Tiếp tục phát huy hiệu quả tín dụng chính sách gắn với Chương trình OCOP tại tỉnh Quảng Ngãi

Hoạt động ngân hàng
Tương tự nhiều địa phương khác trong cả nước, tại tỉnh Quảng Ngãi, Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã được triển khai đồng bộ, rộng khắp, huy động sự vào cuộc của các cấp, các ngành trở thành một giải pháp ưu tiên trong phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới.
aa

Tóm tắt: Chương trình OCOP tại tỉnh Quảng Ngãi thời gian qua đã góp phần tích cực vào chuyển dịch kinh tế nông thôn theo hướng chuẩn hóa sản phẩm và liên kết chuỗi giá trị. Trong đó, nguồn lực tài chính, đặc biệt là tín dụng chính sách từ Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đóng vai trò then chốt. Bài viết phân tích tác động của vốn vay ưu đãi đối với các chủ thể OCOP, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng quy mô sản xuất và tiếp cận thị trường. Qua các minh chứng thực tiễn và số liệu cụ thể, bài viết làm rõ hiệu quả của tín dụng chính sách, đồng thời chỉ ra những rào cản trong tiếp cận vốn. Bên cạnh đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường phối hợp, nâng cao năng lực quản trị tài chính và hiệu quả sử dụng vốn, hướng tới phát triển bền vững các sản phẩm OCOP tại tỉnh Quảng Ngãi.

Từ khóa: Chương trình OCOP, tín dụng chính sách, phát triển nông thôn, Quảng Ngãi, tiếp cận tài chính.

POLICY CREDIT SUPPORTING THE EXPANSION OF OCOP PRODUCTS
IN QUANG NGAI PROVINCE

Abstract: The “One Commune One Product” (OCOP) program in Quang Ngai province has significantly contributed to rural economic transformation through product standardization and value chain integration. A key factor behind its success is the financial support from policy credit sources, especially from the Vietnam Bank for Social Policies. This article analyzes how preferential loans have enabled OCOP entities to improve product quality, expand production, and enhance market access. Through typical examples and statistical data, the study highlights the positive impact of policy credit on OCOP development and identifies barriers to credit accessibility. Additionally, recommendations are proposed to strengthen coordination among stakeholders, improve financial management capacity and the effectiveness of credit, support to ensure sustainable development of OCOP products in Quang Ngai.

Keywords: OCOP program, policy credit, rural development, Quang Ngai, financial access.

Tiếp tục phát huy hiệu quả tín dụng chính sách gắn với Chương trình OCOP tại tỉnh Quảng Ngãi
Tín dụng chính sách đã và đang tiếp sức cho các sản phẩm OCOP ở Quảng Ngãi

1. Lan tỏa thương hiệu OCOP từ vốn chính sách

OCOP là chương trình phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng phát huy nội lực (trí tuệ, sự sáng tạo, lao động, nguyên liệu và văn hóa địa phương...) và gia tăng giá trị, nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới. Chương trình OCOP được nhiều nước trên thế giới triển khai với các tên gọi khác nhau, nhưng đều có điểm chung là phát huy nội lực của các địa phương gắn với đơn vị làng, xã để tập trung phát triển các sản phẩm ngành nghề nông thôn có giá trị gia tăng cao và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong cơ chế thị trường.

Trọng tâm Chương trình OCOP ở Việt Nam là phát triển sản nhiều công nghiệp, phi nông nghiệp và dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị, gắn với các chủ thể. Các chủ thể tham gia Chương trình OCOP bao gồm các thành phần kinh tế tập thể (hợp tác xã, tổ hợp tác) và kinh tế tư nhân (doanh nghiệp, hộ sản xuất). Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, ban hành khung pháp lý và chính sách để thực hiện định hướng phát triển trục sản phẩm đặc sản địa phương, các vùng sản xuất hàng hóa, dịch vụ; quản lý và giám sát tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm; hỗ trợ đào tạo, tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ, hỗ trợ tín dụng, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm.

Trong những năm qua, các cơ sở tham gia Chương trình OCOP tại tỉnh Quảng Ngãi đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng sản phẩm lẫn chất lượng, góp phần tạo nên sự chuyển mình mạnh mẽ của kinh tế nông thôn. Các sản phẩm đặc trưng mang đậm bản sắc địa phương như: Nước mắm Mười Quý, hành tỏi Lý Sơn, quế Trà Bồng… không chỉ tạo dựng được thương hiệu mà còn dần mở rộng thị trường tiêu thụ, vươn xa ra ngoài tỉnh, thậm chí xuất khẩu.

Với nhiều nỗ lực, đến nay số lượng sản phẩm OCOP tỉnh Quảng Ngãi có sự tăng trưởng mạnh trong giai đoạn 2019 - 2024. Giai đoạn 2019 - 2021, toàn tỉnh có 61 sản phẩm được chứng nhận OCOP, trong đó có 4 sản phẩm đạt 4 sao; năm 2022 tăng thêm 65 sản phẩm (tăng 6,56%), trong đó sản phẩm OCOP 4 sao tăng 25%. Năm 2023 số lượng sản phẩm mới đạt OCOP là 100 sản phẩm, trong đó có 10 sản phẩm 4 sao, tốc độ tăng trưởng đạt tới 53,85%. Sang năm 2024, số lượng sản phẩm OCOP được đánh giá đạt thêm 99 sản phẩm, giảm 1% so với năm trước nhưng vượt 141,42% kế hoạch đề ra.

Lũy kế từ khi triển khai Chương trình OCOP, toàn tỉnh Quảng Ngãi có 325 sản phẩm đạt chuẩn OCOP, trong đó có 65 sản phẩm không tiếp tục duy trì đánh giá, phân hạng do không tiếp cận được thị trường và phát huy hiệu quả kinh doanh. Đến hết năm 2024, toàn tỉnh còn lại 260 sản phẩm OCOP, gồm 2 sản phẩm tiềm năng 5 sao; 16 sản phẩm 4 sao và 242 sản phẩm 3 sao; có 173/260 sản phẩm được bán trên các sàn thương mại điện tử như Shopee, Voso, Postmart... và xây dựng được 20 điểm giới thiệu, bán sản phẩm OCOP.

Đến tháng 4/2025, toàn tỉnh Quảng Ngãi đã có tổng cộng 271 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó có 16 sản phẩm đạt 4 sao, 253 sản phẩm đạt 3 sao và 2 sản phẩm đang được đánh giá là tiềm năng đạt 5 sao. Chương trình đã được triển khai đồng bộ tại cả 13 huyện, thị xã và thành phố trên địa bàn tỉnh, với sự tham gia của 160 chủ thể, bao gồm 23 doanh nghiệp, 42 hợp tác xã và 95 cơ sở, hộ sản xuất kinh doanh.

Đặc biệt, đến nay tín dụng chính sách xã hội đã hỗ trợ hình thành và duy trì các chuỗi giá trị bền vững từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm OCOP, góp phần xây dựng và phát triển thương hiệu OCOP ở Quảng Ngãi, tạo dấu ấn trên thị trường. Thông qua chương trình OCOP và nguồn hỗ trợ từ tín dụng chính sách, các sản phẩm đã có nhiều thay đổi về chất lượng, bao bì nhãn mác, bộ nhận diện thương hiệu, quy mô sản xuất; thị trường tiêu thụ cũng được mở rộng, từ chỉ bán trong huyện, xã, cho thương lái, nay đã đưa vào các đại lý ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Giai đoạn 2020 - 2024, các khoản vay chủ yếu gắn với chương trình cho vay giải quyết việc làm cho người lao động, quy mô vốn vay nhỏ, không có tài sản bảo đảm, 100% từ nguồn vốn ngân sách địa phương.

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình OCOP, UBND tỉnh Quảng Ngãi khẳng định: Chương trình OCOP đã góp phần chuyển đổi nền sản xuất nông nghiệp, nông thôn theo hướng chuẩn hóa, hiện đại, hiệu quả và bền vững hơn; thúc đẩy mạnh mẽ liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với tiêu thụ; tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất, chế biến, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp, nông thôn. Công tác tổ chức thực hiện chương trình ở các cấp, các ngành đã được định hình cơ bản về nhận thức, giải pháp và phương thức thực hiện.

Chương trình OCOP đã được triển khai đồng bộ, rộng khắp, huy động sự vào cuộc của các cấp, các ngành, trở thành một giải pháp ưu tiên trong phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Chương trình đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế nông thôn, góp phần chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sang sản xuất theo chuỗi giá trị, có tiêu chuẩn, quy chuẩn, truy xuất nguồn gốc và theo nhu cầu thị trường; khơi dậy tiềm năng đất đai, sản vật, lợi thế so sánh, đặc biệt là các giá trị văn hóa vùng miền để hình thành các sản phẩm OCOP tích hợp “đa giá trị”, gắn kết phát triển nông nghiệp với dịch vụ, du lịch.

Nguồn vốn thực hiện Chương trình OCOP bao gồm: Vốn ngân sách Trung ương; vốn ngân sách địa phương; vốn tín dụng (gồm vốn tín dụng ưu đãi từ NHCSXH, vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác, các quỹ đầu tư, quỹ phát triển doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã...); vốn tự huy động của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất; vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác; vốn huy động hợp pháp khác. Một trong những lực đẩy quan trọng góp phần giúp chương trình OCOP tại Quảng Ngãi đạt được những thành tựu nêu trên chính là sự đồng hành của NHCSXH. Theo đại diện NHCSXH chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi, nguồn vốn tín dụng ưu đãi đã giúp các chủ thể OCOP đầu tư sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, từ đó nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh.

Vốn vay ưu đãi từ tín dụng chính sách là “chìa khóa” để các chủ thể OCOP mở rộng sản xuất, nâng cấp công nghệ và cơ sở vật chất. Nhờ nguồn lực này, nhiều sản phẩm OCOP đã được nâng hạng lên 3 - 5 sao, gia tăng giá trị thương hiệu và chinh phục thị trường rộng lớn hơn.

Thực tế, từ sự hỗ trợ kịp thời của NHCSXH, nhiều mô hình sản xuất OCOP đã phát triển vững chắc, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân. Tiêu biểu như gia đình bà Phạm Hồng Thắm tại xã Phổ Thạnh, thị xã Đức Phổ, nơi có nghề làm muối truyền thống Sa Huỳnh. Với khoản vay 100 triệu đồng từ chương trình giải quyết việc làm, bà Phạm Hồng Thắm đầu tư chế biến các dòng sản phẩm muối cao cấp như muối tre, hoa muối… và đạt chứng nhận OCOP 4 sao. Đến nay, thương hiệu muối sạch của gia đình bà đã có mặt tại hơn 30 đại lý trên toàn quốc, góp phần gìn giữ nghề muối truyền thống, đồng thời mang lại thu nhập ổn định cho nhiều lao động địa phương.

Tại huyện Nghĩa Hành, địa phương đang nỗ lực giữ vững danh hiệu huyện nông thôn mới và phấn đấu đạt chuẩn xã nông thôn mới nâng cao, chương trình OCOP được xác định là một trong những giải pháp trọng tâm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp. Ông Đỗ Văn Kha, Giám đốc Phòng giao dịch NHCSXH huyện Nghĩa Hành cho biết, thời gian qua, đơn vị đã tập trung giải ngân vốn kịp thời cho các hộ sản xuất nông nghiệp tiêu biểu, các chủ thể OCOP có tiềm năng nâng hạng sản phẩm. Tín dụng chính sách không chỉ giúp người dân có vốn phát triển sản xuất mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo việc làm bền vững tại địa phương. Qua đó, giúp các sản phẩm OCOP của huyện ngày càng khẳng định được chỗ đứng trên thị trường và hướng tới xuất khẩu.

2. Một số khó khăn, hạn chế

Theo các chuyên gia, hiệu quả tín dụng gắn với OCOP còn phụ thuộc nhiều vào khả năng tiêu thụ sản phẩm. Nếu sản phẩm không đáp ứng được thị hiếu thị trường, không có đầu ra ổn định, việc hoàn trả vốn sẽ gặp khó khăn, dẫn tới rủi ro tín dụng. Vì vậy, việc phối hợp chặt chẽ giữa NHCSXH, chính quyền địa phương và các tổ chức hội, đoàn thể trong hỗ trợ kỹ thuật, tuyên truyền và giám sát quá trình sử dụng vốn là rất cần thiết.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua NHCSXH vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn ngày càng tăng của các chủ thể OCOP. Đặc biệt, NHCSXH và cơ quan quản lý Chương trình OCOP chưa xây dựng được cơ chế phối hợp chặt chẽ và hiệu quả trong triển khai tín dụng chính sách hỗ trợ các chủ thể OCOP.

Trong khi đó, đối với NHCSXH, việc nhiều chủ thể OCOP chưa tiếp cận được nguồn vốn chính thức cũng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ phát triển tín dụng gắn với chương trình này. Điều đó phản ánh sự quan tâm của ngân hàng và chính quyền địa phương trong việc tập trung nguồn lực phát triển Chương trình OCOP.

Các ngân hàng thương mại thường áp dụng chính sách hạn chế cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp do lo ngại rủi ro và nợ xấu cao, vì vậy, rủi ro đối với các chủ thể OCOP cũng được đánh giá khá lớn. Khi thiếu lịch sử tín dụng vững chắc và khả năng thanh toán chưa bảo đảm, các chủ thể OCOP thường bị xếp vào nhóm rủi ro cao, dẫn tới việc tiếp cận vốn gặp nhiều hạn chế. Điều này tạo nên một vòng luẩn quẩn: thiếu vốn khiến năng lực sản xuất yếu, khả năng gia tăng thu nhập hạn chế, khó trả nợ; từ đó bị đánh giá rủi ro cao, và kết quả là không thể tiếp cận nguồn tín dụng để giải quyết bài toán thiếu vốn.

Bên cạnh đó, các chủ thể OCOP còn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận tài chính như thiếu tài sản bảo đảm, thiếu thông tin. Mặc dù Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách tín dụng ưu đãi, nhưng các chủ thể OCOP thường gặp khó khăn trong đáp ứng các tiêu chí về tài sản thế chấp và năng lực quản trị tài chính. Với quy mô nhỏ, vốn tự có hạn chế, nhiều chủ thể OCOP không có đủ tài sản để thế chấp, khiến việc vay vốn với lãi suất thấp, thời gian trả nợ dài trở nên khó khăn. Điều này không chỉ hạn chế khả năng đầu tư mở rộng sản xuất mà còn cản trở việc nâng cao chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh trên thị trường.

Về phía chính quyền địa phương, các cán bộ phụ trách Chương trình OCOP chủ yếu kiêm nhiệm, dẫn đến thiếu thời gian và chuyên môn trong việc triển khai hiệu quả chương trình, làm giảm chất lượng quản lý và giám sát…

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Để tiếp tục phát huy hiệu quả chương trình tín dụng chính sách gắn với Chương trình OCOP, tác giả đề xuất một số giải pháp và kiến nghị như sau:

Về phía NHCSXH chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi: Tăng cường nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua NHCSXH dành riêng cho các chủ thể OCOP - yếu tố then chốt để mở rộng đối tượng vay vốn, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển sản xuất. Tích cực tuyên truyền về chương trình tín dụng chính sách đến các chủ thể OCOP, trong đó nhấn mạnh vai trò hỗ trợ gián tiếp từ các chương trình cho vay như hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm; cho vay sản xuất kinh doanh vùng khó khăn… nhằm giúp các chủ thể OCOP có thêm nguồn lực phát triển bền vững. Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ để bảo đảm các khoản vay được sử dụng đúng mục đích và mang lại hiệu quả kinh tế. Việc kiểm tra, giám sát không chỉ giúp tăng khả năng tiếp cận tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh, tổ hợp tác sản xuất - những đơn vị thường gặp khó khăn khi tiếp cận tín dụng ngân hàng thương mại, mà còn nâng cao tinh thần trách nhiệm trong việc hoàn trả vốn, nâng cao chất lượng tín dụng và khả năng duy trì các chương trình hỗ trợ tương tự trong tương lai.

Về phía các chủ thể OCOP: Nâng cao năng lực quản lý, kỹ năng sản xuất - kinh doanh, chủ động xây dựng phương án kinh doanh phù hợp với nhu cầu thị trường. Đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị, áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, GMP, ISO… nhằm nâng cao chất lượng, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và mở rộng kênh tiêu thụ. Đặc biệt, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và đẩy mạnh xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ sản phẩm vẫn là yếu tố sống còn. Cần đầu tư bài bản vào bao bì, nhãn mác, quảng bá hình ảnh sản phẩm gắn với biểu trưng OCOP, nhằm khẳng định vị thế sản phẩm địa phương trên thị trường trong nước và quốc tế.

Về phía chính quyền địa phương: Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng và chủ thể OCOP về tín dụng chính sách; tạo điều kiện để các chủ thể tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của NHCSXH để đầu tư phát triển sản phẩm. Tổ chức các chương trình hướng dẫn, hỗ trợ chủ thể OCOP xây dựng phương án kinh doanh, nâng cao kỹ năng quản trị tài chính. Các nghiên cứu cho thấy, năng lực quản trị, kỹ năng sử dụng và quản lý vốn của các chủ thể OCOP còn hạn chế. Việc tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quản trị tài chính, lập kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý sản xuất - kinh doanh sẽ giúp các doanh nghiệp OCOP cải thiện năng lực nội bộ. Điều này không chỉ giúp tăng khả năng tiếp cận tín dụng mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy đầu tư mở rộng sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm….

Tài liệu tham khảo:

1. Anang, BT, Bäckman, S., & Sipiläinen, T. (2016). Tín dụng vi mô nông nghiệp và hiệu quả kỹ thuật. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ở vùng Nhiệt đới và Cận nhiệt đới.

2. Anh, N. T. P. (2024). Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến ý định mua sản phẩm OCOP của người tiêu dùng Hà Nội. Tạp chí Nghiên cứu Chính sách và Phát triển, 1(1), trang 72-86.

3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2021). Báo cáo thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018 - 2020 tại Hội nghị tổng kết Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018-2020, ngày 23/3/2021.

4. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi (2022). Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) giai đoạn 2019 - 2021, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

5. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi (2023). Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) năm 2022, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện năm 2023 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

6. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi (2024). Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) năm 2023, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện năm 2024 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

7. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi (2025). Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) năm 2024, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện năm 2025 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

Trần Duy Cường
Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi

Tin bài khác

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trong quá trình tái cơ cấu gắn với chuyển đổi số, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững của hệ thống trong giai đoạn tới.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Xem thêm
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Bài viết phân tích những định hướng sửa đổi quan trọng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7) về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong bối cảnh tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính.
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại