Tiếp tục phát huy hiệu quả tín dụng chính sách gắn với Chương trình OCOP tại tỉnh Quảng Ngãi

Hoạt động ngân hàng
Tương tự nhiều địa phương khác trong cả nước, tại tỉnh Quảng Ngãi, Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã được triển khai đồng bộ, rộng khắp, huy động sự vào cuộc của các cấp, các ngành trở thành một giải pháp ưu tiên trong phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới.
aa

Tóm tắt: Chương trình OCOP tại tỉnh Quảng Ngãi thời gian qua đã góp phần tích cực vào chuyển dịch kinh tế nông thôn theo hướng chuẩn hóa sản phẩm và liên kết chuỗi giá trị. Trong đó, nguồn lực tài chính, đặc biệt là tín dụng chính sách từ Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đóng vai trò then chốt. Bài viết phân tích tác động của vốn vay ưu đãi đối với các chủ thể OCOP, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng quy mô sản xuất và tiếp cận thị trường. Qua các minh chứng thực tiễn và số liệu cụ thể, bài viết làm rõ hiệu quả của tín dụng chính sách, đồng thời chỉ ra những rào cản trong tiếp cận vốn. Bên cạnh đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường phối hợp, nâng cao năng lực quản trị tài chính và hiệu quả sử dụng vốn, hướng tới phát triển bền vững các sản phẩm OCOP tại tỉnh Quảng Ngãi.

Từ khóa: Chương trình OCOP, tín dụng chính sách, phát triển nông thôn, Quảng Ngãi, tiếp cận tài chính.

POLICY CREDIT SUPPORTING THE EXPANSION OF OCOP PRODUCTS
IN QUANG NGAI PROVINCE

Abstract: The “One Commune One Product” (OCOP) program in Quang Ngai province has significantly contributed to rural economic transformation through product standardization and value chain integration. A key factor behind its success is the financial support from policy credit sources, especially from the Vietnam Bank for Social Policies. This article analyzes how preferential loans have enabled OCOP entities to improve product quality, expand production, and enhance market access. Through typical examples and statistical data, the study highlights the positive impact of policy credit on OCOP development and identifies barriers to credit accessibility. Additionally, recommendations are proposed to strengthen coordination among stakeholders, improve financial management capacity and the effectiveness of credit, support to ensure sustainable development of OCOP products in Quang Ngai.

Keywords: OCOP program, policy credit, rural development, Quang Ngai, financial access.

Tiếp tục phát huy hiệu quả tín dụng chính sách gắn với Chương trình OCOP tại tỉnh Quảng Ngãi
Tín dụng chính sách đã và đang tiếp sức cho các sản phẩm OCOP ở Quảng Ngãi

1. Lan tỏa thương hiệu OCOP từ vốn chính sách

OCOP là chương trình phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng phát huy nội lực (trí tuệ, sự sáng tạo, lao động, nguyên liệu và văn hóa địa phương...) và gia tăng giá trị, nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới. Chương trình OCOP được nhiều nước trên thế giới triển khai với các tên gọi khác nhau, nhưng đều có điểm chung là phát huy nội lực của các địa phương gắn với đơn vị làng, xã để tập trung phát triển các sản phẩm ngành nghề nông thôn có giá trị gia tăng cao và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong cơ chế thị trường.

Trọng tâm Chương trình OCOP ở Việt Nam là phát triển sản nhiều công nghiệp, phi nông nghiệp và dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị, gắn với các chủ thể. Các chủ thể tham gia Chương trình OCOP bao gồm các thành phần kinh tế tập thể (hợp tác xã, tổ hợp tác) và kinh tế tư nhân (doanh nghiệp, hộ sản xuất). Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, ban hành khung pháp lý và chính sách để thực hiện định hướng phát triển trục sản phẩm đặc sản địa phương, các vùng sản xuất hàng hóa, dịch vụ; quản lý và giám sát tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm; hỗ trợ đào tạo, tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ, hỗ trợ tín dụng, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm.

Trong những năm qua, các cơ sở tham gia Chương trình OCOP tại tỉnh Quảng Ngãi đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng sản phẩm lẫn chất lượng, góp phần tạo nên sự chuyển mình mạnh mẽ của kinh tế nông thôn. Các sản phẩm đặc trưng mang đậm bản sắc địa phương như: Nước mắm Mười Quý, hành tỏi Lý Sơn, quế Trà Bồng… không chỉ tạo dựng được thương hiệu mà còn dần mở rộng thị trường tiêu thụ, vươn xa ra ngoài tỉnh, thậm chí xuất khẩu.

Với nhiều nỗ lực, đến nay số lượng sản phẩm OCOP tỉnh Quảng Ngãi có sự tăng trưởng mạnh trong giai đoạn 2019 - 2024. Giai đoạn 2019 - 2021, toàn tỉnh có 61 sản phẩm được chứng nhận OCOP, trong đó có 4 sản phẩm đạt 4 sao; năm 2022 tăng thêm 65 sản phẩm (tăng 6,56%), trong đó sản phẩm OCOP 4 sao tăng 25%. Năm 2023 số lượng sản phẩm mới đạt OCOP là 100 sản phẩm, trong đó có 10 sản phẩm 4 sao, tốc độ tăng trưởng đạt tới 53,85%. Sang năm 2024, số lượng sản phẩm OCOP được đánh giá đạt thêm 99 sản phẩm, giảm 1% so với năm trước nhưng vượt 141,42% kế hoạch đề ra.

Lũy kế từ khi triển khai Chương trình OCOP, toàn tỉnh Quảng Ngãi có 325 sản phẩm đạt chuẩn OCOP, trong đó có 65 sản phẩm không tiếp tục duy trì đánh giá, phân hạng do không tiếp cận được thị trường và phát huy hiệu quả kinh doanh. Đến hết năm 2024, toàn tỉnh còn lại 260 sản phẩm OCOP, gồm 2 sản phẩm tiềm năng 5 sao; 16 sản phẩm 4 sao và 242 sản phẩm 3 sao; có 173/260 sản phẩm được bán trên các sàn thương mại điện tử như Shopee, Voso, Postmart... và xây dựng được 20 điểm giới thiệu, bán sản phẩm OCOP.

Đến tháng 4/2025, toàn tỉnh Quảng Ngãi đã có tổng cộng 271 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó có 16 sản phẩm đạt 4 sao, 253 sản phẩm đạt 3 sao và 2 sản phẩm đang được đánh giá là tiềm năng đạt 5 sao. Chương trình đã được triển khai đồng bộ tại cả 13 huyện, thị xã và thành phố trên địa bàn tỉnh, với sự tham gia của 160 chủ thể, bao gồm 23 doanh nghiệp, 42 hợp tác xã và 95 cơ sở, hộ sản xuất kinh doanh.

Đặc biệt, đến nay tín dụng chính sách xã hội đã hỗ trợ hình thành và duy trì các chuỗi giá trị bền vững từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm OCOP, góp phần xây dựng và phát triển thương hiệu OCOP ở Quảng Ngãi, tạo dấu ấn trên thị trường. Thông qua chương trình OCOP và nguồn hỗ trợ từ tín dụng chính sách, các sản phẩm đã có nhiều thay đổi về chất lượng, bao bì nhãn mác, bộ nhận diện thương hiệu, quy mô sản xuất; thị trường tiêu thụ cũng được mở rộng, từ chỉ bán trong huyện, xã, cho thương lái, nay đã đưa vào các đại lý ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Giai đoạn 2020 - 2024, các khoản vay chủ yếu gắn với chương trình cho vay giải quyết việc làm cho người lao động, quy mô vốn vay nhỏ, không có tài sản bảo đảm, 100% từ nguồn vốn ngân sách địa phương.

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình OCOP, UBND tỉnh Quảng Ngãi khẳng định: Chương trình OCOP đã góp phần chuyển đổi nền sản xuất nông nghiệp, nông thôn theo hướng chuẩn hóa, hiện đại, hiệu quả và bền vững hơn; thúc đẩy mạnh mẽ liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với tiêu thụ; tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất, chế biến, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp, nông thôn. Công tác tổ chức thực hiện chương trình ở các cấp, các ngành đã được định hình cơ bản về nhận thức, giải pháp và phương thức thực hiện.

Chương trình OCOP đã được triển khai đồng bộ, rộng khắp, huy động sự vào cuộc của các cấp, các ngành, trở thành một giải pháp ưu tiên trong phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Chương trình đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế nông thôn, góp phần chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sang sản xuất theo chuỗi giá trị, có tiêu chuẩn, quy chuẩn, truy xuất nguồn gốc và theo nhu cầu thị trường; khơi dậy tiềm năng đất đai, sản vật, lợi thế so sánh, đặc biệt là các giá trị văn hóa vùng miền để hình thành các sản phẩm OCOP tích hợp “đa giá trị”, gắn kết phát triển nông nghiệp với dịch vụ, du lịch.

Nguồn vốn thực hiện Chương trình OCOP bao gồm: Vốn ngân sách Trung ương; vốn ngân sách địa phương; vốn tín dụng (gồm vốn tín dụng ưu đãi từ NHCSXH, vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác, các quỹ đầu tư, quỹ phát triển doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã...); vốn tự huy động của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất; vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác; vốn huy động hợp pháp khác. Một trong những lực đẩy quan trọng góp phần giúp chương trình OCOP tại Quảng Ngãi đạt được những thành tựu nêu trên chính là sự đồng hành của NHCSXH. Theo đại diện NHCSXH chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi, nguồn vốn tín dụng ưu đãi đã giúp các chủ thể OCOP đầu tư sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, từ đó nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh.

Vốn vay ưu đãi từ tín dụng chính sách là “chìa khóa” để các chủ thể OCOP mở rộng sản xuất, nâng cấp công nghệ và cơ sở vật chất. Nhờ nguồn lực này, nhiều sản phẩm OCOP đã được nâng hạng lên 3 - 5 sao, gia tăng giá trị thương hiệu và chinh phục thị trường rộng lớn hơn.

Thực tế, từ sự hỗ trợ kịp thời của NHCSXH, nhiều mô hình sản xuất OCOP đã phát triển vững chắc, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân. Tiêu biểu như gia đình bà Phạm Hồng Thắm tại xã Phổ Thạnh, thị xã Đức Phổ, nơi có nghề làm muối truyền thống Sa Huỳnh. Với khoản vay 100 triệu đồng từ chương trình giải quyết việc làm, bà Phạm Hồng Thắm đầu tư chế biến các dòng sản phẩm muối cao cấp như muối tre, hoa muối… và đạt chứng nhận OCOP 4 sao. Đến nay, thương hiệu muối sạch của gia đình bà đã có mặt tại hơn 30 đại lý trên toàn quốc, góp phần gìn giữ nghề muối truyền thống, đồng thời mang lại thu nhập ổn định cho nhiều lao động địa phương.

Tại huyện Nghĩa Hành, địa phương đang nỗ lực giữ vững danh hiệu huyện nông thôn mới và phấn đấu đạt chuẩn xã nông thôn mới nâng cao, chương trình OCOP được xác định là một trong những giải pháp trọng tâm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp. Ông Đỗ Văn Kha, Giám đốc Phòng giao dịch NHCSXH huyện Nghĩa Hành cho biết, thời gian qua, đơn vị đã tập trung giải ngân vốn kịp thời cho các hộ sản xuất nông nghiệp tiêu biểu, các chủ thể OCOP có tiềm năng nâng hạng sản phẩm. Tín dụng chính sách không chỉ giúp người dân có vốn phát triển sản xuất mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo việc làm bền vững tại địa phương. Qua đó, giúp các sản phẩm OCOP của huyện ngày càng khẳng định được chỗ đứng trên thị trường và hướng tới xuất khẩu.

2. Một số khó khăn, hạn chế

Theo các chuyên gia, hiệu quả tín dụng gắn với OCOP còn phụ thuộc nhiều vào khả năng tiêu thụ sản phẩm. Nếu sản phẩm không đáp ứng được thị hiếu thị trường, không có đầu ra ổn định, việc hoàn trả vốn sẽ gặp khó khăn, dẫn tới rủi ro tín dụng. Vì vậy, việc phối hợp chặt chẽ giữa NHCSXH, chính quyền địa phương và các tổ chức hội, đoàn thể trong hỗ trợ kỹ thuật, tuyên truyền và giám sát quá trình sử dụng vốn là rất cần thiết.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua NHCSXH vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn ngày càng tăng của các chủ thể OCOP. Đặc biệt, NHCSXH và cơ quan quản lý Chương trình OCOP chưa xây dựng được cơ chế phối hợp chặt chẽ và hiệu quả trong triển khai tín dụng chính sách hỗ trợ các chủ thể OCOP.

Trong khi đó, đối với NHCSXH, việc nhiều chủ thể OCOP chưa tiếp cận được nguồn vốn chính thức cũng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ phát triển tín dụng gắn với chương trình này. Điều đó phản ánh sự quan tâm của ngân hàng và chính quyền địa phương trong việc tập trung nguồn lực phát triển Chương trình OCOP.

Các ngân hàng thương mại thường áp dụng chính sách hạn chế cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp do lo ngại rủi ro và nợ xấu cao, vì vậy, rủi ro đối với các chủ thể OCOP cũng được đánh giá khá lớn. Khi thiếu lịch sử tín dụng vững chắc và khả năng thanh toán chưa bảo đảm, các chủ thể OCOP thường bị xếp vào nhóm rủi ro cao, dẫn tới việc tiếp cận vốn gặp nhiều hạn chế. Điều này tạo nên một vòng luẩn quẩn: thiếu vốn khiến năng lực sản xuất yếu, khả năng gia tăng thu nhập hạn chế, khó trả nợ; từ đó bị đánh giá rủi ro cao, và kết quả là không thể tiếp cận nguồn tín dụng để giải quyết bài toán thiếu vốn.

Bên cạnh đó, các chủ thể OCOP còn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận tài chính như thiếu tài sản bảo đảm, thiếu thông tin. Mặc dù Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách tín dụng ưu đãi, nhưng các chủ thể OCOP thường gặp khó khăn trong đáp ứng các tiêu chí về tài sản thế chấp và năng lực quản trị tài chính. Với quy mô nhỏ, vốn tự có hạn chế, nhiều chủ thể OCOP không có đủ tài sản để thế chấp, khiến việc vay vốn với lãi suất thấp, thời gian trả nợ dài trở nên khó khăn. Điều này không chỉ hạn chế khả năng đầu tư mở rộng sản xuất mà còn cản trở việc nâng cao chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh trên thị trường.

Về phía chính quyền địa phương, các cán bộ phụ trách Chương trình OCOP chủ yếu kiêm nhiệm, dẫn đến thiếu thời gian và chuyên môn trong việc triển khai hiệu quả chương trình, làm giảm chất lượng quản lý và giám sát…

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Để tiếp tục phát huy hiệu quả chương trình tín dụng chính sách gắn với Chương trình OCOP, tác giả đề xuất một số giải pháp và kiến nghị như sau:

Về phía NHCSXH chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi: Tăng cường nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua NHCSXH dành riêng cho các chủ thể OCOP - yếu tố then chốt để mở rộng đối tượng vay vốn, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển sản xuất. Tích cực tuyên truyền về chương trình tín dụng chính sách đến các chủ thể OCOP, trong đó nhấn mạnh vai trò hỗ trợ gián tiếp từ các chương trình cho vay như hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm; cho vay sản xuất kinh doanh vùng khó khăn… nhằm giúp các chủ thể OCOP có thêm nguồn lực phát triển bền vững. Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ để bảo đảm các khoản vay được sử dụng đúng mục đích và mang lại hiệu quả kinh tế. Việc kiểm tra, giám sát không chỉ giúp tăng khả năng tiếp cận tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh, tổ hợp tác sản xuất - những đơn vị thường gặp khó khăn khi tiếp cận tín dụng ngân hàng thương mại, mà còn nâng cao tinh thần trách nhiệm trong việc hoàn trả vốn, nâng cao chất lượng tín dụng và khả năng duy trì các chương trình hỗ trợ tương tự trong tương lai.

Về phía các chủ thể OCOP: Nâng cao năng lực quản lý, kỹ năng sản xuất - kinh doanh, chủ động xây dựng phương án kinh doanh phù hợp với nhu cầu thị trường. Đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị, áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, GMP, ISO… nhằm nâng cao chất lượng, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và mở rộng kênh tiêu thụ. Đặc biệt, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và đẩy mạnh xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ sản phẩm vẫn là yếu tố sống còn. Cần đầu tư bài bản vào bao bì, nhãn mác, quảng bá hình ảnh sản phẩm gắn với biểu trưng OCOP, nhằm khẳng định vị thế sản phẩm địa phương trên thị trường trong nước và quốc tế.

Về phía chính quyền địa phương: Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng và chủ thể OCOP về tín dụng chính sách; tạo điều kiện để các chủ thể tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của NHCSXH để đầu tư phát triển sản phẩm. Tổ chức các chương trình hướng dẫn, hỗ trợ chủ thể OCOP xây dựng phương án kinh doanh, nâng cao kỹ năng quản trị tài chính. Các nghiên cứu cho thấy, năng lực quản trị, kỹ năng sử dụng và quản lý vốn của các chủ thể OCOP còn hạn chế. Việc tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quản trị tài chính, lập kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý sản xuất - kinh doanh sẽ giúp các doanh nghiệp OCOP cải thiện năng lực nội bộ. Điều này không chỉ giúp tăng khả năng tiếp cận tín dụng mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy đầu tư mở rộng sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm….

Tài liệu tham khảo:

1. Anang, BT, Bäckman, S., & Sipiläinen, T. (2016). Tín dụng vi mô nông nghiệp và hiệu quả kỹ thuật. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ở vùng Nhiệt đới và Cận nhiệt đới.

2. Anh, N. T. P. (2024). Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến ý định mua sản phẩm OCOP của người tiêu dùng Hà Nội. Tạp chí Nghiên cứu Chính sách và Phát triển, 1(1), trang 72-86.

3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2021). Báo cáo thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018 - 2020 tại Hội nghị tổng kết Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018-2020, ngày 23/3/2021.

4. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi (2022). Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) giai đoạn 2019 - 2021, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

5. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi (2023). Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) năm 2022, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện năm 2023 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

6. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi (2024). Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) năm 2023, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện năm 2024 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

7. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi (2025). Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) năm 2024, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện năm 2025 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

Trần Duy Cường
Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi

Tin bài khác

Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Nghiên cứu này làm rõ tác động của tiền gửi khách hàng và nguồn vốn phi tiền gửi đến khả năng sinh lời của ngân hàng, đồng thời chỉ ra vai trò điều tiết quan trọng của vốn chủ sở hữu trong mối quan hệ này. Kết quả thực nghiệm cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc tối ưu hóa cấu trúc nguồn vốn và định hướng chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Bài viết phân tích vai trò của tín dụng xanh trong bối cảnh các quốc gia ASEAN đối mặt với thách thức biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, qua đó làm rõ tác động tích cực của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần, đồng thời xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong mối quan hệ này.
Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý: Các ngân hàng cần định hình và vận dụng khẩu vị rủi ro như một chiếc la bàn xuyên suốt quá trình quản trị; đồng thời, cần chủ động trích lập dự phòng dựa trên các dự báo và kịch bản kinh tế vĩ mô, tăng cường giám sát sớm để phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu một cách dứt khoát nhằm tránh hiệu ứng tích tụ rủi ro.
Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng trong bối cảnh ngân hàng số Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm mới cho bối cảnh Việt Nam, đồng thời củng cố các lý thuyết trước đó về niềm tin trong môi trường ngân hàng số.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh và định vị của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong giai đoạn tới. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, tác giả đề xuất khung sản phẩm, dịch vụ tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam dựa trên bốn yếu tố tích hợp về thể chế, hạ tầng, nhân lực và hợp tác quốc tế.
Áp lực công việc và sự hài lòng, trung thành với tổ chức của nhân viên ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Áp lực công việc và sự hài lòng, trung thành với tổ chức của nhân viên ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Bài viết nhằm làm rõ các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi của nhân viên, qua đó đề xuất các giải pháp thiết thực giúp ngân hàng tăng cường sự gắn bó, ổn định nguồn lực nhân sự và nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh mới.
Tác động của chính sách tín dụng xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của chính sách tín dụng xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Thực tiễn triển khai tín dụng xanh tại Việt Nam cho thấy hiệu ứng tích cực về mặt xã hội và kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo và sản xuất sạch hơn.
Tác động của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tỉnh Bắc Ninh

Tác động của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tỉnh Bắc Ninh

Chương trình tín dụng vi mô là một bộ phận quan trọng của thị trường tín dụng chính thức ở khu vực nông thôn Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng. Việc tham gia các chương trình này mang lại cho phụ nữ nhiều cơ hội việc làm, tăng sự tự tin, nâng cao kỹ năng giao tiếp, khả năng quản lý tài chính cá nhân, tiếp cận tri thức và mở rộng cơ hội lựa chọn trong đời sống. Nhờ đó, họ có điều kiện khẳng định vai trò và quyền ra quyết định của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Xem thêm
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Luật Thương mại điện tử năm 2025 ra đời trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ đã tạo ra những thay đổi quan trọng đối với hệ sinh thái thương mại điện tử, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm phát huy vai trò của hệ thống tài chính - ngân hàng và bảo đảm an toàn, ổn định cho nền kinh tế số Việt Nam.
Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Ngày 01/01/2026, Văn phòng Quốc hội công bố 10 sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc ban hành các văn bản pháp luật đã phần nào đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (viết tắt là cơ chế thử nghiệm), đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, để cơ chế thử nghiệm thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý tổng thể, thiết lập quy trình minh bạch, cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.
Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Bài viết phân tích thực trạng, nguyên nhân và khẳng định sự cần thiết đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng áp dụng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicators - KPI), đồng thời đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với khu vực công.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bài viết làm rõ triển vọng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đồng thời chỉ ra những điều kiện then chốt để mô hình này phát triển hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế  và khuyến nghị đối với Việt Nam

Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh xét theo cả quy mô giao dịch và mức độ phổ cập trong đời sống tài chính, yêu cầu hoàn thiện khung phòng, chống rửa tiền trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, bởi các chỉ dấu khách quan cho thấy Việt Nam vừa nằm trong nhóm quốc gia có giá trị giao dịch trên chuỗi rất lớn.
Pháp luật Liên minh châu Âu  về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Pháp luật Liên minh châu Âu về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Dữ liệu cá nhân giữ vai trò nền tảng trong thương mại điện tử, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động tương tác và kinh doanh trên môi trường số. Bài viết phân tích quy định của EU (đặc biệt là GDPR 2016), đánh giá tác động thực thi, so sánh với pháp luật Việt Nam để chỉ ra bất cập và đề xuất hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng