Tokenization trong lĩnh vực tài chính

Công nghệ & ngân hàng số
Những năm gần đây, token được sử dụng rộng rãi đối với các giao dịch trực tuyến trong lĩnh vực tài chính -ngân hàng, nhằm đảm bảo an toàn cho tài khoản của khách hàng. Tiến bộ công nghệ đã dẫn đến xu hướng tạo dựng token điện tử trên các nền tảng có khả năng lập trình với mục tiêu cung cấp hạ tầng cơ sở (gọi là sắp đặt token) và mã hóa các token (tokenization) để hỗ trợ các bên tham gia phát hành, chuyển giao tiền tệ và những tài sản khác, bắt đầu được triển khai trên thị trường tài sản ảo và nhanh chóng được nghiên cứu, thử nghiệm rộng rãi.
aa
Tokenisation trong lĩnh vực tài chính
Trong lĩnh vực ngân hàng, token được sử dụng để xác thực các giao dịch trực tuyến, bảo đảm an toàn cho tài khoản của khách hàng (Ảnh minh họa. Nguồn: Internet)

Một số khái niệm về token, tokenization và cơ chế vận hành

Token: Là một đoạn mã hoặc ký hiệu số đại diện cho quyền truy cập hoặc quyền sở hữu trong một hệ thống kỹ thuật số. Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, token được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch trực tuyến. Nó có thể được coi là một mật khẩu bắt buộc nhằm mục đích bảo mật thông tin và tài sản của người dùng.

Với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống thanh toán số và cơ sở hạ tầng tài chính, các mô hình token hiện đại đang cho thấy tiềm năng lớn trong việc nâng cao tính bảo mật, hiệu quả vận hành và khả năng quản trị rủi ro. Tuy nhiên, việc triển khai các giải pháp token cũng đòi hỏi phải kiểm soát chặt chẽ rủi ro và phản ứng nhanh trước các thay đổi về cấu trúc thị trường do công nghệ mang lại.

Tokenization: Là quy trình tạo ra và ghi chép một đại diện số của các tài sản truyền thống trên nền tảng có khả năng lập trình, chuyển hóa thông tin nhạy cảm của khách hàng thành một mã ký tự, được gọi là mã token. Trong hoạt động ngân hàng trực tuyến hay ví điện tử, số tài khoản và những thông tin cần bảo mật khác sẽ được lưu trữ dưới dạng mã token. Với công nghệ này, thông tin của khách hàng được lưu trữ đầy đủ trong hệ thống với mức độ bảo mật cao, góp phần giảm thiểu rủi ro mất cắp thông tin và truy cập bất hợp pháp.

Trong tương lai, tokenization có thể ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán, chính sách tiền tệ và ổn định tài chính của các ngân hàng trung ương (NHTW), khi các sáng kiến tokenization đang diễn ra ở khu vực tư nhân, thì đặt ra bài toán liệu các token có tuân thủ đầy đủ các quy định pháp lý, cũng như các nguyên tắc quốc tế về hạ tầng thị trường tài chính, đồng thời, tác động của các token đến việc thực thi chính sách tiền tệ là như thế nào.

Về cơ chế vận hành, token là yếu tố quyết định khả năng hoạt động và ứng dụng của token trong các hệ sinh thái số. Trong môi trường blockchain, token hoạt động dựa trên công nghệ sổ cái phân tán mà không cần sự can thiệp của bên thứ ba như ngân hàng hay các tổ chức tài chính trung gian. Mỗi khi người dùng thực hiện giao dịch hoặc sử dụng token, thông tin này sẽ được ghi lại và xác nhận trong một sổ cái phân tán, gọi là blockchain. Mỗi giao dịch token sẽ được xác nhận bởi một mạng lưới các nút (nodes) trong hệ thống blockchain, bảo đảm tính minh bạch và không thể thay đổi.

Token được tạo ra và giao dịch thông qua các hợp đồng thông minh, đó là các đoạn mã tự động thực thi điều kiện giao dịch đã được thiết lập trước. Khi những điều kiện này được thỏa mãn, hợp đồng thông minh sẽ tự động chuyển token từ tài khoản này sang tài khoản khác mà không cần sự can thiệp của bất kỳ tổ chức nào. Cách thức token giao dịch có thể được hiểu qua một ví dụ đơn giản, khi người dùng muốn chuyển token từ ví của mình sang ví của người khác, thông tin giao dịch sẽ được gửi đến mạng blockchain. Sau khi giao dịch được xác nhận, token sẽ được chuyển đến ví người nhận, quá trình này được ghi lại trong một khối dữ liệu (block).

Trong lĩnh vực ngân hàng, token được sử dụng để xác thực các giao dịch trực tuyến, đảm bảo an toàn cho tài khoản của khách hàng. Trong lĩnh vực blockchain, token được dùng để truy cập dịch vụ, tham gia vào các dự án, hoặc đại diện cho quyền sở hữu tài sản số. Việc hiểu rõ token là gì và các loại token sẽ giúp người dùng áp dụng hiệu quả trong các hoạt động trực tuyến và đầu tư tài chính.

Token cũng được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch xuyên biên giới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, phương thức thanh toán quốc tế truyền thống có thể tốn thời gian và phí giao dịch cao. Tuy nhiên, với token, người dùng có thể thực hiện giao dịch nhanh chóng và tiết kiệm chi phí mà không cần thông qua các ngân hàng hay các trung gian tài chính khác. Điều này đặc biệt hữu ích cho các doanh nghiệp và cá nhân muốn giao dịch với đối tác quốc tế, giúp tiết kiệm thời gian và giảm thiểu rủi ro liên quan đến tỉ giá hối đoái.

Tokenization trong lĩnh vực tiền tệ và tài sản khác

Về tổng thể, việc sử dụng tokenization được phát triển đầu tiên trên các thị trường tiền ảo; nhiều dự án và thí nghiệm trên thị trường tài chính đã nâng cao tính thích hợp của token đối với các NHTW trong những năm gần đây. Cho tới nay, các sáng kiến đã tập trung vào tiềm năng của tokenization trong việc xử lý những hạn chế hiện hành trên thị trường tài chính, đánh giá những trường hợp sử dụng và chức năng mới, đồng thời, nâng cao hiệu quả tiềm tàng của các hoạt động trên thị trường tài chính. Các dự án có quy mô khác nhau thì có quy trình vận hành riêng. Tuy nhiên, một số dự án có đặc điểm giống nhau là lệ thuộc vào công nghệ sổ cái phân tán làm công nghệ cơ bản để hỗ trợ quy trình bảo mật tokenization.

Do sự phát triển này, khi thảo luận các mối quan hệ tiềm tàng trong tương lai, G20 đã yêu cầu Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) phối hợp với Ủy ban Thanh toán và Hạ tầng thị trường (CPMI) nghiên cứu và đánh giá vai trò của tokenization trong lĩnh vực tiền tệ và những tài sản khác, tác động của nó đến hoạt động của các thị trường tài chính và NHTW cũng như hệ thống tài chính toàn cầu.

Sắp đặt mã số token

Token là chữ ký số/chữ ký điện tử đã được mã hóa và lưu giữ trên thiết bị máy token, thường dùng cho các giao dịch tài chính, đặc biệt là giao dịch trực tuyến. Mã token được xếp vào nhóm mã OTP, là một loại mật khẩu ngẫu nhiên, bắt buộc phải nhập để xác nhận giao dịch nhằm mục đích bảo mật và chỉ sử dụng trong một lần duy nhất.

Tokenization có thể tạo thuận lợi cho việc chuẩn hóa và lập trình tài sản, qua đó có thể mở rộng việc sử dụng các nền tảng cung cấp dịch vụ tài chính trung gian. Báo cáo sử dụng thuật ngữ “sắp đặt token” để mô tả các nền tảng có khả năng lập trình và/hoặc các thực thể tham gia - tạo thuận lợi để thực hiện các chức năng của thị trường tài chính bằng cách sử dụng token điện tử.

Gần đây, các chức năng, nhiệm vụ cần thiết trong chu trình giao dịch tài chính thường được hoàn tất bởi các thực thể riêng rẽ, với cách bố trí hoạt động hay tài sản đặc trưng (gọi là bố trí theo quy ước). Các chức năng và thực thể được định hình bởi khung khổ pháp lý, sự điều chỉnh, tính khả thi của hoạt động, quy ước và có xem xét đến yếu tố thị trường về quản lý và quản trị rủi ro.

Việc cung cấp dịch vụ tài chính của các nền tảng trung gian có thể cho phép so sánh giữa một cấu trúc thị trường khác với các cách bố trí theo quy ước. Các sắp đặt token có thể là đa tài sản, đa chức năng và đa bên, có thể cung cấp các chủng loại tài sản khác nhau dưới dạng token, bao gồm tiền và những tài sản khác, khác với nhiều cách bố trí hiện hành trong đó tiền được nắm giữ trên những sổ cái riêng rẽ. Các ứng dụng hình thành trên cơ sở hạ tầng thông thường cho phép kết nối các chức năng khác nhau trong mã số sắp đặt, nó có thể bao hàm một phần hay toàn bộ vòng đời của giao dịch tài chính (tức là từ phát hành, trao đổi và quy trình sau đó). Trong khi nhiều sắp đặt token hiện hành tập trung vào một hay một vài chức năng, trong đó có thể bao gồm tất cả các chức năng của thị trường tài chính.

Khả năng lập trình nội bộ có thể thay đổi cách thức hoàn tất các chức năng của thị trường tài chính. Việc tự động hóa khả năng chuyển giao dựa trên logic ngẫu nhiên định trước có thể giảm mức độ phụ thuộc vào các trung gian để mở rộng những chức năng mà trước đây lệ thuộc vào quy trình thủ công. Về tổng thể, khả năng lập trình nội bộ có thể mở rộng các quyền chọn hoạt động khả thi để tiến hành các giao dịch tài chính, nếu nó nhất quán với các quy định về quản trị, các hợp đồng có thể áp dụng hay những quy trình ra quyết định khác.

Sắp đặt token có thể phục vụ nhiều bên, tùy thuộc vào các tiêu chí tiếp cận và nếu luật pháp cho phép, những bên đang lệ thuộc vào các trung gian có thể trực tiếp tham gia nhiều hơn so với cách sắp đặt truyền thống. Hiện nay, sổ cái phân tán là công nghệ phổ biến nhất dựa trên các cách sắp đặt token. Sổ cái phân tán đưa ra phương pháp cập nhật sổ cái sắp đặt và hoàn tất những ứng dụng khác nhau để thực hiện chức năng liên lạc với sổ cái phân tán.

Cơ hội và chấp nhận sắp đặt token

Mã token đang thâm nhập vào khu vực tài chính. Các định chế tư nhân và khu vực công đang đầu tư vào những sáng kiến để áp dụng trong thực tế, như phát hành trái phiếu mã hóa, tiền gửi mã hóa và các thỏa thuận mua lại.

Các sắp đặt token kéo theo chi phí đầu tư đáng kể; tuy nhiên, nếu đầu tư thì có thể đạt được các cơ hội về sắp xếp thị trường tài chính quy ước. Hơn nữa, việc mở rộng cơ hội đạt được tùy thuộc vào nhu cầu của người sử dụng các giải pháp hỗ trợ tokenization, môi trường pháp lý và chế độ điều chỉnh của mỗi quốc gia. Do chưa chắc chắn, nên đầu tư của khu vực tư nhân sẽ dựa trên việc đánh giá thu nhập kỳ vọng so với chi phí. Tương tự, đối với các định chế công, đầu tư vào việc mã hóa sẽ dựa trên thu nhập kỳ vọng so với chi phí xã hội. Có thể bao gồm các khía cạnh như cải thiện thanh toán qua biên giới, tăng cường phổ cập tài chính hay những ưu tiên chính sách khác tại mỗi quốc gia.

Các sáng kiến tokenization được các khu vực công và tư nhân đưa ra chủ yếu nhằm mục tiêu xử lý những hạn chế hiện hành (chi phí cao, tốc độ chậm, thiếu minh bạch và khả năng tiếp cận hạn chế…) bằng cách hợp lý hóa các khía cạnh khác nhau của các giao dịch tài chính hoặc toàn bộ quy trình giao dịch đầu cuối. Qua đó, có thể tạo ra các cơ hội nhằm nâng cao hiệu quả và an toàn của các thị trường tài chính theo hướng minh bạch hơn, giảm chi phí thông tin và giao dịch, tốc độ cao và nâng cao quản lý rủi ro.

Cũng như thanh toán truyền thống, các sắp đặt token trong thanh toán cũng có thể phát sinh những rủi ro tương tự, đòi hỏi phải tăng cường quản lý rủi ro. Những rủi ro này bao gồm rủi ro pháp lý, rủi ro thanh toán, rủi ro tín dụng và thanh khoản, rủi ro hoạt động và an ninh…

Gần đây nhất, các NHTW đã liên kết các nỗ lực của các định chế tài chính trong Đề án Agorá (là một dự án hợp tác giữa Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) và các NHTW của các nền kinh tế lớn, được thiết kế dựa trên khái niệm sổ cái thống nhất và Internet tài chính) để xây dựng Đề án sổ cái thống nhất theo đề xuất của BIS. Đề án này phối hợp tiền mã hóa của các ngân hàng thương mại và của NHTW trong thanh toán trên cùng một nền tảng có khả năng lập trình, qua đó có thể củng cố chức năng của hệ thống tiền tệ, cung cấp những giải pháp mới có sử dụng các hợp đồng thông minh và khả năng lập trình, trong khi vẫn duy trì cấu trúc hệ thống hai cấp. Đề án Agorá được xây dựng dựa trên các mô hình ngân hàng hối đoái, hoàn toàn khả thi và hợp pháp tại thời điểm hiện nay. Mô hình đối tác công tư này sẽ tìm cách khắc phục một số hạn chế về công nghệ và pháp lý trong giao dịch thanh toán hiện nay.

Gợi ý một số cân nhắc liên quan đến chính sách tiền tệ

Trong bối cảnh công nghệ thanh toán mới ngày càng phát triển với sự tham gia rộng rãi của khu vực tư nhân, các lựa chọn chính sách của NHTW sẽ ảnh hưởng đến lợi ích và rủi ro của việc sắp đặt token.

Đối với sự phát triển thị trường, các NHTW có nhiệm vụ đảm bảo an toàn, hiệu quả hệ thống thanh toán, bao gồm việc cải thiện hệ thống hiện hành và đánh giá cơ hội đổi mới công nghệ để chuẩn bị cho hệ thống tài chính tương lai. Trong bối cảnh đó, cân nhắc hàng đầu đối với NHTW là cách thức đáp ứng các diễn biến có liên quan đến việc sắp đặt token. Có thể bao gồm sự phối hợp công - tư, kể cả vai trò tiềm tàng về vận hành hệ thống thanh toán và cung cấp tài sản thanh toán, triệu tập các ngân hàng và tổ chức có liên quan để trao đổi ý kiến, cùng phối hợp, tránh phân đoạn; chỉ đạo việc giám sát và thực hiện điều chỉnh với sự tham gia của các cơ quan liên quan ở trong và ngoài nước.

Các NHTW có thể cần đến sự phối hợp của các tokenization, nhất là tại những nơi mà các sáng kiến tư nhân hoạt động tách biệt, chỉ phục vụ các khách hàng của riêng mình, nên không thể nắm bắt được đầy đủ mọi hiệu ứng của mạng lưới hoạt động ở quy mô lớn. Để nắm bắt đầy đủ những lợi ích tiềm tàng này của tokenization, các NHTW đã thăm dò cách thức phối hợp và kết nối với bộ phận khách hàng của hệ thống tài chính. BIS đã phối hợp với 7 NHTW và một số ngân hàng thương mại, thăm dò Đề án Agorá - tokenization thanh toán qua biên giới. Đề án này tiếp nối nghiên cứu trước đó của BIS về sắp xếp DvP và PvP sử dụng tiền mã hóa của NHTW và các tài sản mã hóa. Tham gia dự án này, các NHTW không chỉ đóng vai trò phối hợp, mà còn vận hành các hệ thống thanh toán và cung cấp tài sản thanh toán.

Đối với tài sản thanh toán, trong các hệ thống thanh toán và hạ tầng thị trường tài chính (FMIs), tiền NHTW đóng vai trò chủ chốt, cung cấp tài sản thanh toán an toàn nhất, dễ dàng chuyển đổi và dựa trên khung khổ thể chế rõ ràng, hướng tới các mục tiêu chính sách công. Các hoạt động thanh toán và chuyển giao tiền NHTW giữa các ngân hàng thương mại và những thực thể đủ tư cách khác đang hỗ trợ “tính duy nhất của đồng tiền”. Nhờ đặc tính duy nhất này, việc trao đổi tiền tệ không phụ thuộc vào sự lên - xuống của tỉ giá. Tính duy nhất của đồng tiền cũng được hỗ trợ bởi các khung khổ giám sát và điều chỉnh vững chắc đối với các đơn vị phát hành tiền tư nhân.

Các NHTW hỗ trợ tính duy nhất của đồng tiền bằng cách phát hành tiền dưới dạng tiền gửi tại NHTW để các định chế đủ tư cách sử dụng. Trong bối cảnh token hóa, một cân nhắc quan trọng đó là NHTW có thể cung cấp tiền dưới nhiều hình thức khác nhau để phục vụ thanh toán trên các hệ thống token. Các lựa chọn bao gồm kết nối với các hệ thống thanh toán hiện có; hoặc cung cấp tiền NHTW dưới dạng token trên các nền tảng có khả năng lập trình; hoặc sử dụng tiền mã hóa của NHTW trên các nền tảng đa tài sản.

NHTW nên cân nhắc các chính sách để đối phó với stablecoins, vì những rủi ro tiềm ẩn trong những năm gần đây đã thúc đẩy BIS đưa ra các tiêu chuẩn và chính sách quốc tế về stablecoins. Các cơ quan có thẩm quyền tại các quốc gia cũng đang tiến hành các bước quản lý rủi ro liên quan đến việc phát hành stablecoins và hình thành các khung khổ pháp lý phù hợp với điều kiện của quốc gia mình.

Đối với hoạt động giám sát, mục tiêu của NHTW là đẩy mạnh an toàn và hiệu quả của hệ thống thanh toán. Sự hình thành các token dẫn đến những vấn đề liên quan đến việc theo dõi những sắp đặt token, đánh giá các mục tiêu về an toàn và hiệu quả. So với FMIs truyền thống, các sắp đặt token có những khác biệt rõ rệt, đòi hỏi: (i) NHTW có thể giám sát diễn biến các sắp đặt token để đánh giá về mức độ an toàn và hiệu quả của những sắp đặt này, tác động của nó đến hệ thống thanh toán và mục tiêu, hoạt động của NHTW; (ii) Phối hợp giữa các NHTW và giữa NHTW với những cơ quan khác, do các sắp đặt token đóng vai trò cần thiết trong những bối cảnh nhất định; (iii) Đánh giá xem liệu những sắp đặt này có đáp ứng các yêu cầu chính sách liên quan hay không.

Đối với chính sách tiền tệ, sự xuất hiện các sắp đặt token cũng đặt ra một số vấn đề cho chính sách tiền tệ. Các NHTW phụ thuộc vào các hệ thống thanh toán an toàn và hiệu quả để thực hiện chính sách tiền tệ. Các sắp đặt token có thể ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách tiền tệ thông qua các kênh như: Thực thi chính sách tiền tệ; sử dụng tiền kỹ thuật số của NHTW và thay đổi cấu trúc thị trường. Thứ nhất, các quy định và tiêu chuẩn liên quan đến các sắp đặt token có thể khác biệt so với các hệ thống hiện hành, dẫn đến những thách thức trong việc thực thi chính sách tiền tệ. Thứ hai, việc sử dụng tiền mã hóa có thể thay đổi tổng cung tiền, gây ra sự không chắc chắn trong việc điều tiết nhu cầu về tiền NHTW. Thứ ba, các sắp đặt token có thể dẫn đến những thay đổi về cấu trúc thị trường như việc kết nối các chức năng và tăng cường tương tác giữa các nền tảng, gây ra sự phân đoạn giữa các nền tảng.

Xuân Thanh
Nguồn: BIS

Tin bài khác

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong dịch vụ ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong dịch vụ ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích những thách thức nổi bật trong bảo vệ dữ liệu cá nhân trong ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường an toàn thông tin và củng cố niềm tin của khách hàng trong môi trường tài chính số.
Đánh giá "tính tiền tệ" của Stablecoin và khuyến nghị đối với ổn định tiền tệ, tài chính

Đánh giá "tính tiền tệ" của Stablecoin và khuyến nghị đối với ổn định tiền tệ, tài chính

Bài viết phân tích “tính tiền tệ” của Stablecoin (tiền mã hóa ổn định), qua đó chỉ ra những giới hạn và hàm ý chính sách nhằm bảo đảm ổn định tiền tệ và tài chính trong kỷ nguyên số.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Tăng cường quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng nhằm kiến tạo niềm tin số

Tăng cường quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng nhằm kiến tạo niềm tin số

Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu cá nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu cao về quản trị và bảo vệ thông tin. Bài viết phân tích vai trò của dữ liệu cá nhân, các rủi ro phát sinh trong ngân hàng số và khung pháp lý hiện hành tại Việt Nam, qua đó đề xuất một số định hướng nhằm tăng cường quản trị dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư của khách hàng và củng cố niềm tin số trong hệ thống ngân hàng.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân

An ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời khỏi quá trình chuyển đổi số ngân hàng. Việc phát triển sản phẩm, dịch vụ số phải đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm hoạt động liên tục của các hệ thống thông tin quan trọng và quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Vì thế, thời gian qua, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán và các hệ thống thông tin ứng dụng nghiệp vụ ngân hàng luôn được quan tâm chú trọng. Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng nhằm tăng cường công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao.
Ứng dụng các thuật toán học sâu nâng cao năng lực phòng, chống tội phạm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Ứng dụng các thuật toán học sâu nâng cao năng lực phòng, chống tội phạm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), học sâu và các công nghệ an ninh tiên tiến, qua đó đánh giá hạ tầng bảo mật và đề xuất các giải pháp chiến lược giai đoạn 2026 - 2030 nhằm chuyển đổi sang hệ sinh thái an ninh chủ động, bảo vệ hiệu quả tài sản, con người và uy tín của hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank).
Bảo vệ quyền lợi khách hàng trong ngân hàng số: Góc nhìn từ pháp luật bảo vệ dữ liệu cá nhân

Bảo vệ quyền lợi khách hàng trong ngân hàng số: Góc nhìn từ pháp luật bảo vệ dữ liệu cá nhân

Bài viết phân tích khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong ngân hàng số, chỉ ra những hạn chế trong cơ chế bảo vệ quyền lợi khách hàng và đề xuất giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Xem thêm
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành