Tokenization trong lĩnh vực tài chính

Công nghệ & ngân hàng số
Những năm gần đây, token được sử dụng rộng rãi đối với các giao dịch trực tuyến trong lĩnh vực tài chính -ngân hàng, nhằm đảm bảo an toàn cho tài khoản của khách hàng. Tiến bộ công nghệ đã dẫn đến xu hướng tạo dựng token điện tử trên các nền tảng có khả năng lập trình với mục tiêu cung cấp hạ tầng cơ sở (gọi là sắp đặt token) và mã hóa các token (tokenization) để hỗ trợ các bên tham gia phát hành, chuyển giao tiền tệ và những tài sản khác, bắt đầu được triển khai trên thị trường tài sản ảo và nhanh chóng được nghiên cứu, thử nghiệm rộng rãi.
aa
Tokenisation trong lĩnh vực tài chính
Trong lĩnh vực ngân hàng, token được sử dụng để xác thực các giao dịch trực tuyến, bảo đảm an toàn cho tài khoản của khách hàng (Ảnh minh họa. Nguồn: Internet)

Một số khái niệm về token, tokenization và cơ chế vận hành

Token: Là một đoạn mã hoặc ký hiệu số đại diện cho quyền truy cập hoặc quyền sở hữu trong một hệ thống kỹ thuật số. Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, token được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch trực tuyến. Nó có thể được coi là một mật khẩu bắt buộc nhằm mục đích bảo mật thông tin và tài sản của người dùng.

Với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống thanh toán số và cơ sở hạ tầng tài chính, các mô hình token hiện đại đang cho thấy tiềm năng lớn trong việc nâng cao tính bảo mật, hiệu quả vận hành và khả năng quản trị rủi ro. Tuy nhiên, việc triển khai các giải pháp token cũng đòi hỏi phải kiểm soát chặt chẽ rủi ro và phản ứng nhanh trước các thay đổi về cấu trúc thị trường do công nghệ mang lại.

Tokenization: Là quy trình tạo ra và ghi chép một đại diện số của các tài sản truyền thống trên nền tảng có khả năng lập trình, chuyển hóa thông tin nhạy cảm của khách hàng thành một mã ký tự, được gọi là mã token. Trong hoạt động ngân hàng trực tuyến hay ví điện tử, số tài khoản và những thông tin cần bảo mật khác sẽ được lưu trữ dưới dạng mã token. Với công nghệ này, thông tin của khách hàng được lưu trữ đầy đủ trong hệ thống với mức độ bảo mật cao, góp phần giảm thiểu rủi ro mất cắp thông tin và truy cập bất hợp pháp.

Trong tương lai, tokenization có thể ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán, chính sách tiền tệ và ổn định tài chính của các ngân hàng trung ương (NHTW), khi các sáng kiến tokenization đang diễn ra ở khu vực tư nhân, thì đặt ra bài toán liệu các token có tuân thủ đầy đủ các quy định pháp lý, cũng như các nguyên tắc quốc tế về hạ tầng thị trường tài chính, đồng thời, tác động của các token đến việc thực thi chính sách tiền tệ là như thế nào.

Về cơ chế vận hành, token là yếu tố quyết định khả năng hoạt động và ứng dụng của token trong các hệ sinh thái số. Trong môi trường blockchain, token hoạt động dựa trên công nghệ sổ cái phân tán mà không cần sự can thiệp của bên thứ ba như ngân hàng hay các tổ chức tài chính trung gian. Mỗi khi người dùng thực hiện giao dịch hoặc sử dụng token, thông tin này sẽ được ghi lại và xác nhận trong một sổ cái phân tán, gọi là blockchain. Mỗi giao dịch token sẽ được xác nhận bởi một mạng lưới các nút (nodes) trong hệ thống blockchain, bảo đảm tính minh bạch và không thể thay đổi.

Token được tạo ra và giao dịch thông qua các hợp đồng thông minh, đó là các đoạn mã tự động thực thi điều kiện giao dịch đã được thiết lập trước. Khi những điều kiện này được thỏa mãn, hợp đồng thông minh sẽ tự động chuyển token từ tài khoản này sang tài khoản khác mà không cần sự can thiệp của bất kỳ tổ chức nào. Cách thức token giao dịch có thể được hiểu qua một ví dụ đơn giản, khi người dùng muốn chuyển token từ ví của mình sang ví của người khác, thông tin giao dịch sẽ được gửi đến mạng blockchain. Sau khi giao dịch được xác nhận, token sẽ được chuyển đến ví người nhận, quá trình này được ghi lại trong một khối dữ liệu (block).

Trong lĩnh vực ngân hàng, token được sử dụng để xác thực các giao dịch trực tuyến, đảm bảo an toàn cho tài khoản của khách hàng. Trong lĩnh vực blockchain, token được dùng để truy cập dịch vụ, tham gia vào các dự án, hoặc đại diện cho quyền sở hữu tài sản số. Việc hiểu rõ token là gì và các loại token sẽ giúp người dùng áp dụng hiệu quả trong các hoạt động trực tuyến và đầu tư tài chính.

Token cũng được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch xuyên biên giới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, phương thức thanh toán quốc tế truyền thống có thể tốn thời gian và phí giao dịch cao. Tuy nhiên, với token, người dùng có thể thực hiện giao dịch nhanh chóng và tiết kiệm chi phí mà không cần thông qua các ngân hàng hay các trung gian tài chính khác. Điều này đặc biệt hữu ích cho các doanh nghiệp và cá nhân muốn giao dịch với đối tác quốc tế, giúp tiết kiệm thời gian và giảm thiểu rủi ro liên quan đến tỉ giá hối đoái.

Tokenization trong lĩnh vực tiền tệ và tài sản khác

Về tổng thể, việc sử dụng tokenization được phát triển đầu tiên trên các thị trường tiền ảo; nhiều dự án và thí nghiệm trên thị trường tài chính đã nâng cao tính thích hợp của token đối với các NHTW trong những năm gần đây. Cho tới nay, các sáng kiến đã tập trung vào tiềm năng của tokenization trong việc xử lý những hạn chế hiện hành trên thị trường tài chính, đánh giá những trường hợp sử dụng và chức năng mới, đồng thời, nâng cao hiệu quả tiềm tàng của các hoạt động trên thị trường tài chính. Các dự án có quy mô khác nhau thì có quy trình vận hành riêng. Tuy nhiên, một số dự án có đặc điểm giống nhau là lệ thuộc vào công nghệ sổ cái phân tán làm công nghệ cơ bản để hỗ trợ quy trình bảo mật tokenization.

Do sự phát triển này, khi thảo luận các mối quan hệ tiềm tàng trong tương lai, G20 đã yêu cầu Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) phối hợp với Ủy ban Thanh toán và Hạ tầng thị trường (CPMI) nghiên cứu và đánh giá vai trò của tokenization trong lĩnh vực tiền tệ và những tài sản khác, tác động của nó đến hoạt động của các thị trường tài chính và NHTW cũng như hệ thống tài chính toàn cầu.

Sắp đặt mã số token

Token là chữ ký số/chữ ký điện tử đã được mã hóa và lưu giữ trên thiết bị máy token, thường dùng cho các giao dịch tài chính, đặc biệt là giao dịch trực tuyến. Mã token được xếp vào nhóm mã OTP, là một loại mật khẩu ngẫu nhiên, bắt buộc phải nhập để xác nhận giao dịch nhằm mục đích bảo mật và chỉ sử dụng trong một lần duy nhất.

Tokenization có thể tạo thuận lợi cho việc chuẩn hóa và lập trình tài sản, qua đó có thể mở rộng việc sử dụng các nền tảng cung cấp dịch vụ tài chính trung gian. Báo cáo sử dụng thuật ngữ “sắp đặt token” để mô tả các nền tảng có khả năng lập trình và/hoặc các thực thể tham gia - tạo thuận lợi để thực hiện các chức năng của thị trường tài chính bằng cách sử dụng token điện tử.

Gần đây, các chức năng, nhiệm vụ cần thiết trong chu trình giao dịch tài chính thường được hoàn tất bởi các thực thể riêng rẽ, với cách bố trí hoạt động hay tài sản đặc trưng (gọi là bố trí theo quy ước). Các chức năng và thực thể được định hình bởi khung khổ pháp lý, sự điều chỉnh, tính khả thi của hoạt động, quy ước và có xem xét đến yếu tố thị trường về quản lý và quản trị rủi ro.

Việc cung cấp dịch vụ tài chính của các nền tảng trung gian có thể cho phép so sánh giữa một cấu trúc thị trường khác với các cách bố trí theo quy ước. Các sắp đặt token có thể là đa tài sản, đa chức năng và đa bên, có thể cung cấp các chủng loại tài sản khác nhau dưới dạng token, bao gồm tiền và những tài sản khác, khác với nhiều cách bố trí hiện hành trong đó tiền được nắm giữ trên những sổ cái riêng rẽ. Các ứng dụng hình thành trên cơ sở hạ tầng thông thường cho phép kết nối các chức năng khác nhau trong mã số sắp đặt, nó có thể bao hàm một phần hay toàn bộ vòng đời của giao dịch tài chính (tức là từ phát hành, trao đổi và quy trình sau đó). Trong khi nhiều sắp đặt token hiện hành tập trung vào một hay một vài chức năng, trong đó có thể bao gồm tất cả các chức năng của thị trường tài chính.

Khả năng lập trình nội bộ có thể thay đổi cách thức hoàn tất các chức năng của thị trường tài chính. Việc tự động hóa khả năng chuyển giao dựa trên logic ngẫu nhiên định trước có thể giảm mức độ phụ thuộc vào các trung gian để mở rộng những chức năng mà trước đây lệ thuộc vào quy trình thủ công. Về tổng thể, khả năng lập trình nội bộ có thể mở rộng các quyền chọn hoạt động khả thi để tiến hành các giao dịch tài chính, nếu nó nhất quán với các quy định về quản trị, các hợp đồng có thể áp dụng hay những quy trình ra quyết định khác.

Sắp đặt token có thể phục vụ nhiều bên, tùy thuộc vào các tiêu chí tiếp cận và nếu luật pháp cho phép, những bên đang lệ thuộc vào các trung gian có thể trực tiếp tham gia nhiều hơn so với cách sắp đặt truyền thống. Hiện nay, sổ cái phân tán là công nghệ phổ biến nhất dựa trên các cách sắp đặt token. Sổ cái phân tán đưa ra phương pháp cập nhật sổ cái sắp đặt và hoàn tất những ứng dụng khác nhau để thực hiện chức năng liên lạc với sổ cái phân tán.

Cơ hội và chấp nhận sắp đặt token

Mã token đang thâm nhập vào khu vực tài chính. Các định chế tư nhân và khu vực công đang đầu tư vào những sáng kiến để áp dụng trong thực tế, như phát hành trái phiếu mã hóa, tiền gửi mã hóa và các thỏa thuận mua lại.

Các sắp đặt token kéo theo chi phí đầu tư đáng kể; tuy nhiên, nếu đầu tư thì có thể đạt được các cơ hội về sắp xếp thị trường tài chính quy ước. Hơn nữa, việc mở rộng cơ hội đạt được tùy thuộc vào nhu cầu của người sử dụng các giải pháp hỗ trợ tokenization, môi trường pháp lý và chế độ điều chỉnh của mỗi quốc gia. Do chưa chắc chắn, nên đầu tư của khu vực tư nhân sẽ dựa trên việc đánh giá thu nhập kỳ vọng so với chi phí. Tương tự, đối với các định chế công, đầu tư vào việc mã hóa sẽ dựa trên thu nhập kỳ vọng so với chi phí xã hội. Có thể bao gồm các khía cạnh như cải thiện thanh toán qua biên giới, tăng cường phổ cập tài chính hay những ưu tiên chính sách khác tại mỗi quốc gia.

Các sáng kiến tokenization được các khu vực công và tư nhân đưa ra chủ yếu nhằm mục tiêu xử lý những hạn chế hiện hành (chi phí cao, tốc độ chậm, thiếu minh bạch và khả năng tiếp cận hạn chế…) bằng cách hợp lý hóa các khía cạnh khác nhau của các giao dịch tài chính hoặc toàn bộ quy trình giao dịch đầu cuối. Qua đó, có thể tạo ra các cơ hội nhằm nâng cao hiệu quả và an toàn của các thị trường tài chính theo hướng minh bạch hơn, giảm chi phí thông tin và giao dịch, tốc độ cao và nâng cao quản lý rủi ro.

Cũng như thanh toán truyền thống, các sắp đặt token trong thanh toán cũng có thể phát sinh những rủi ro tương tự, đòi hỏi phải tăng cường quản lý rủi ro. Những rủi ro này bao gồm rủi ro pháp lý, rủi ro thanh toán, rủi ro tín dụng và thanh khoản, rủi ro hoạt động và an ninh…

Gần đây nhất, các NHTW đã liên kết các nỗ lực của các định chế tài chính trong Đề án Agorá (là một dự án hợp tác giữa Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) và các NHTW của các nền kinh tế lớn, được thiết kế dựa trên khái niệm sổ cái thống nhất và Internet tài chính) để xây dựng Đề án sổ cái thống nhất theo đề xuất của BIS. Đề án này phối hợp tiền mã hóa của các ngân hàng thương mại và của NHTW trong thanh toán trên cùng một nền tảng có khả năng lập trình, qua đó có thể củng cố chức năng của hệ thống tiền tệ, cung cấp những giải pháp mới có sử dụng các hợp đồng thông minh và khả năng lập trình, trong khi vẫn duy trì cấu trúc hệ thống hai cấp. Đề án Agorá được xây dựng dựa trên các mô hình ngân hàng hối đoái, hoàn toàn khả thi và hợp pháp tại thời điểm hiện nay. Mô hình đối tác công tư này sẽ tìm cách khắc phục một số hạn chế về công nghệ và pháp lý trong giao dịch thanh toán hiện nay.

Gợi ý một số cân nhắc liên quan đến chính sách tiền tệ

Trong bối cảnh công nghệ thanh toán mới ngày càng phát triển với sự tham gia rộng rãi của khu vực tư nhân, các lựa chọn chính sách của NHTW sẽ ảnh hưởng đến lợi ích và rủi ro của việc sắp đặt token.

Đối với sự phát triển thị trường, các NHTW có nhiệm vụ đảm bảo an toàn, hiệu quả hệ thống thanh toán, bao gồm việc cải thiện hệ thống hiện hành và đánh giá cơ hội đổi mới công nghệ để chuẩn bị cho hệ thống tài chính tương lai. Trong bối cảnh đó, cân nhắc hàng đầu đối với NHTW là cách thức đáp ứng các diễn biến có liên quan đến việc sắp đặt token. Có thể bao gồm sự phối hợp công - tư, kể cả vai trò tiềm tàng về vận hành hệ thống thanh toán và cung cấp tài sản thanh toán, triệu tập các ngân hàng và tổ chức có liên quan để trao đổi ý kiến, cùng phối hợp, tránh phân đoạn; chỉ đạo việc giám sát và thực hiện điều chỉnh với sự tham gia của các cơ quan liên quan ở trong và ngoài nước.

Các NHTW có thể cần đến sự phối hợp của các tokenization, nhất là tại những nơi mà các sáng kiến tư nhân hoạt động tách biệt, chỉ phục vụ các khách hàng của riêng mình, nên không thể nắm bắt được đầy đủ mọi hiệu ứng của mạng lưới hoạt động ở quy mô lớn. Để nắm bắt đầy đủ những lợi ích tiềm tàng này của tokenization, các NHTW đã thăm dò cách thức phối hợp và kết nối với bộ phận khách hàng của hệ thống tài chính. BIS đã phối hợp với 7 NHTW và một số ngân hàng thương mại, thăm dò Đề án Agorá - tokenization thanh toán qua biên giới. Đề án này tiếp nối nghiên cứu trước đó của BIS về sắp xếp DvP và PvP sử dụng tiền mã hóa của NHTW và các tài sản mã hóa. Tham gia dự án này, các NHTW không chỉ đóng vai trò phối hợp, mà còn vận hành các hệ thống thanh toán và cung cấp tài sản thanh toán.

Đối với tài sản thanh toán, trong các hệ thống thanh toán và hạ tầng thị trường tài chính (FMIs), tiền NHTW đóng vai trò chủ chốt, cung cấp tài sản thanh toán an toàn nhất, dễ dàng chuyển đổi và dựa trên khung khổ thể chế rõ ràng, hướng tới các mục tiêu chính sách công. Các hoạt động thanh toán và chuyển giao tiền NHTW giữa các ngân hàng thương mại và những thực thể đủ tư cách khác đang hỗ trợ “tính duy nhất của đồng tiền”. Nhờ đặc tính duy nhất này, việc trao đổi tiền tệ không phụ thuộc vào sự lên - xuống của tỉ giá. Tính duy nhất của đồng tiền cũng được hỗ trợ bởi các khung khổ giám sát và điều chỉnh vững chắc đối với các đơn vị phát hành tiền tư nhân.

Các NHTW hỗ trợ tính duy nhất của đồng tiền bằng cách phát hành tiền dưới dạng tiền gửi tại NHTW để các định chế đủ tư cách sử dụng. Trong bối cảnh token hóa, một cân nhắc quan trọng đó là NHTW có thể cung cấp tiền dưới nhiều hình thức khác nhau để phục vụ thanh toán trên các hệ thống token. Các lựa chọn bao gồm kết nối với các hệ thống thanh toán hiện có; hoặc cung cấp tiền NHTW dưới dạng token trên các nền tảng có khả năng lập trình; hoặc sử dụng tiền mã hóa của NHTW trên các nền tảng đa tài sản.

NHTW nên cân nhắc các chính sách để đối phó với stablecoins, vì những rủi ro tiềm ẩn trong những năm gần đây đã thúc đẩy BIS đưa ra các tiêu chuẩn và chính sách quốc tế về stablecoins. Các cơ quan có thẩm quyền tại các quốc gia cũng đang tiến hành các bước quản lý rủi ro liên quan đến việc phát hành stablecoins và hình thành các khung khổ pháp lý phù hợp với điều kiện của quốc gia mình.

Đối với hoạt động giám sát, mục tiêu của NHTW là đẩy mạnh an toàn và hiệu quả của hệ thống thanh toán. Sự hình thành các token dẫn đến những vấn đề liên quan đến việc theo dõi những sắp đặt token, đánh giá các mục tiêu về an toàn và hiệu quả. So với FMIs truyền thống, các sắp đặt token có những khác biệt rõ rệt, đòi hỏi: (i) NHTW có thể giám sát diễn biến các sắp đặt token để đánh giá về mức độ an toàn và hiệu quả của những sắp đặt này, tác động của nó đến hệ thống thanh toán và mục tiêu, hoạt động của NHTW; (ii) Phối hợp giữa các NHTW và giữa NHTW với những cơ quan khác, do các sắp đặt token đóng vai trò cần thiết trong những bối cảnh nhất định; (iii) Đánh giá xem liệu những sắp đặt này có đáp ứng các yêu cầu chính sách liên quan hay không.

Đối với chính sách tiền tệ, sự xuất hiện các sắp đặt token cũng đặt ra một số vấn đề cho chính sách tiền tệ. Các NHTW phụ thuộc vào các hệ thống thanh toán an toàn và hiệu quả để thực hiện chính sách tiền tệ. Các sắp đặt token có thể ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách tiền tệ thông qua các kênh như: Thực thi chính sách tiền tệ; sử dụng tiền kỹ thuật số của NHTW và thay đổi cấu trúc thị trường. Thứ nhất, các quy định và tiêu chuẩn liên quan đến các sắp đặt token có thể khác biệt so với các hệ thống hiện hành, dẫn đến những thách thức trong việc thực thi chính sách tiền tệ. Thứ hai, việc sử dụng tiền mã hóa có thể thay đổi tổng cung tiền, gây ra sự không chắc chắn trong việc điều tiết nhu cầu về tiền NHTW. Thứ ba, các sắp đặt token có thể dẫn đến những thay đổi về cấu trúc thị trường như việc kết nối các chức năng và tăng cường tương tác giữa các nền tảng, gây ra sự phân đoạn giữa các nền tảng.

Xuân Thanh
Nguồn: BIS

Tin bài khác

Chuyển đổi số ngân hàng: Tiếp tục ưu tiên phát triển hạ tầng số, kết nối liên thông dữ liệu

Chuyển đổi số ngân hàng: Tiếp tục ưu tiên phát triển hạ tầng số, kết nối liên thông dữ liệu

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên số, ngành Ngân hàng đã khẳng định vị thế tiên phong thông qua việc hiện thực hóa các chủ trương của Đảng và Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo ra những nền tảng vững chắc về dữ liệu và công nghệ, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế số và xã hội số của đất nước. Thời gian tới, bên cạnh hoàn thiện hành lang pháp lý, hạ tầng công nghệ, ngành Ngân hàng tiếp tục đầu tư vào phát triển hạ tầng số, kết nối liên thông dữ liệu nhằm đảm bảo an ninh, an toàn và bảo mật hoạt động thanh toán, ngân hàng; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Ứng dụng phân tích dữ liệu và học máy nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ chống rửa tiền trong ngân hàng

Ứng dụng phân tích dữ liệu và học máy nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ chống rửa tiền trong ngân hàng

Bài viết phân tích vai trò của phân tích dữ liệu và học máy trong nâng cao hiệu quả tuân thủ chống rửa tiền tại ngân hàng, qua đó giúp cải thiện độ chính xác phát hiện giao dịch đáng ngờ, giảm cảnh báo giả và hỗ trợ chuyển đổi từ cách tiếp cận phản ứng sang chủ động theo các chuẩn mực quốc tế.
Thành công trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 - Nền tảng cho phát triển an toàn, bền vững hệ thống tài chính

Thành công trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 - Nền tảng cho phát triển an toàn, bền vững hệ thống tài chính

Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu và là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với ngành Ngân hàng, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu nội tại nhằm hiện đại hóa hoạt động quản lý, điều hành và kinh doanh, mà còn giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy kinh tế số, tài chính toàn diện và cải cách hành chính.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp cận tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số

Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp cận tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số

Bài viết tập trung làm rõ những rào cản trong tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong bối cảnh chuyển đổi số, đồng thời đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính - ngân hàng theo hướng đồng hành, hỗ trợ hiệu quả hơn cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững.
Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) vừa công bố tài liệu giới thiệu cơ bản về các quỹ thị trường tiền mã hóa (TMMF). Bài viết đánh giá tiềm năng sử dụng, giải thích mô hình hoạt động của các quỹ cơ bản, ghi chép tốc độ và cấu thành thị trường TMMF. Theo đó, bài viết cũng giải thích các nguồn và gợi ý các mối liên kết TMMF với Stablecoins (một loại tiền điện tử được gắn với một giá trị tham chiếu, phổ biến nhất là đồng USD), nhấn mạnh rủi ro hoạt động liên quan đến sai lệch thanh khoản, khả năng kết nối và vận hành.
Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm

Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm

Bài viết tổng hợp và phân tích các nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm rõ tác động của công nghệ Blockchain đối với hiệu quả hoạt động, an ninh và tính minh bạch trong lĩnh vực ngân hàng, đồng thời chỉ ra những thách thức và hàm ý chính sách trong quá trình triển khai công nghệ này.
Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra

Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra

Bài viết khái quát những kết quả nổi bật của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam, qua đó cho thấy nhiều chỉ tiêu đã vượt mục tiêu đề ra, đồng thời phân tích những thách thức đặt ra và định hướng giải pháp thúc đẩy thanh toán số gắn với chuyển đổi số quốc gia trong thời gian tới.
Xem thêm
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế

Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế

Bài viết phân tích những điểm mới của Thông tư số 83/2025/TT-NHNN về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng trên cơ sở Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và chuẩn mực Basel, qua đó làm rõ các yêu cầu tăng cường quản trị rủi ro, dữ liệu rủi ro, kiểm tra sức chịu đựng và quản lý rủi ro mô hình nhằm nâng cao an toàn hoạt động và ổn định hệ thống ngân hàng.
Quản trị rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trước biến động địa chính trị toàn cầu

Quản trị rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trước biến động địa chính trị toàn cầu

Bài viết phân tích rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trong bối cảnh biến động địa chính trị toàn cầu gia tăng, qua đó làm rõ mối liên hệ giữa an ninh năng lượng và ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất các giải pháp chiến lược về dự trữ quốc gia và công cụ tài chính phái sinh nhằm tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế.
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành