Tiếp tục phát huy hiệu quả tín dụng chính sách gắn với Chương trình OCOP tại tỉnh Quảng Ngãi

Hoạt động ngân hàng
Tương tự nhiều địa phương khác trong cả nước, tại tỉnh Quảng Ngãi, Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã được triển khai đồng bộ, rộng khắp, huy động sự vào cuộc của các cấp, các ngành trở thành một giải pháp ưu tiên trong phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới.
aa

Tóm tắt: Chương trình OCOP tại tỉnh Quảng Ngãi thời gian qua đã góp phần tích cực vào chuyển dịch kinh tế nông thôn theo hướng chuẩn hóa sản phẩm và liên kết chuỗi giá trị. Trong đó, nguồn lực tài chính, đặc biệt là tín dụng chính sách từ Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đóng vai trò then chốt. Bài viết phân tích tác động của vốn vay ưu đãi đối với các chủ thể OCOP, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng quy mô sản xuất và tiếp cận thị trường. Qua các minh chứng thực tiễn và số liệu cụ thể, bài viết làm rõ hiệu quả của tín dụng chính sách, đồng thời chỉ ra những rào cản trong tiếp cận vốn. Bên cạnh đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường phối hợp, nâng cao năng lực quản trị tài chính và hiệu quả sử dụng vốn, hướng tới phát triển bền vững các sản phẩm OCOP tại tỉnh Quảng Ngãi.

Từ khóa: Chương trình OCOP, tín dụng chính sách, phát triển nông thôn, Quảng Ngãi, tiếp cận tài chính.

POLICY CREDIT SUPPORTING THE EXPANSION OF OCOP PRODUCTS
IN QUANG NGAI PROVINCE

Abstract: The “One Commune One Product” (OCOP) program in Quang Ngai province has significantly contributed to rural economic transformation through product standardization and value chain integration. A key factor behind its success is the financial support from policy credit sources, especially from the Vietnam Bank for Social Policies. This article analyzes how preferential loans have enabled OCOP entities to improve product quality, expand production, and enhance market access. Through typical examples and statistical data, the study highlights the positive impact of policy credit on OCOP development and identifies barriers to credit accessibility. Additionally, recommendations are proposed to strengthen coordination among stakeholders, improve financial management capacity and the effectiveness of credit, support to ensure sustainable development of OCOP products in Quang Ngai.

Keywords: OCOP program, policy credit, rural development, Quang Ngai, financial access.

Tiếp tục phát huy hiệu quả tín dụng chính sách gắn với Chương trình OCOP tại tỉnh Quảng Ngãi
Tín dụng chính sách đã và đang tiếp sức cho các sản phẩm OCOP ở Quảng Ngãi

1. Lan tỏa thương hiệu OCOP từ vốn chính sách

OCOP là chương trình phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng phát huy nội lực (trí tuệ, sự sáng tạo, lao động, nguyên liệu và văn hóa địa phương...) và gia tăng giá trị, nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới. Chương trình OCOP được nhiều nước trên thế giới triển khai với các tên gọi khác nhau, nhưng đều có điểm chung là phát huy nội lực của các địa phương gắn với đơn vị làng, xã để tập trung phát triển các sản phẩm ngành nghề nông thôn có giá trị gia tăng cao và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong cơ chế thị trường.

Trọng tâm Chương trình OCOP ở Việt Nam là phát triển sản nhiều công nghiệp, phi nông nghiệp và dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị, gắn với các chủ thể. Các chủ thể tham gia Chương trình OCOP bao gồm các thành phần kinh tế tập thể (hợp tác xã, tổ hợp tác) và kinh tế tư nhân (doanh nghiệp, hộ sản xuất). Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, ban hành khung pháp lý và chính sách để thực hiện định hướng phát triển trục sản phẩm đặc sản địa phương, các vùng sản xuất hàng hóa, dịch vụ; quản lý và giám sát tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm; hỗ trợ đào tạo, tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ, hỗ trợ tín dụng, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm.

Trong những năm qua, các cơ sở tham gia Chương trình OCOP tại tỉnh Quảng Ngãi đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng sản phẩm lẫn chất lượng, góp phần tạo nên sự chuyển mình mạnh mẽ của kinh tế nông thôn. Các sản phẩm đặc trưng mang đậm bản sắc địa phương như: Nước mắm Mười Quý, hành tỏi Lý Sơn, quế Trà Bồng… không chỉ tạo dựng được thương hiệu mà còn dần mở rộng thị trường tiêu thụ, vươn xa ra ngoài tỉnh, thậm chí xuất khẩu.

Với nhiều nỗ lực, đến nay số lượng sản phẩm OCOP tỉnh Quảng Ngãi có sự tăng trưởng mạnh trong giai đoạn 2019 - 2024. Giai đoạn 2019 - 2021, toàn tỉnh có 61 sản phẩm được chứng nhận OCOP, trong đó có 4 sản phẩm đạt 4 sao; năm 2022 tăng thêm 65 sản phẩm (tăng 6,56%), trong đó sản phẩm OCOP 4 sao tăng 25%. Năm 2023 số lượng sản phẩm mới đạt OCOP là 100 sản phẩm, trong đó có 10 sản phẩm 4 sao, tốc độ tăng trưởng đạt tới 53,85%. Sang năm 2024, số lượng sản phẩm OCOP được đánh giá đạt thêm 99 sản phẩm, giảm 1% so với năm trước nhưng vượt 141,42% kế hoạch đề ra.

Lũy kế từ khi triển khai Chương trình OCOP, toàn tỉnh Quảng Ngãi có 325 sản phẩm đạt chuẩn OCOP, trong đó có 65 sản phẩm không tiếp tục duy trì đánh giá, phân hạng do không tiếp cận được thị trường và phát huy hiệu quả kinh doanh. Đến hết năm 2024, toàn tỉnh còn lại 260 sản phẩm OCOP, gồm 2 sản phẩm tiềm năng 5 sao; 16 sản phẩm 4 sao và 242 sản phẩm 3 sao; có 173/260 sản phẩm được bán trên các sàn thương mại điện tử như Shopee, Voso, Postmart... và xây dựng được 20 điểm giới thiệu, bán sản phẩm OCOP.

Đến tháng 4/2025, toàn tỉnh Quảng Ngãi đã có tổng cộng 271 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó có 16 sản phẩm đạt 4 sao, 253 sản phẩm đạt 3 sao và 2 sản phẩm đang được đánh giá là tiềm năng đạt 5 sao. Chương trình đã được triển khai đồng bộ tại cả 13 huyện, thị xã và thành phố trên địa bàn tỉnh, với sự tham gia của 160 chủ thể, bao gồm 23 doanh nghiệp, 42 hợp tác xã và 95 cơ sở, hộ sản xuất kinh doanh.

Đặc biệt, đến nay tín dụng chính sách xã hội đã hỗ trợ hình thành và duy trì các chuỗi giá trị bền vững từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm OCOP, góp phần xây dựng và phát triển thương hiệu OCOP ở Quảng Ngãi, tạo dấu ấn trên thị trường. Thông qua chương trình OCOP và nguồn hỗ trợ từ tín dụng chính sách, các sản phẩm đã có nhiều thay đổi về chất lượng, bao bì nhãn mác, bộ nhận diện thương hiệu, quy mô sản xuất; thị trường tiêu thụ cũng được mở rộng, từ chỉ bán trong huyện, xã, cho thương lái, nay đã đưa vào các đại lý ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Giai đoạn 2020 - 2024, các khoản vay chủ yếu gắn với chương trình cho vay giải quyết việc làm cho người lao động, quy mô vốn vay nhỏ, không có tài sản bảo đảm, 100% từ nguồn vốn ngân sách địa phương.

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình OCOP, UBND tỉnh Quảng Ngãi khẳng định: Chương trình OCOP đã góp phần chuyển đổi nền sản xuất nông nghiệp, nông thôn theo hướng chuẩn hóa, hiện đại, hiệu quả và bền vững hơn; thúc đẩy mạnh mẽ liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với tiêu thụ; tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất, chế biến, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp, nông thôn. Công tác tổ chức thực hiện chương trình ở các cấp, các ngành đã được định hình cơ bản về nhận thức, giải pháp và phương thức thực hiện.

Chương trình OCOP đã được triển khai đồng bộ, rộng khắp, huy động sự vào cuộc của các cấp, các ngành, trở thành một giải pháp ưu tiên trong phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Chương trình đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế nông thôn, góp phần chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sang sản xuất theo chuỗi giá trị, có tiêu chuẩn, quy chuẩn, truy xuất nguồn gốc và theo nhu cầu thị trường; khơi dậy tiềm năng đất đai, sản vật, lợi thế so sánh, đặc biệt là các giá trị văn hóa vùng miền để hình thành các sản phẩm OCOP tích hợp “đa giá trị”, gắn kết phát triển nông nghiệp với dịch vụ, du lịch.

Nguồn vốn thực hiện Chương trình OCOP bao gồm: Vốn ngân sách Trung ương; vốn ngân sách địa phương; vốn tín dụng (gồm vốn tín dụng ưu đãi từ NHCSXH, vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác, các quỹ đầu tư, quỹ phát triển doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã...); vốn tự huy động của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất; vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác; vốn huy động hợp pháp khác. Một trong những lực đẩy quan trọng góp phần giúp chương trình OCOP tại Quảng Ngãi đạt được những thành tựu nêu trên chính là sự đồng hành của NHCSXH. Theo đại diện NHCSXH chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi, nguồn vốn tín dụng ưu đãi đã giúp các chủ thể OCOP đầu tư sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, từ đó nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh.

Vốn vay ưu đãi từ tín dụng chính sách là “chìa khóa” để các chủ thể OCOP mở rộng sản xuất, nâng cấp công nghệ và cơ sở vật chất. Nhờ nguồn lực này, nhiều sản phẩm OCOP đã được nâng hạng lên 3 - 5 sao, gia tăng giá trị thương hiệu và chinh phục thị trường rộng lớn hơn.

Thực tế, từ sự hỗ trợ kịp thời của NHCSXH, nhiều mô hình sản xuất OCOP đã phát triển vững chắc, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân. Tiêu biểu như gia đình bà Phạm Hồng Thắm tại xã Phổ Thạnh, thị xã Đức Phổ, nơi có nghề làm muối truyền thống Sa Huỳnh. Với khoản vay 100 triệu đồng từ chương trình giải quyết việc làm, bà Phạm Hồng Thắm đầu tư chế biến các dòng sản phẩm muối cao cấp như muối tre, hoa muối… và đạt chứng nhận OCOP 4 sao. Đến nay, thương hiệu muối sạch của gia đình bà đã có mặt tại hơn 30 đại lý trên toàn quốc, góp phần gìn giữ nghề muối truyền thống, đồng thời mang lại thu nhập ổn định cho nhiều lao động địa phương.

Tại huyện Nghĩa Hành, địa phương đang nỗ lực giữ vững danh hiệu huyện nông thôn mới và phấn đấu đạt chuẩn xã nông thôn mới nâng cao, chương trình OCOP được xác định là một trong những giải pháp trọng tâm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp. Ông Đỗ Văn Kha, Giám đốc Phòng giao dịch NHCSXH huyện Nghĩa Hành cho biết, thời gian qua, đơn vị đã tập trung giải ngân vốn kịp thời cho các hộ sản xuất nông nghiệp tiêu biểu, các chủ thể OCOP có tiềm năng nâng hạng sản phẩm. Tín dụng chính sách không chỉ giúp người dân có vốn phát triển sản xuất mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo việc làm bền vững tại địa phương. Qua đó, giúp các sản phẩm OCOP của huyện ngày càng khẳng định được chỗ đứng trên thị trường và hướng tới xuất khẩu.

2. Một số khó khăn, hạn chế

Theo các chuyên gia, hiệu quả tín dụng gắn với OCOP còn phụ thuộc nhiều vào khả năng tiêu thụ sản phẩm. Nếu sản phẩm không đáp ứng được thị hiếu thị trường, không có đầu ra ổn định, việc hoàn trả vốn sẽ gặp khó khăn, dẫn tới rủi ro tín dụng. Vì vậy, việc phối hợp chặt chẽ giữa NHCSXH, chính quyền địa phương và các tổ chức hội, đoàn thể trong hỗ trợ kỹ thuật, tuyên truyền và giám sát quá trình sử dụng vốn là rất cần thiết.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua NHCSXH vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn ngày càng tăng của các chủ thể OCOP. Đặc biệt, NHCSXH và cơ quan quản lý Chương trình OCOP chưa xây dựng được cơ chế phối hợp chặt chẽ và hiệu quả trong triển khai tín dụng chính sách hỗ trợ các chủ thể OCOP.

Trong khi đó, đối với NHCSXH, việc nhiều chủ thể OCOP chưa tiếp cận được nguồn vốn chính thức cũng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ phát triển tín dụng gắn với chương trình này. Điều đó phản ánh sự quan tâm của ngân hàng và chính quyền địa phương trong việc tập trung nguồn lực phát triển Chương trình OCOP.

Các ngân hàng thương mại thường áp dụng chính sách hạn chế cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp do lo ngại rủi ro và nợ xấu cao, vì vậy, rủi ro đối với các chủ thể OCOP cũng được đánh giá khá lớn. Khi thiếu lịch sử tín dụng vững chắc và khả năng thanh toán chưa bảo đảm, các chủ thể OCOP thường bị xếp vào nhóm rủi ro cao, dẫn tới việc tiếp cận vốn gặp nhiều hạn chế. Điều này tạo nên một vòng luẩn quẩn: thiếu vốn khiến năng lực sản xuất yếu, khả năng gia tăng thu nhập hạn chế, khó trả nợ; từ đó bị đánh giá rủi ro cao, và kết quả là không thể tiếp cận nguồn tín dụng để giải quyết bài toán thiếu vốn.

Bên cạnh đó, các chủ thể OCOP còn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận tài chính như thiếu tài sản bảo đảm, thiếu thông tin. Mặc dù Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách tín dụng ưu đãi, nhưng các chủ thể OCOP thường gặp khó khăn trong đáp ứng các tiêu chí về tài sản thế chấp và năng lực quản trị tài chính. Với quy mô nhỏ, vốn tự có hạn chế, nhiều chủ thể OCOP không có đủ tài sản để thế chấp, khiến việc vay vốn với lãi suất thấp, thời gian trả nợ dài trở nên khó khăn. Điều này không chỉ hạn chế khả năng đầu tư mở rộng sản xuất mà còn cản trở việc nâng cao chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh trên thị trường.

Về phía chính quyền địa phương, các cán bộ phụ trách Chương trình OCOP chủ yếu kiêm nhiệm, dẫn đến thiếu thời gian và chuyên môn trong việc triển khai hiệu quả chương trình, làm giảm chất lượng quản lý và giám sát…

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Để tiếp tục phát huy hiệu quả chương trình tín dụng chính sách gắn với Chương trình OCOP, tác giả đề xuất một số giải pháp và kiến nghị như sau:

Về phía NHCSXH chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi: Tăng cường nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua NHCSXH dành riêng cho các chủ thể OCOP - yếu tố then chốt để mở rộng đối tượng vay vốn, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển sản xuất. Tích cực tuyên truyền về chương trình tín dụng chính sách đến các chủ thể OCOP, trong đó nhấn mạnh vai trò hỗ trợ gián tiếp từ các chương trình cho vay như hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm; cho vay sản xuất kinh doanh vùng khó khăn… nhằm giúp các chủ thể OCOP có thêm nguồn lực phát triển bền vững. Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ để bảo đảm các khoản vay được sử dụng đúng mục đích và mang lại hiệu quả kinh tế. Việc kiểm tra, giám sát không chỉ giúp tăng khả năng tiếp cận tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh, tổ hợp tác sản xuất - những đơn vị thường gặp khó khăn khi tiếp cận tín dụng ngân hàng thương mại, mà còn nâng cao tinh thần trách nhiệm trong việc hoàn trả vốn, nâng cao chất lượng tín dụng và khả năng duy trì các chương trình hỗ trợ tương tự trong tương lai.

Về phía các chủ thể OCOP: Nâng cao năng lực quản lý, kỹ năng sản xuất - kinh doanh, chủ động xây dựng phương án kinh doanh phù hợp với nhu cầu thị trường. Đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị, áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, GMP, ISO… nhằm nâng cao chất lượng, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và mở rộng kênh tiêu thụ. Đặc biệt, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và đẩy mạnh xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ sản phẩm vẫn là yếu tố sống còn. Cần đầu tư bài bản vào bao bì, nhãn mác, quảng bá hình ảnh sản phẩm gắn với biểu trưng OCOP, nhằm khẳng định vị thế sản phẩm địa phương trên thị trường trong nước và quốc tế.

Về phía chính quyền địa phương: Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng và chủ thể OCOP về tín dụng chính sách; tạo điều kiện để các chủ thể tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của NHCSXH để đầu tư phát triển sản phẩm. Tổ chức các chương trình hướng dẫn, hỗ trợ chủ thể OCOP xây dựng phương án kinh doanh, nâng cao kỹ năng quản trị tài chính. Các nghiên cứu cho thấy, năng lực quản trị, kỹ năng sử dụng và quản lý vốn của các chủ thể OCOP còn hạn chế. Việc tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quản trị tài chính, lập kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý sản xuất - kinh doanh sẽ giúp các doanh nghiệp OCOP cải thiện năng lực nội bộ. Điều này không chỉ giúp tăng khả năng tiếp cận tín dụng mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy đầu tư mở rộng sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm….

Tài liệu tham khảo:

1. Anang, BT, Bäckman, S., & Sipiläinen, T. (2016). Tín dụng vi mô nông nghiệp và hiệu quả kỹ thuật. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ở vùng Nhiệt đới và Cận nhiệt đới.

2. Anh, N. T. P. (2024). Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến ý định mua sản phẩm OCOP của người tiêu dùng Hà Nội. Tạp chí Nghiên cứu Chính sách và Phát triển, 1(1), trang 72-86.

3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2021). Báo cáo thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018 - 2020 tại Hội nghị tổng kết Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018-2020, ngày 23/3/2021.

4. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi (2022). Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) giai đoạn 2019 - 2021, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

5. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi (2023). Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) năm 2022, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện năm 2023 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

6. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi (2024). Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) năm 2023, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện năm 2024 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

7. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi (2025). Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) năm 2024, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện năm 2025 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

Trần Duy Cường
Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi

Tin bài khác

Chuyển đổi tư duy bảo vệ dữ liệu cá nhân: Xây văn hóa, củng cố niềm tin trong hoạt động ngân hàng

Chuyển đổi tư duy bảo vệ dữ liệu cá nhân: Xây văn hóa, củng cố niềm tin trong hoạt động ngân hàng

Sự hoàn thiện không ngừng của các quy định pháp lý đang giúp hệ thống ngân hàng định hình rõ nét chiến lược bảo vệ dữ liệu cá nhân, song cũng đặt ra không ít thách thức về quản lý sự thay đổi và nguồn lực triển khai. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) nhìn nhận đây là hành trình hoàn thiện công tác quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động ngân hàng. Hành trình này không chỉ dừng lại ở thay đổi các quy trình nghiệp vụ, mà sâu xa hơn, đây là quá trình nâng cao giá trị thương hiệu, mở ra cánh cửa để ngân hàng sẵn sàng trao đổi và chia sẻ dữ liệu trong hệ sinh thái mở.
Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam

Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam

Từ hào khí bất diệt của ngày 30/4 lịch sử đến nhịp sống sôi động của công cuộc kiến thiết đất nước hôm nay, ngành Ngân hàng đang tiếp nối tinh thần bất khuất và khát vọng vươn mình của dân tộc Việt Nam bằng những bước chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định vai trò trụ cột tài chính và động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trong kỷ nguyên mới.
Nhận thức về ngân hàng xanh và hành vi lựa chọn ngân hàng thân thiện môi trường tại Việt Nam

Nhận thức về ngân hàng xanh và hành vi lựa chọn ngân hàng thân thiện môi trường tại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của nhận thức ngân hàng xanh đến thái độ và hành vi lựa chọn của khách hàng Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò điều tiết của niềm tin môi trường trong việc thúc đẩy hành vi tài chính bền vững.
Đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng: Tổng quan các phương pháp và hướng tiếp cận mới nổi

Đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng: Tổng quan các phương pháp và hướng tiếp cận mới nổi

Bài viết tổng quan các phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại, đồng thời cập nhật các xu hướng nghiên cứu mới như mô hình mạng lưới, phân tích đa giai đoạn và tích hợp tiêu chí môi trường, xã hội, quản trị (ESG) nhằm nâng cao chất lượng đánh giá và hàm ý chính sách.
Giải ngân cho vay nhà ở xã hội đang dần khởi sắc

Giải ngân cho vay nhà ở xã hội đang dần khởi sắc

Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, cùng những giải pháp đồng bộ nhằm tăng nguồn cung nhà ở xã hội từ phía các bộ, ngành, sự tham gia tích cực của các ngân hàng thương mại, doanh số giải ngân Chương trình cho vay nhà ở xã hội theo Nghị quyết 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững đã có những chuyển biến tích cực.
VietCredit ra mắt Napas Tap & Pay cho thẻ tín dụng - Tiên phong mở rộng trải nghiệm thanh toán không chạm tại Việt Nam

VietCredit ra mắt Napas Tap & Pay cho thẻ tín dụng - Tiên phong mở rộng trải nghiệm thanh toán không chạm tại Việt Nam

VietCredit chính thức ra mắt tính năng Napas Tap & Pay, cho phép khách hàng thanh toán trực tiếp bằng điện thoại thông qua thẻ tín dụng VietCredit đã được số hóa trên ứng dụng. Đây không chỉ là một tính năng mới, mà còn là bước tiến trong hành trình đưa trải nghiệm tài chính số trở nên liền mạch, đơn giản và phù hợp hơn với thói quen tiêu dùng hiện đại.
Sự phát triển của hoạt động thống kê tại ngân hàng trung ương và hàm ý chính sách

Sự phát triển của hoạt động thống kê tại ngân hàng trung ương và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích sự chuyển đổi sâu sắc của hoạt động thống kê tại ngân hàng trung ương (NHTW) trong kỷ nguyên dữ liệu, qua đó đề xuất các định hướng nhằm nâng cao năng lực thống kê phục vụ hiệu quả hoạch định chính sách.
Mối liên kết giữa hệ thống ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng: Xu hướng, rủi ro, cơ chế lan truyền và quản lý, giám sát

Mối liên kết giữa hệ thống ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng: Xu hướng, rủi ro, cơ chế lan truyền và quản lý, giám sát

Bài viết phân tích sự phát triển của khu vực tổ chức tài chính phi ngân hàng (NBFI) trong bối cảnh siết chặt các tiêu chuẩn mực quản lý và giám sát của hệ thống ngân hàng truyền thống (Basel II, Basel III), làm rõ các kênh liên kết hai chiều với hệ thống ngân hàng và cảnh báo rủi ro hệ thống từ các cú sốc thanh khoản, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng khuôn khổ giám sát vĩ mô thận trọng vượt ra ngoài phạm vi ngân hàng truyền thống nhằm bảo đảm ổn định tài chính.
Xem thêm
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành