài chính, đồng thời, tác động của các token đến việc thực thi chính sách tiền tệ là như thế nào.

Về cơ chế vận hành, token là yếu tố quyết định khả năng hoạt động và ứng dụng của token trong các hệ sinh thái số. Trong môi trường blockchain, token hoạt động dựa trên công nghệ sổ cái phân tán mà không cần sự can thiệp của bên thứ ba như ngân hàng hay các tổ chức tài chính trung gian. Mỗi khi người dùng thực hiện giao dịch hoặc sử dụng token, thông tin này sẽ được ghi lại và xác nhận trong một sổ cái phân tán, gọi là blockchain. Mỗi giao dịch token sẽ được xác nhận bởi một mạng lưới các nút (nodes) trong hệ thống blockchain, bảo đảm tính minh bạch và không thể thay đổi.

Token được tạo ra và giao dịch thông qua các hợp đồng thông minh, đó là các đoạn mã tự động thực thi điều kiện giao dịch đã được thiết lập trước. Khi những điều kiện này được thỏa mãn, hợp đồng thông minh sẽ tự động chuyển token từ tài khoản này sang tài khoản khác mà không cần sự can thiệp của bất kỳ tổ chức nào. Cách thức token giao dịch có thể được hiểu qua một ví dụ đơn giản, khi người dùng muốn chuyển token từ ví của mình sang ví của người khác, thông tin giao dịch sẽ được gửi đến mạng blockchain. Sau khi giao dịch được xác nhận, token sẽ được chuyển đến ví người nhận, quá trình này được ghi lại trong một khối dữ liệu (block).

Trong lĩnh vực ngân hàng, token được sử dụng để xác thực các giao dịch trực tuyến, đảm bảo an toàn cho tài khoản của khách hàng. Trong lĩnh vực blockchain, token được dùng để truy cập dịch vụ, tham gia vào các dự án, hoặc đại diện cho quyền sở hữu tài sản số. Việc hiểu rõ token là gì và các loại token sẽ giúp người dùng áp dụng hiệu quả trong các hoạt động trực tuyến và đầu tư tài chính.

Token cũng được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch xuyên biên giới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, phương thức thanh toán quốc tế truyền thống có thể tốn thời gian và phí giao dịch cao. Tuy nhiên, với token, người dùng có thể thực hiện giao dịch nhanh chóng và tiết kiệm chi phí mà không cần thông qua các ngân hàng hay các trung gian tài chính khác. Điều này đặc biệt hữu ích cho các doanh nghiệp và cá nhân muốn giao dịch với đối tác quốc tế, giúp tiết kiệm thời gian và giảm thiểu rủi ro liên quan đến tỉ giá hối đoái.

Tokenization trong lĩnh vực tiền tệ và tài sản khác

Về tổng thể, việc sử dụng tokenization được phát triển đầu tiên trên các thị trường tiền ảo; nhiều dự án và thí nghiệm trên thị trường tài chính đã nâng cao tính thích hợp của token đối với các NHTW trong những năm gần đây. Cho tới nay, các sáng kiến đã tập trung vào tiềm năng của tokenization trong việc xử lý những hạn chế hiện hành trên thị trường tài chính, đánh giá những trường hợp sử dụng và chức năng mới, đồng thời, nâng cao hiệu quả tiềm tàng của các hoạt động trên thị trường tài chính. Các dự án có quy mô khác nhau thì có quy trình vận hành riêng. Tuy nhiên, một số dự án có đặc điểm giống nhau là lệ thuộc vào công nghệ sổ cái phân tán làm công nghệ cơ bản để hỗ trợ quy trình bảo mật tokenization.

Do sự phát triển này, khi thảo luận các mối quan hệ tiềm tàng trong tương lai, G20 đã yêu cầu Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) phối hợp với Ủy ban Thanh toán và Hạ tầng thị trường (CPMI) nghiên cứu và đánh giá vai trò của tokenization trong lĩnh vực tiền tệ và những tài sản khác, tác động của nó đến hoạt động của các thị trường tài chính và NHTW cũng như hệ thống tài chính toàn cầu.

Sắp đặt mã số token

Token là chữ ký số/chữ ký điện tử đã được mã hóa và lưu giữ trên thiết bị máy token, thường dùng cho các giao dịch tài chính, đặc biệt là giao dịch trực tuyến. Mã token được xếp vào nhóm mã OTP, là một loại mật khẩu ngẫu nhiên, bắt buộc phải nhập để xác nhận giao dịch nhằm mục đích bảo mật và chỉ sử dụng trong một lần duy nhất.

Tokenization có thể tạo thuận lợi cho việc chuẩn hóa và lập trình tài sản, qua đó có thể mở rộng việc sử dụng các nền tảng cung cấp dịch vụ tài chính trung gian. Báo cáo sử dụng thuật ngữ “sắp đặt token” để mô tả các nền tảng có khả năng lập trình và/hoặc các thực thể tham gia - tạo thuận lợi để thực hiện các chức năng của thị trường tài chính bằng cách sử dụng token điện tử.

Gần đây, các chức năng, nhiệm vụ cần thiết trong chu trình giao dịch tài chính thường được hoàn tất bởi các thực thể riêng rẽ, với cách bố trí hoạt động hay tài sản đặc trưng (gọi là bố trí theo quy ước). Các chức năng và thực thể được định hình bởi khung khổ pháp lý, sự điều chỉnh, tính khả thi của hoạt động, quy ước và có xem xét đến yếu tố thị trường về quản lý và quản trị rủi ro.

Việc cung cấp dịch vụ tài chính của các nền tảng trung gian có thể cho phép so sánh giữa một cấu trúc thị trường khác với các cách bố trí theo quy ước. Các sắp đặt token có thể là đa tài sản, đa chức năng và đa bên, có thể cung cấp các chủng loại tài sản khác nhau dưới dạng token, bao gồm tiền và những tài sản khác, khác với nhiều cách bố trí hiện hành trong đó tiền được nắm giữ trên những sổ cái riêng rẽ. Các ứng dụng hình thành trên cơ sở hạ tầng thông thường cho phép kết nối các chức năng khác nhau trong mã số sắp đặt, nó có thể bao hàm một phần hay toàn bộ vòng đời của giao dịch tài chính (tức là từ phát hành, trao đổi và quy trình sau đó). Trong khi nhiều sắp đặt token hiện hành tập trung vào một hay một vài chức năng, trong đó có thể bao gồm tất cả các chức năng của thị trường tài chính.

Khả năng lập trình nội bộ có thể thay đổi cách thức hoàn tất các chức năng của thị trường tài chính. Việc tự động hóa khả năng chuyển giao dựa trên logic ngẫu nhiên định trước có thể giảm mức độ phụ thuộc vào các trung gian để mở rộng những chức năng mà trước đây lệ thuộc vào quy trình thủ công. Về tổng thể, khả năng lập trình nội bộ có thể mở rộng các quyền chọn hoạt động khả thi để tiến hành các giao dịch tài chính, nếu nó nhất quán với các quy định về quản trị, các hợp đồng có thể áp dụng hay những quy trình ra quyết định khác.

Sắp đặt token có thể phục vụ nhiều bên, tùy thuộc vào các tiêu chí tiếp cận và nếu luật pháp cho phép, những bên đang lệ thuộc vào các trung gian có thể trực tiếp tham gia nhiều hơn so với cách sắp đặt truyền thống. Hiện nay, sổ cái phân tán là công nghệ phổ biến nhất dựa trên các cách sắp đặt token. Sổ cái phân tán đưa ra phương pháp cập nhật sổ cái sắp đặt và hoàn tất những ứng dụng khác nhau để thực hiện chức năng liên lạc với sổ cái phân tán.

Cơ hội và chấp nhận sắp đặt token

Mã token đang thâm nhập vào khu vực tài chính. Các định chế tư nhân và khu vực công đang đầu tư vào những sáng kiến để áp dụng trong thực tế, như phát hành trái phiếu mã hóa, tiền gửi mã hóa và các thỏa thuận mua lại.

Các sắp đặt token kéo theo chi phí đầu tư đáng kể; tuy nhiên, nếu đầu tư thì có thể đạt được các cơ hội về sắp xếp thị trường tài chính quy ước. Hơn nữa, việc mở rộng cơ hội đạt được tùy thuộc vào nhu cầu của người sử dụng các giải pháp hỗ trợ tokenization, môi trường pháp lý và chế độ điều chỉnh của mỗi quốc gia. Do chưa chắc chắn, nên đầu tư của khu vực tư nhân sẽ dựa trên việc đánh giá thu nhập kỳ vọng so với chi phí. Tương tự, đối với các định chế công, đầu tư vào việc mã hóa sẽ dựa trên thu nhập kỳ vọng so với chi phí xã hội. Có thể bao gồm các khía cạnh như cải thiện thanh toán qua biên giới, tăng cường phổ cập tài chính hay những ưu tiên chính sách khác tại mỗi quốc gia.

Các sáng kiến tokenization được các khu vực công và tư nhân đưa ra chủ yếu nhằm mục tiêu xử lý những hạn chế hiện hành (chi phí cao, tốc độ chậm, thiếu minh bạch và khả năng tiếp cận hạn chế…) bằng cách hợp lý hóa các khía cạnh khác nhau của các giao dịch tài chính hoặc toàn bộ quy trình giao dịch đầu cuối. Qua đó, có thể tạo ra các cơ hội nhằm nâng cao hiệu quả và an toàn của các thị trường tài chính theo hướng minh bạch hơn, giảm chi phí thông tin và giao dịch, tốc độ cao và nâng cao quản lý rủi ro.

Cũng như thanh toán truyền thống, các sắp đặt token trong thanh toán cũng có thể phát sinh những rủi ro tương tự, đòi hỏi phải tăng cường quản lý rủi ro. Những rủi ro này bao gồm rủi ro pháp lý, rủi ro thanh toán, rủi ro tín dụng và thanh khoản, rủi ro hoạt động và an ninh…

Gần đây nhất, các NHTW đã liên kết các nỗ lực của các định chế tài chính trong Đề án Agorá (là một dự án hợp tác giữa Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) và các NHTW của các nền kinh tế lớn, được thiết kế dựa trên khái niệm sổ cái thống nhất và Internet tài chính) để xây dựng Đề án sổ cái thống nhất theo đề xuất của BIS. Đề án này phối hợp tiền mã hóa của các ngân hàng thương mại và của NHTW trong thanh toán trên cùng một nền tảng có khả năng lập trình, qua đó có thể củng cố chức năng của hệ thống tiền tệ, cung cấp những giải pháp mới có sử dụng các hợp đồng thông minh và khả năng lập trình, trong khi vẫn duy trì cấu trúc hệ thống hai cấp. Đề án Agorá được xây dựng dựa trên các mô hình ngân hàng hối đoái, hoàn toàn khả thi và hợp pháp tại thời điểm hiện nay. Mô hình đối tác công tư này sẽ tìm cách khắc phục một số hạn chế về công nghệ và pháp lý trong giao dịch thanh toán hiện nay.

Gợi ý một số cân nhắc liên quan đến chính sách tiền tệ

Trong bối cảnh công nghệ thanh toán mới ngày càng phát triển với sự tham gia rộng rãi của khu vực tư nhân, các lựa chọn chính sách của NHTW sẽ ảnh hưởng đến lợi ích và rủi ro của việc sắp đặt token.

Đối với sự phát triển thị trường, các NHTW có nhiệm vụ đảm bảo an toàn, hiệu quả hệ thống thanh toán, bao gồm việc cải thiện hệ thống hiện hành và đánh giá cơ hội đổi mới công nghệ để chuẩn bị cho hệ thống tài chính tương lai. Trong bối cảnh đó, cân nhắc hàng đầu đối với NHTW là cách thức đáp ứng các diễn biến có liên quan đến việc sắp đặt token. Có thể bao gồm sự phối hợp công - tư, kể cả vai trò tiềm tàng về vận hành hệ thống thanh toán và cung cấp tài sản thanh toán, triệu tập các ngân hàng và tổ chức có liên quan để trao đổi ý kiến, cùng phối hợp, tránh phân đoạn; chỉ đạo việc giám sát và thực hiện điều chỉnh với sự tham gia của các cơ quan liên quan ở trong và ngoài nước.

Các NHTW có thể cần đến sự phối hợp của các tokenization, nhất là tại những nơi mà các sáng kiến tư nhân hoạt động tách biệt, chỉ phục vụ các khách hàng của riêng mình, nên không thể nắm bắt được đầy đủ mọi hiệu ứng của mạng lưới hoạt động ở quy mô lớn. Để nắm bắt đầy đủ những lợi ích tiềm tàng này của tokenization, các NHTW đã thăm dò cách thức phối hợp và kết nối với bộ phận khách hàng của hệ thống tài chính. BIS đã phối hợp với 7 NHTW và một số ngân hàng thương mại, thăm dò Đề án Agorá - tokenization thanh toán qua biên giới. Đề án này tiếp nối nghiên cứu trước đó của BIS về sắp xếp DvP và PvP sử dụng tiền mã hóa của NHTW và các tài sản mã hóa. Tham gia dự án này, các NHTW không chỉ đóng vai trò phối hợp, mà còn vận hành các hệ thống thanh toán và cung cấp tài sản thanh toán.

Đối với tài sản thanh toán, trong các hệ thống thanh toán và hạ tầng thị trường tài chính (FMIs), tiền NHTW đóng vai trò chủ chốt, cung cấp tài sản thanh toán an toàn nhất, dễ dàng chuyển đổi và dựa trên khung khổ thể chế rõ ràng, hướng tới các mục tiêu chính sách công. Các hoạt động thanh toán và chuyển giao tiền NHTW giữa các ngân hàng thương mại và những thực thể đủ tư cách khác đang hỗ trợ “tính duy nhất của đồng tiền”. Nhờ đặc tính duy nhất này, việc trao đổi tiền tệ không phụ thuộc vào sự lên - xuống của tỉ giá. Tính duy nhất của đồng tiền cũng được hỗ trợ bởi các khung khổ giám sát và điều chỉnh vững chắc đối với các đơn vị phát hành tiền tư nhân.

Các NHTW hỗ trợ tính duy nhất của đồng tiền bằng cách phát hành tiền dưới dạng tiền gửi tại NHTW để các định chế đủ tư cách sử dụng. Trong bối cảnh token hóa, một cân nhắc quan trọng đó là NHTW có thể cung cấp tiền dưới nhiều hình thức khác nhau để phục vụ thanh toán trên các hệ thống token. Các lựa chọn bao gồm kết nối với các hệ thống thanh toán hiện có; hoặc cung cấp tiền NHTW dưới dạng token trên các nền tảng có khả năng lập trình; hoặc sử dụng tiền mã hóa của NHTW trên các nền tảng đa tài sản.

NHTW nên cân nhắc các chính sách để đối phó với stablecoins, vì những rủi ro tiềm ẩn trong những năm gần đây đã thúc đẩy BIS đưa ra các tiêu chuẩn và chính sách quốc tế về stablecoins. Các cơ quan có thẩm quyền tại các quốc gia cũng đang tiến hành các bước quản lý rủi ro liên quan đến việc phát hành stablecoins và hình thành các khung khổ pháp lý phù hợp với điều kiện của quốc gia mình.

Đối với hoạt động giám sát, mục tiêu của NHTW là đẩy mạnh an toàn và hiệu quả của hệ thống thanh toán. Sự hình thành các token dẫn đến những vấn đề liên quan đến việc theo dõi những sắp đặt token, đánh giá các mục tiêu về an toàn và hiệu quả. So với FMIs truyền thống, các sắp đặt token có những khác biệt rõ rệt, đòi hỏi: (i) NHTW có thể giám sát diễn biến các sắp đặt token để đánh giá về mức độ an toàn và hiệu quả của những sắp đặt này, tác động của nó đến hệ thống thanh toán và mục tiêu, hoạt động của NHTW; (ii) Phối hợp giữa các NHTW và giữa NHTW với những cơ quan khác, do các sắp đặt token đóng vai trò cần thiết trong những bối cảnh nhất định; (iii) Đánh giá xem liệu những sắp đặt này có đáp ứng các yêu cầu chính sách liên quan hay không.

Đối với chính sách tiền tệ, sự xuất hiện các sắp đặt token cũng đặt ra một số vấn đề cho chính sách tiền tệ. Các NHTW phụ thuộc vào các hệ thống thanh toán an toàn và hiệu quả để thực hiện chính sách tiền tệ. Các sắp đặt token có thể ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách tiền tệ thông qua các kênh như: Thực thi chính sách tiền tệ; sử dụng tiền kỹ thuật số của NHTW và thay đổi cấu trúc thị trường. Thứ nhất, các quy định và tiêu chuẩn liên quan đến các sắp đặt token có thể khác biệt so với các hệ thống hiện hành, dẫn đến những thách thức trong việc thực thi chính sách tiền tệ. Thứ hai, việc sử dụng tiền mã hóa có thể thay đổi tổng cung tiền, gây ra sự không chắc chắn trong việc điều tiết nhu cầu về tiền NHTW. Thứ ba, các sắp đặt token có thể dẫn đến những thay đổi về cấu trúc thị trường như việc kết nối các chức năng và tăng cường tương tác giữa các nền tảng, gây ra sự phân đoạn giữa các nền tảng.

Xuân Thanh
Nguồn: BIS

Tin bài khác

Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp cận tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số

Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp cận tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số

Bài viết tập trung làm rõ những rào cản trong tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong bối cảnh chuyển đổi số, đồng thời đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính - ngân hàng theo hướng đồng hành, hỗ trợ hiệu quả hơn cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững.
Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) vừa công bố tài liệu giới thiệu cơ bản về các quỹ thị trường tiền mã hóa (TMMF). Bài viết đánh giá tiềm năng sử dụng, giải thích mô hình hoạt động của các quỹ cơ bản, ghi chép tốc độ và cấu thành thị trường TMMF. Theo đó, bài viết cũng giải thích các nguồn và gợi ý các mối liên kết TMMF với Stablecoins (một loại tiền điện tử được gắn với một giá trị tham chiếu, phổ biến nhất là đồng USD), nhấn mạnh rủi ro hoạt động liên quan đến sai lệch thanh khoản, khả năng kết nối và vận hành.
Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm

Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm

Bài viết tổng hợp và phân tích các nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm rõ tác động của công nghệ Blockchain đối với hiệu quả hoạt động, an ninh và tính minh bạch trong lĩnh vực ngân hàng, đồng thời chỉ ra những thách thức và hàm ý chính sách trong quá trình triển khai công nghệ này.
Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra

Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra

Bài viết khái quát những kết quả nổi bật của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam, qua đó cho thấy nhiều chỉ tiêu đã vượt mục tiêu đề ra, đồng thời phân tích những thách thức đặt ra và định hướng giải pháp thúc đẩy thanh toán số gắn với chuyển đổi số quốc gia trong thời gian tới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng và những dự báo chiến lược cho tương lai

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng và những dự báo chiến lược cho tương lai

Thành công của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong ngành Ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào tiến bộ công nghệ mà còn vào khả năng thiết kế lại các thể chế kinh tế, chuẩn mực xã hội và chính sách công để đảm bảo rằng những lợi ích to lớn từ AI được phân phối công bằng và phục vụ cho phúc lợi chung của xã hội.
Áp dụng mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh công nghệ số

Áp dụng mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh công nghệ số

Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, làm rõ các động lực công nghệ, thể chế, đánh giá kết quả bước đầu, chỉ ra rủi ro tiềm ẩn và đề xuất khuyến nghị chính sách nhằm phát triển tài chính nhúng theo hướng đổi mới sáng tạo có kiểm soát, bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy tài chính toàn diện.
Ứng dụng công nghệ số và kết nối dữ liệu - Gia tăng tiện ích cho khách hàng

Ứng dụng công nghệ số và kết nối dữ liệu - Gia tăng tiện ích cho khách hàng

Nhằm phát triển và cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng theo hướng cá thể hóa, tiện ích, phù hợp với nhu cầu và hành vi của từng nhóm khách hàng; đồng thời phòng ngừa gian lận, bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật thông tin và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng, thời gian tới, ngành Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu hiện có, đặc biệt là kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGvDV).
Nền tảng số cho vay sinh viên: Cơ hội, thách thức và định hướng tương lai

Nền tảng số cho vay sinh viên: Cơ hội, thách thức và định hướng tương lai

Hoạt động của các nền tảng số chịu sự chi phối mạnh mẽ của hiệu ứng mạng lưới. Giá trị của một nền tảng tăng lên khi số lượng người dùng (cả người vay và người cho vay) tăng lên.
Xem thêm
Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Bài viết này phân tích toàn diện những chuyển động lớn của nền kinh tế Việt Nam năm 2025, chỉ ra các kết quả đạt được, những hạn chế mang tính cơ cấu và các rủi ro tiềm ẩn, qua đó gợi mở các định hướng chính sách trọng tâm nhằm nâng cao nội lực, sức chống chịu và chất lượng tăng trưởng trong năm 2026.
Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam

Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam

Bài viết phân tích việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng như một mô hình hệ sinh thái tài chính bậc cao, làm rõ nền tảng pháp lý đột phá, lợi thế chiến lược của Đà Nẵng và những yêu cầu thích ứng đặt ra đối với hệ thống ngân hàng trong nước trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế sâu rộng.
Chính sách tài khóa, tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2025: Những điểm sáng và định hướng năm 2026

Chính sách tài khóa, tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2025: Những điểm sáng và định hướng năm 2026

Bài viết phân tích toàn diện những điểm sáng trong điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ của Việt Nam năm 2025, qua đó làm rõ vai trò phối hợp chính sách vĩ mô trong thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế và đề xuất định hướng trọng tâm cho năm bản lề 2026.
Kinh tế Việt Nam: Những thành tựu giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Kinh tế Việt Nam: Những thành tựu giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bài viết khái quát những thành tựu nổi bật của kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 trong bối cảnh có nhiều biến động toàn cầu, đồng thời phân tích mục tiêu, định hướng và các đột phá chiến lược nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 và hàm ý chính sách cho giai đoạn tới

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 và hàm ý chính sách cho giai đoạn tới

Bài viết đánh giá tổng quan tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 với những kết quả nổi bật về cơ cấu, đầu tư và thương mại, đồng thời chỉ ra các hạn chế về chất lượng tăng trưởng và nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, từ đó đề xuất hàm ý chính sách nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng