Nâng cao năng lực tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam để tham gia có hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng

Hoạt động ngân hàng
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) có vai trò quan trọng, đã và đang tham gia tích cực vào quá trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng (TCTD) tại Việt Nam trong nhiều năm qua.
aa

Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) có vai trò quan trọng, đã và đang tham gia tích cực vào quá trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng (TCTD) tại Việt Nam trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của hệ thống tài chính trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc mở rộng phạm vi, đối tượng của bảo hiểm tiền gửi (BHTG) tham gia vào xử lý các TCTD yếu kém theo Luật Các TCTD năm 2024, đã đặt ra những yêu cầu mới trong việc nâng cao năng lực tài chính của BHTGVN để tham gia hiệu quả hơn vào quá trình cơ cấu lại các TCTD.


ThS. Nguyễn Đình Việt - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La,
nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội


Vai trò của BHTGVN trong cơ cấu lại các TCTD

BHTG có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống TCTD tại các quốc gia, tạo cơ chế đối chiếu chéo giữa các cơ quan trong mạng lưới an toàn tài chính. Qua đó, BHTG giúp cảnh báo sớm và tham gia trực tiếp vào quá trình cơ cấu lại các TCTD yếu kém, khắc phục những sự cố, quản lý rủi ro cũng như tối thiểu hóa thiệt hại cho người gửi tiền, hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.

Tại Việt Nam, vai trò của BHTG đã được nhấn mạnh tại Luật BHTG năm 2012
1 và Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025”2, trong đó, xác định một trong các nguồn lực để cơ cấu lại các TCTD là từ quỹ dự phòng nghiệp vụ của BHTG; đồng thời, vai trò này cũng đã được thể chế hóa theo hướng ngày càng được mở rộng về phạm vi, đối tượng tại Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các TCTD (Luật số 17/2017/QH14 và Luật số 32/2024/QH15). Theo đó, vai trò của BHTGVN được quy định cụ thể như sau: Tham gia đánh giá tính khả thi phương án phục hồi, sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của quỹ tín dụng nhân dân (QTDND); cho vay đặc biệt đối với ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, QTDND, tổ chức tài chính vi mô theo quy định của pháp luật về BHTG; mua trái phiếu dài hạn của TCTD nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng thương mại theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN); tham gia xây dựng phương án phá sản TCTD được kiểm soát đặc biệt, phối hợp với TCTD để chi trả BHTG cho người gửi tiền theo phương án phá sản đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt…

Trong nhiều năm qua, BHTGVN đã tham gia tích cực vào quá trình cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu. BHTGVN đã ban hành Quy chế về cho vay đặc biệt đối với TCTD được kiểm soát đặc biệt kèm theo Quyết định số 593/QĐ-BHTG ngày 07/9/2018; hướng dẫn thực hiện Quy chế về cho vay đặc biệt đối với TCTD được kiểm soát đặc biệt số 1327/HD-BHTG ngày 29/10/2019; hướng dẫn tạm thời về việc BHTGVN tham gia vào quá trình kiểm soát đặc biệt đối với QTDND; quy định tạm thời về Tổ xử lý đột biến đối với QTDND có vấn đề; ban hành Hướng dẫn tạm thời đánh giá tính khả thi phương án phục hồi QTDND và tổ chức tài chính vi mô được kiểm soát đặc biệt...

BHTGVN đã tham gia thực hiện giám sát tình hình hoạt động và thực hiện phương án củng cố, chấn chỉnh QTDND, đặc biệt là giám sát số liệu chi tiết, biến động tài sản của QTDND, số dư tiền gửi, tiền gửi được bảo hiểm, tình hình phân loại nợ, khả năng thu hồi nợ của QTDND để đánh giá khả năng chi trả tiền gửi đến hạn thanh toán; xử lý các tình huống phát sinh, tham gia ý kiến đối với phương án xử lý QTDND được kiểm soát đặc biệt; thực hiện đối chiếu, xác minh, lập danh sách người gửi tiền, tham gia tuyên truyền, hỗ trợ đối với các QTDND…

Hằng năm, BHTGVN đã xây dựng mức vốn dự phòng cho vay đặc biệt đối với TCTD được kiểm soát đặc biệt để chủ động nguồn lực tài chính, sẵn sàng cho vay đặc biệt đối với TCTD được kiểm soát đặc biệt đủ điều kiện vay vốn. Đồng thời, chủ động, tích cực tham gia đánh giá tính khả thi của phương án phục hồi khi được yêu cầu, đề xuất phương án xử lý phù hợp với quy định của Luật Các TCTD.




(Ảnh minh họa, Nguồn: Internet)


Thực trạng năng lực tài chính của BHTGVN

Phí BHTG là nguồn thu chủ yếu của quỹ dự phòng nghiệp vụ của BHTGVN. Hiện nay, mức phí BHTG là 0,15%/năm tính trên tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm bình quân, áp dụng đồng hạng đối với tất cả các tổ chức tham gia BHTG.

Để chủ động về nguồn lực tài chính bảo vệ cho tiền gửi tại 1.278 tổ chức tham gia BHTG, BHTGVN đã chủ động đôn đốc, hướng dẫn các tổ chức tham gia BHTG gửi bảng kê số dư tiền gửi được bảo hiểm để tính và nộp phí BHTG, thực hiện tính và thu phí BHTG theo quy định; kịp thời giải đáp, xử lý các vấn đề phát sinh nhằm hạn chế tối đa việc nộp muộn, thừa, thiếu phí BHTG.

Tổng số phí BHTG thu được trong năm 2023 là 10.614 tỉ đồng, vượt 10,3% so với kế hoạch NHNN giao; thực hiện miễn nộp phí BHTG cho một số tổ chức tham gia BHTG được kiểm soát đặc biệt theo quy định với tổng số tiền là 755,8 tỉ đồng.

Đến hết tháng 6/2024, tổng nguồn vốn của BHTGVN đạt hơn 117 nghìn tỉ đồng, tăng gần 15% so với cùng kỳ năm 2023 và tăng hơn 7% so với thời điểm ngày 31/12/2023. Đây là nguồn lực để sẵn sàng chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền khi cần thiết và tham gia có hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD thông qua hoạt động hỗ trợ tài chính.

Trong các năm qua, hoạt động đầu tư của BHTGVN được thực hiện đúng quy định pháp luật, bảo đảm an toàn, phát triển vốn. Số tiền đầu tư lũy kế hằng năm giai đoạn 2015 - 2022 tăng với tốc độ trung bình khoảng 21%. Tỉ trọng số tiền đầu tư lũy kế/tổng nguồn vốn ổn định với mức 93 - 96%. Tổng doanh thu của BHTGVN gồm doanh thu từ hoạt động đầu tư và doanh thu khác (thu cho thuê trụ sở, thu tư vấn, đào tạo cán bộ cho tổ chức tham gia BHTG…), trong đó, doanh thu từ hoạt động đầu tư chiếm trên 99%, doanh thu khác chiếm dưới 1%; bình quân tốc độ tăng doanh thu đầu tư giai đoạn 2015 - 2022 là khoảng 11%, qua đó giúp tích lũy và gia tăng vốn, góp phần nâng cao năng lực tài chính của BHTG Việt Nam, cải thiện vị thế và bảo đảm thực hiện các mục tiêu chính sách công về BHTG.

Tuy nhiên, hoạt động đầu tư của BHTGVN đã bộc lộ những hạn chế nhất định khi danh mục đầu tư của BHTGVN là trái phiếu Chính phủ (chiếm trên 99% danh mục đầu tư), tín phiếu NHNN và gửi tiền tại NHNN. Trong bối cảnh lãi suất gửi tiền tại NHNN thấp, tín phiếu NHNN khó tìm được đối tác giao dịch, trong khi nguyên tắc đầu tư trái phiếu Chính phủ của BHTGVN là “mua - nắm giữ đến ngày đáo hạn” và chỉ được bán trong trường hợp Quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để chi trả BHTG có thể hạn chế tính linh hoạt trong điều phối dòng tiền, phần nào ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản, phục vụ chi trả nếu BHTG Việt Nam phát sinh nghĩa vụ này.

Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao năng lực tài chính của BHTGVN để tham gia hiệu quả hơn vào cơ cấu lại các TCTD

Về phí BHTG: Sự thay đổi của chính sách liên quan đến phí BHTG thường có tác động lớn tới hệ thống các tổ chức tham gia BHTG, đòi hỏi cần có sự cân nhắc thận trọng trong trường hợp điều chỉnh chính sách về phí BHTG. Do vậy, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định phí BHTG rõ ràng, phù hợp với đặc thù hệ thống TCTD tại Việt Nam.

Luật Các TCTD năm 2024 quy định, BHTGVN xây dựng phương án tăng phí BHTG để bù đắp phần vay đặc biệt NHNN trong trường hợp số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ của BHTGVN không đủ để chi trả cho người gửi tiền theo phương án phá sản đã được phê duyệt. Đây là nội dung mới, cần được nghiên cứu, đề xuất bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức BHTG liên quan đến xây dựng phương án tăng phí BHTG tại Luật BHTG.

Ngoài ra, để BHTGVN có cơ sở triển khai, cần có quy định cụ thể về trường hợp, điều kiện tăng phí BHTG; thẩm quyền, quy trình, thủ tục tăng phí BHTG và các vấn đề khác có liên quan. Những nội dung này cần thiết đưa vào nội dung đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật BHTG và các văn bản hướng dẫn Luật.

Cơ chế vay đặc biệt từ NHNN: Luật Các TCTD năm 2024 quy định BHTGVN được: (i) Vay đặc biệt NHNN trong trường hợp số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ của BHTG Việt Nam không đủ để chi trả cho người gửi tiền theo phương án phá sản đã được phê duyệt; (ii) Sử dụng tiền trả nợ vay đặc biệt của tổ chức tín dụng, nguồn thu từ bán giấy tờ có giá do BHTGVN nắm giữ, từ thanh lý tài sản của TCTD vay đặc biệt, phí BHTG để ưu tiên hoàn trả nợ vay đặc biệt cho NHNN. Đây là nội dung mới, để có cơ sở triển khai cần có quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của tổ chức BHTG liên quan đến vay đặc biệt NHNN để bảo đảm đồng bộ với Luật Các TCTD năm 2024, đồng thời, quy định rõ trường hợp, điều kiện, trình tự, thủ tục vay đặc biệt NHNN; nguồn tiền trả nợ vay đặc biệt NHNN.

Tiếp nhận hỗ trợ theo nguyên tắc có hoàn trả từ ngân sách nhà nước: Cơ chế BHTGVN được tiếp nhận hỗ trợ theo nguyên tắc có hoàn trả từ ngân sách nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại khoản 12 Điều 13 của Luật BHTG năm 2012. Mục tiêu của phương án này là nhằm tạo vốn từ tiếp nhận hỗ trợ để thực hiện chi trả và tham gia cơ cấu lại thông qua mua trái phiếu dài hạn của TCTD hỗ trợ. Do vậy, có thể nghiên cứu để áp dụng mức lãi suất tiếp nhận hỗ trợ phù hợp từ ngân sách nhà nước để bổ sung thêm nguồn lực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG và tham gia sâu hơn vào quá trình tái cơ cấu.

Phương án vay của TCTD, tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ: Cơ chế BHTGVN vay của TCTD, tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ cũng được quy định tại khoản 12 Điều 13 của Luật BHTG năm 2012. Cần nghiên cứu quy định cụ thể tỉ lệ khoản vay của BHTGVN vay của TCTD, tổ chức khác có sự bảo lãnh của Chính phủ. Đồng thời, BHTGVN có trách nhiệm theo dõi việc sử dụng khoản vay của TCTD, tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ và báo cáo NHNN tình hình thực hiện. Khi đến hạn hoàn trả, BHTGVN thực hiện phương án hoàn trả nợ vay có bảo lãnh của Chính phủ theo quy định.

Bài viết đã kiến nghị bốn nhóm vấn đề chính để nâng cao năng lực tài chính của BHTGVN nhằm phát huy vai trò của BHTGVN, tham gia hiệu quả hơn và tích cực hơn vào quá trình cơ cấu lại các TCTD trong thời gian tới. Các kiến nghị này liên quan đến việc sửa đổi Luật BHTG trong thời gian tới, cũng như trong tổ chức triển khai Luật Các TCTD năm 2024. Các đề xuất nêu trên nhằm đưa ra các giải pháp căn cơ nhưng bền vững, giúp giảm thiểu rủi ro của hệ thống các TCTD, hiện thực hóa vai trò tham gia sâu hơn của BHTGVN vào quá trình cơ cấu lại các TCTD.


1 Khoản 13 Điều 13, Luật BHTG năm 2012 quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức BHTG như sau: “Tham gia vào quá trình kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của NHNN; tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của Chính phủ”.
2 Ban hành kèm theo Quyết định số 689/QĐ-TTg ngày 08/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ.

Tài liệu tham khảo:

1. Anh Minh (2020). Nâng vai trò của BHTG trong kiểm soát đặc biệt các TCTD.
https://baochinhphu.vn/nang-vai-tro-cua-bao-hiem-tien-gui-trong-kiem-soat-dac-biet-cac-to-chuc-tin-dung-102278145.htm
2. BHTGVN (2023). Báo cáo thường niên năm 2022.
3. BHTGVN (2024). Bản tin Quý II năm 2024.
4. BHTGVN (2024). Xây dựng cơ chế huy động tài chính để BHTGVN tham gia có hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại TCTD.
https://p.gov.vn/xay-dung-co-che-huy-dong-tai-chinh-de-bao-hiem-tien-gui-viet-nam-tham-gia-co-hieu-qua-vao-qua-trinh-co-cau-lai-to-chuc-tin-dung
5. Luật BHTG năm 2012.
6. Luật Các TCTD năm 2024.
7. Quyết định số 689/QĐ-TTg ngày 08/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025".
8. Tạp chí tài chính (2023). Nâng cao vai trò của BHTGVN trong tái cơ cấu hệ thống các TCTD.
https://tapchitaichinh.vn/nang-cao-vai-tro-cua-bao-hiem-tien-gui-viet-nam-trong-tai-co-cau-he-thong-cac-to-chuc-tin-dung.html
9. Vĩnh Hoàng (2023). Tăng cường vai trò của BHTG trong phát hiện sớm và can thiệp kịp thời các TCTD yếu, kém. https://tapchinganhang.gov.vn/tang-cuong-vai-tro-cua-bao-hiem-tien-gui-trong-phat-hien-som-va-can-thiep-kip-thoi-cac-to-chuc-tin-d.htm

ThS. Nguyễn Đình Việt
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội
https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trong quá trình tái cơ cấu gắn với chuyển đổi số, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững của hệ thống trong giai đoạn tới.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Xem thêm
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Bài viết phân tích những định hướng sửa đổi quan trọng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7) về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong bối cảnh tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính.
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối