Tokenization trong lĩnh vực tài chính

Công nghệ & ngân hàng số
Những năm gần đây, token được sử dụng rộng rãi đối với các giao dịch trực tuyến trong lĩnh vực tài chính -ngân hàng, nhằm đảm bảo an toàn cho tài khoản của khách hàng. Tiến bộ công nghệ đã dẫn đến xu hướng tạo dựng token điện tử trên các nền tảng có khả năng lập trình với mục tiêu cung cấp hạ tầng cơ sở (gọi là sắp đặt token) và mã hóa các token (tokenization) để hỗ trợ các bên tham gia phát hành, chuyển giao tiền tệ và những tài sản khác, bắt đầu được triển khai trên thị trường tài sản ảo và nhanh chóng được nghiên cứu, thử nghiệm rộng rãi.
aa
Tokenisation trong lĩnh vực tài chính
Trong lĩnh vực ngân hàng, token được sử dụng để xác thực các giao dịch trực tuyến, bảo đảm an toàn cho tài khoản của khách hàng (Ảnh minh họa. Nguồn: Internet)

Một số khái niệm về token, tokenization và cơ chế vận hành

Token: Là một đoạn mã hoặc ký hiệu số đại diện cho quyền truy cập hoặc quyền sở hữu trong một hệ thống kỹ thuật số. Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, token được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch trực tuyến. Nó có thể được coi là một mật khẩu bắt buộc nhằm mục đích bảo mật thông tin và tài sản của người dùng.

Với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống thanh toán số và cơ sở hạ tầng tài chính, các mô hình token hiện đại đang cho thấy tiềm năng lớn trong việc nâng cao tính bảo mật, hiệu quả vận hành và khả năng quản trị rủi ro. Tuy nhiên, việc triển khai các giải pháp token cũng đòi hỏi phải kiểm soát chặt chẽ rủi ro và phản ứng nhanh trước các thay đổi về cấu trúc thị trường do công nghệ mang lại.

Tokenization: Là quy trình tạo ra và ghi chép một đại diện số của các tài sản truyền thống trên nền tảng có khả năng lập trình, chuyển hóa thông tin nhạy cảm của khách hàng thành một mã ký tự, được gọi là mã token. Trong hoạt động ngân hàng trực tuyến hay ví điện tử, số tài khoản và những thông tin cần bảo mật khác sẽ được lưu trữ dưới dạng mã token. Với công nghệ này, thông tin của khách hàng được lưu trữ đầy đủ trong hệ thống với mức độ bảo mật cao, góp phần giảm thiểu rủi ro mất cắp thông tin và truy cập bất hợp pháp.

Trong tương lai, tokenization có thể ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán, chính sách tiền tệ và ổn định tài chính của các ngân hàng trung ương (NHTW), khi các sáng kiến tokenization đang diễn ra ở khu vực tư nhân, thì đặt ra bài toán liệu các token có tuân thủ đầy đủ các quy định pháp lý, cũng như các nguyên tắc quốc tế về hạ tầng thị trường tài chính, đồng thời, tác động của các token đến việc thực thi chính sách tiền tệ là như thế nào.

Về cơ chế vận hành, token là yếu tố quyết định khả năng hoạt động và ứng dụng của token trong các hệ sinh thái số. Trong môi trường blockchain, token hoạt động dựa trên công nghệ sổ cái phân tán mà không cần sự can thiệp của bên thứ ba như ngân hàng hay các tổ chức tài chính trung gian. Mỗi khi người dùng thực hiện giao dịch hoặc sử dụng token, thông tin này sẽ được ghi lại và xác nhận trong một sổ cái phân tán, gọi là blockchain. Mỗi giao dịch token sẽ được xác nhận bởi một mạng lưới các nút (nodes) trong hệ thống blockchain, bảo đảm tính minh bạch và không thể thay đổi.

Token được tạo ra và giao dịch thông qua các hợp đồng thông minh, đó là các đoạn mã tự động thực thi điều kiện giao dịch đã được thiết lập trước. Khi những điều kiện này được thỏa mãn, hợp đồng thông minh sẽ tự động chuyển token từ tài khoản này sang tài khoản khác mà không cần sự can thiệp của bất kỳ tổ chức nào. Cách thức token giao dịch có thể được hiểu qua một ví dụ đơn giản, khi người dùng muốn chuyển token từ ví của mình sang ví của người khác, thông tin giao dịch sẽ được gửi đến mạng blockchain. Sau khi giao dịch được xác nhận, token sẽ được chuyển đến ví người nhận, quá trình này được ghi lại trong một khối dữ liệu (block).

Trong lĩnh vực ngân hàng, token được sử dụng để xác thực các giao dịch trực tuyến, đảm bảo an toàn cho tài khoản của khách hàng. Trong lĩnh vực blockchain, token được dùng để truy cập dịch vụ, tham gia vào các dự án, hoặc đại diện cho quyền sở hữu tài sản số. Việc hiểu rõ token là gì và các loại token sẽ giúp người dùng áp dụng hiệu quả trong các hoạt động trực tuyến và đầu tư tài chính.

Token cũng được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch xuyên biên giới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, phương thức thanh toán quốc tế truyền thống có thể tốn thời gian và phí giao dịch cao. Tuy nhiên, với token, người dùng có thể thực hiện giao dịch nhanh chóng và tiết kiệm chi phí mà không cần thông qua các ngân hàng hay các trung gian tài chính khác. Điều này đặc biệt hữu ích cho các doanh nghiệp và cá nhân muốn giao dịch với đối tác quốc tế, giúp tiết kiệm thời gian và giảm thiểu rủi ro liên quan đến tỉ giá hối đoái.

Tokenization trong lĩnh vực tiền tệ và tài sản khác

Về tổng thể, việc sử dụng tokenization được phát triển đầu tiên trên các thị trường tiền ảo; nhiều dự án và thí nghiệm trên thị trường tài chính đã nâng cao tính thích hợp của token đối với các NHTW trong những năm gần đây. Cho tới nay, các sáng kiến đã tập trung vào tiềm năng của tokenization trong việc xử lý những hạn chế hiện hành trên thị trường tài chính, đánh giá những trường hợp sử dụng và chức năng mới, đồng thời, nâng cao hiệu quả tiềm tàng của các hoạt động trên thị trường tài chính. Các dự án có quy mô khác nhau thì có quy trình vận hành riêng. Tuy nhiên, một số dự án có đặc điểm giống nhau là lệ thuộc vào công nghệ sổ cái phân tán làm công nghệ cơ bản để hỗ trợ quy trình bảo mật tokenization.

Do sự phát triển này, khi thảo luận các mối quan hệ tiềm tàng trong tương lai, G20 đã yêu cầu Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) phối hợp với Ủy ban Thanh toán và Hạ tầng thị trường (CPMI) nghiên cứu và đánh giá vai trò của tokenization trong lĩnh vực tiền tệ và những tài sản khác, tác động của nó đến hoạt động của các thị trường tài chính và NHTW cũng như hệ thống tài chính toàn cầu.

Sắp đặt mã số token

Token là chữ ký số/chữ ký điện tử đã được mã hóa và lưu giữ trên thiết bị máy token, thường dùng cho các giao dịch tài chính, đặc biệt là giao dịch trực tuyến. Mã token được xếp vào nhóm mã OTP, là một loại mật khẩu ngẫu nhiên, bắt buộc phải nhập để xác nhận giao dịch nhằm mục đích bảo mật và chỉ sử dụng trong một lần duy nhất.

Tokenization có thể tạo thuận lợi cho việc chuẩn hóa và lập trình tài sản, qua đó có thể mở rộng việc sử dụng các nền tảng cung cấp dịch vụ tài chính trung gian. Báo cáo sử dụng thuật ngữ “sắp đặt token” để mô tả các nền tảng có khả năng lập trình và/hoặc các thực thể tham gia - tạo thuận lợi để thực hiện các chức năng của thị trường tài chính bằng cách sử dụng token điện tử.

Gần đây, các chức năng, nhiệm vụ cần thiết trong chu trình giao dịch tài chính thường được hoàn tất bởi các thực thể riêng rẽ, với cách bố trí hoạt động hay tài sản đặc trưng (gọi là bố trí theo quy ước). Các chức năng và thực thể được định hình bởi khung khổ pháp lý, sự điều chỉnh, tính khả thi của hoạt động, quy ước và có xem xét đến yếu tố thị trường về quản lý và quản trị rủi ro.

Việc cung cấp dịch vụ tài chính của các nền tảng trung gian có thể cho phép so sánh giữa một cấu trúc thị trường khác với các cách bố trí theo quy ước. Các sắp đặt token có thể là đa tài sản, đa chức năng và đa bên, có thể cung cấp các chủng loại tài sản khác nhau dưới dạng token, bao gồm tiền và những tài sản khác, khác với nhiều cách bố trí hiện hành trong đó tiền được nắm giữ trên những sổ cái riêng rẽ. Các ứng dụng hình thành trên cơ sở hạ tầng thông thường cho phép kết nối các chức năng khác nhau trong mã số sắp đặt, nó có thể bao hàm một phần hay toàn bộ vòng đời của giao dịch tài chính (tức là từ phát hành, trao đổi và quy trình sau đó). Trong khi nhiều sắp đặt token hiện hành tập trung vào một hay một vài chức năng, trong đó có thể bao gồm tất cả các chức năng của thị trường tài chính.

Khả năng lập trình nội bộ có thể thay đổi cách thức hoàn tất các chức năng của thị trường tài chính. Việc tự động hóa khả năng chuyển giao dựa trên logic ngẫu nhiên định trước có thể giảm mức độ phụ thuộc vào các trung gian để mở rộng những chức năng mà trước đây lệ thuộc vào quy trình thủ công. Về tổng thể, khả năng lập trình nội bộ có thể mở rộng các quyền chọn hoạt động khả thi để tiến hành các giao dịch tài chính, nếu nó nhất quán với các quy định về quản trị, các hợp đồng có thể áp dụng hay những quy trình ra quyết định khác.

Sắp đặt token có thể phục vụ nhiều bên, tùy thuộc vào các tiêu chí tiếp cận và nếu luật pháp cho phép, những bên đang lệ thuộc vào các trung gian có thể trực tiếp tham gia nhiều hơn so với cách sắp đặt truyền thống. Hiện nay, sổ cái phân tán là công nghệ phổ biến nhất dựa trên các cách sắp đặt token. Sổ cái phân tán đưa ra phương pháp cập nhật sổ cái sắp đặt và hoàn tất những ứng dụng khác nhau để thực hiện chức năng liên lạc với sổ cái phân tán.

Cơ hội và chấp nhận sắp đặt token

Mã token đang thâm nhập vào khu vực tài chính. Các định chế tư nhân và khu vực công đang đầu tư vào những sáng kiến để áp dụng trong thực tế, như phát hành trái phiếu mã hóa, tiền gửi mã hóa và các thỏa thuận mua lại.

Các sắp đặt token kéo theo chi phí đầu tư đáng kể; tuy nhiên, nếu đầu tư thì có thể đạt được các cơ hội về sắp xếp thị trường tài chính quy ước. Hơn nữa, việc mở rộng cơ hội đạt được tùy thuộc vào nhu cầu của người sử dụng các giải pháp hỗ trợ tokenization, môi trường pháp lý và chế độ điều chỉnh của mỗi quốc gia. Do chưa chắc chắn, nên đầu tư của khu vực tư nhân sẽ dựa trên việc đánh giá thu nhập kỳ vọng so với chi phí. Tương tự, đối với các định chế công, đầu tư vào việc mã hóa sẽ dựa trên thu nhập kỳ vọng so với chi phí xã hội. Có thể bao gồm các khía cạnh như cải thiện thanh toán qua biên giới, tăng cường phổ cập tài chính hay những ưu tiên chính sách khác tại mỗi quốc gia.

Các sáng kiến tokenization được các khu vực công và tư nhân đưa ra chủ yếu nhằm mục tiêu xử lý những hạn chế hiện hành (chi phí cao, tốc độ chậm, thiếu minh bạch và khả năng tiếp cận hạn chế…) bằng cách hợp lý hóa các khía cạnh khác nhau của các giao dịch tài chính hoặc toàn bộ quy trình giao dịch đầu cuối. Qua đó, có thể tạo ra các cơ hội nhằm nâng cao hiệu quả và an toàn của các thị trường tài chính theo hướng minh bạch hơn, giảm chi phí thông tin và giao dịch, tốc độ cao và nâng cao quản lý rủi ro.

Cũng như thanh toán truyền thống, các sắp đặt token trong thanh toán cũng có thể phát sinh những rủi ro tương tự, đòi hỏi phải tăng cường quản lý rủi ro. Những rủi ro này bao gồm rủi ro pháp lý, rủi ro thanh toán, rủi ro tín dụng và thanh khoản, rủi ro hoạt động và an ninh…

Gần đây nhất, các NHTW đã liên kết các nỗ lực của các định chế tài chính trong Đề án Agorá (là một dự án hợp tác giữa Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) và các NHTW của các nền kinh tế lớn, được thiết kế dựa trên khái niệm sổ cái thống nhất và Internet tài chính) để xây dựng Đề án sổ cái thống nhất theo đề xuất của BIS. Đề án này phối hợp tiền mã hóa của các ngân hàng thương mại và của NHTW trong thanh toán trên cùng một nền tảng có khả năng lập trình, qua đó có thể củng cố chức năng của hệ thống tiền tệ, cung cấp những giải pháp mới có sử dụng các hợp đồng thông minh và khả năng lập trình, trong khi vẫn duy trì cấu trúc hệ thống hai cấp. Đề án Agorá được xây dựng dựa trên các mô hình ngân hàng hối đoái, hoàn toàn khả thi và hợp pháp tại thời điểm hiện nay. Mô hình đối tác công tư này sẽ tìm cách khắc phục một số hạn chế về công nghệ và pháp lý trong giao dịch thanh toán hiện nay.

Gợi ý một số cân nhắc liên quan đến chính sách tiền tệ

Trong bối cảnh công nghệ thanh toán mới ngày càng phát triển với sự tham gia rộng rãi của khu vực tư nhân, các lựa chọn chính sách của NHTW sẽ ảnh hưởng đến lợi ích và rủi ro của việc sắp đặt token.

Đối với sự phát triển thị trường, các NHTW có nhiệm vụ đảm bảo an toàn, hiệu quả hệ thống thanh toán, bao gồm việc cải thiện hệ thống hiện hành và đánh giá cơ hội đổi mới công nghệ để chuẩn bị cho hệ thống tài chính tương lai. Trong bối cảnh đó, cân nhắc hàng đầu đối với NHTW là cách thức đáp ứng các diễn biến có liên quan đến việc sắp đặt token. Có thể bao gồm sự phối hợp công - tư, kể cả vai trò tiềm tàng về vận hành hệ thống thanh toán và cung cấp tài sản thanh toán, triệu tập các ngân hàng và tổ chức có liên quan để trao đổi ý kiến, cùng phối hợp, tránh phân đoạn; chỉ đạo việc giám sát và thực hiện điều chỉnh với sự tham gia của các cơ quan liên quan ở trong và ngoài nước.

Các NHTW có thể cần đến sự phối hợp của các tokenization, nhất là tại những nơi mà các sáng kiến tư nhân hoạt động tách biệt, chỉ phục vụ các khách hàng của riêng mình, nên không thể nắm bắt được đầy đủ mọi hiệu ứng của mạng lưới hoạt động ở quy mô lớn. Để nắm bắt đầy đủ những lợi ích tiềm tàng này của tokenization, các NHTW đã thăm dò cách thức phối hợp và kết nối với bộ phận khách hàng của hệ thống tài chính. BIS đã phối hợp với 7 NHTW và một số ngân hàng thương mại, thăm dò Đề án Agorá - tokenization thanh toán qua biên giới. Đề án này tiếp nối nghiên cứu trước đó của BIS về sắp xếp DvP và PvP sử dụng tiền mã hóa của NHTW và các tài sản mã hóa. Tham gia dự án này, các NHTW không chỉ đóng vai trò phối hợp, mà còn vận hành các hệ thống thanh toán và cung cấp tài sản thanh toán.

Đối với tài sản thanh toán, trong các hệ thống thanh toán và hạ tầng thị trường tài chính (FMIs), tiền NHTW đóng vai trò chủ chốt, cung cấp tài sản thanh toán an toàn nhất, dễ dàng chuyển đổi và dựa trên khung khổ thể chế rõ ràng, hướng tới các mục tiêu chính sách công. Các hoạt động thanh toán và chuyển giao tiền NHTW giữa các ngân hàng thương mại và những thực thể đủ tư cách khác đang hỗ trợ “tính duy nhất của đồng tiền”. Nhờ đặc tính duy nhất này, việc trao đổi tiền tệ không phụ thuộc vào sự lên - xuống của tỉ giá. Tính duy nhất của đồng tiền cũng được hỗ trợ bởi các khung khổ giám sát và điều chỉnh vững chắc đối với các đơn vị phát hành tiền tư nhân.

Các NHTW hỗ trợ tính duy nhất của đồng tiền bằng cách phát hành tiền dưới dạng tiền gửi tại NHTW để các định chế đủ tư cách sử dụng. Trong bối cảnh token hóa, một cân nhắc quan trọng đó là NHTW có thể cung cấp tiền dưới nhiều hình thức khác nhau để phục vụ thanh toán trên các hệ thống token. Các lựa chọn bao gồm kết nối với các hệ thống thanh toán hiện có; hoặc cung cấp tiền NHTW dưới dạng token trên các nền tảng có khả năng lập trình; hoặc sử dụng tiền mã hóa của NHTW trên các nền tảng đa tài sản.

NHTW nên cân nhắc các chính sách để đối phó với stablecoins, vì những rủi ro tiềm ẩn trong những năm gần đây đã thúc đẩy BIS đưa ra các tiêu chuẩn và chính sách quốc tế về stablecoins. Các cơ quan có thẩm quyền tại các quốc gia cũng đang tiến hành các bước quản lý rủi ro liên quan đến việc phát hành stablecoins và hình thành các khung khổ pháp lý phù hợp với điều kiện của quốc gia mình.

Đối với hoạt động giám sát, mục tiêu của NHTW là đẩy mạnh an toàn và hiệu quả của hệ thống thanh toán. Sự hình thành các token dẫn đến những vấn đề liên quan đến việc theo dõi những sắp đặt token, đánh giá các mục tiêu về an toàn và hiệu quả. So với FMIs truyền thống, các sắp đặt token có những khác biệt rõ rệt, đòi hỏi: (i) NHTW có thể giám sát diễn biến các sắp đặt token để đánh giá về mức độ an toàn và hiệu quả của những sắp đặt này, tác động của nó đến hệ thống thanh toán và mục tiêu, hoạt động của NHTW; (ii) Phối hợp giữa các NHTW và giữa NHTW với những cơ quan khác, do các sắp đặt token đóng vai trò cần thiết trong những bối cảnh nhất định; (iii) Đánh giá xem liệu những sắp đặt này có đáp ứng các yêu cầu chính sách liên quan hay không.

Đối với chính sách tiền tệ, sự xuất hiện các sắp đặt token cũng đặt ra một số vấn đề cho chính sách tiền tệ. Các NHTW phụ thuộc vào các hệ thống thanh toán an toàn và hiệu quả để thực hiện chính sách tiền tệ. Các sắp đặt token có thể ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách tiền tệ thông qua các kênh như: Thực thi chính sách tiền tệ; sử dụng tiền kỹ thuật số của NHTW và thay đổi cấu trúc thị trường. Thứ nhất, các quy định và tiêu chuẩn liên quan đến các sắp đặt token có thể khác biệt so với các hệ thống hiện hành, dẫn đến những thách thức trong việc thực thi chính sách tiền tệ. Thứ hai, việc sử dụng tiền mã hóa có thể thay đổi tổng cung tiền, gây ra sự không chắc chắn trong việc điều tiết nhu cầu về tiền NHTW. Thứ ba, các sắp đặt token có thể dẫn đến những thay đổi về cấu trúc thị trường như việc kết nối các chức năng và tăng cường tương tác giữa các nền tảng, gây ra sự phân đoạn giữa các nền tảng.

Xuân Thanh
Nguồn: BIS

Tin bài khác

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Vai trò kiến tạo của hạ tầng thanh toán xuyên biên giới

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Vai trò kiến tạo của hạ tầng thanh toán xuyên biên giới

Bài viết nghiên cứu vai trò then chốt của hệ thống thanh toán xuyên biên giới trong lộ trình hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính, tổng hợp và phân tích dữ liệu thứ cấp kết hợp so sánh điển cứu quốc tế, nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù thị trường công nghệ tài chính (Fintech) Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, hạ tầng thanh toán vẫn còn khoảng cách về chuẩn hóa kỹ thuật (ISO 20022) và năng lực bán buôn so với chuẩn IFC toàn cầu. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc nâng cấp hạ tầng mềm và hoàn thiện khung pháp lý thử nghiệm (Sandbox) là điều kiện tiên quyết để thu hút dòng vốn quốc tế. Từ đó, bài viết đề xuất các hàm ý chính sách trọng tâm về khung pháp lý, chuẩn hóa dữ liệu, thí điểm công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và gia nhập các mạng lưới thanh toán đa phương nhằm tối ưu hóa năng lực cạnh tranh cho IFC tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại

Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại

Trong bối cảnh chuyển đổi số, bài viết đề xuất mô hình kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa nhằm tối ưu phễu chuyển đổi khách hàng (mô hình mô phỏng hành trình của một khách hàng từ lúc lần đầu biết đến thương hiệu cho đến khi thực hiện hành động mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ) tại ngân hàng thương mại, qua đó giảm chi phí thu hút, rút ngắn thời gian ra quyết định tín dụng và cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng.
Xây dựng năng lực tự bảo vệ trước rủi ro tâm lý và công nghệ cho thế hệ Z trong bối cảnh thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Xây dựng năng lực tự bảo vệ trước rủi ro tâm lý và công nghệ cho thế hệ Z trong bối cảnh thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam đang được triển khai thí điểm, thế hệ Z với lợi thế về khả năng tiếp cận công nghệ lại đứng trước nhiều rủi ro đan xen, đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực tài chính số và xây dựng cơ chế bảo vệ khi tham gia thị trường.
Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong thúc đẩy kinh tế xanh và thực hiện chiến lược Net-Zero, qua đó, đề xuất bài học và giải pháp giúp doanh nghiệp Việt Nam kết hợp chuyển đổi số với chuyển đổi xanh, hướng đến phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Hệ khuyến nghị học liên kết: Xu hướng phát triển trong kỷ nguyên dữ liệu phân tán

Hệ khuyến nghị học liên kết: Xu hướng phát triển trong kỷ nguyên dữ liệu phân tán

Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng phân tán và yêu cầu nghiêm ngặt về bảo vệ quyền riêng tư, hệ khuyến nghị học liên kết (Federated Recommender Systems - FRS) nổi lên như một hướng tiếp cận tiềm năng, cho phép khai thác dữ liệu từ nhiều nguồn mà không cần chia sẻ dữ liệu gốc, qua đó mở rộng khả năng ứng dụng trong ngân hàng, thương mại điện tử, y tế và giáo dục.
Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngày 18 - 19/8/2026, sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo (AI)” đã chính thức diễn ra tại Hà Nội.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong tăng cường bảo mật dữ liệu và quản trị rủi ro an ninh mạng đối với chuỗi cung ứng tài chính (Financial Supply Chain - FSC) trong ngành Ngân hàng, qua đó làm rõ những lợi ích, thách thức và hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng AI trong bối cảnh chuyển đổi số.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Đọc nhiều