Một số giải pháp chính sách thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội tại Việt Nam

Kinh tế - xã hội
Mặc dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và hỗ trợ nguồn lực để phát triển nhà ở xã hội, nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân, nhất là ở các đô thị lớn và khu công nghiệp. Bài viết đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội, dựa trên việc đánh giá các chính sách qua các giai đoạn từ khi có Luật Nhà ở đầu tiên.
aa

Trong hơn 20 năm qua, Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách tạo hành lang pháp lý quan trọng và hỗ trợ đa dạng nguồn lực cho việc phát triển nhà ở xã hội trên phạm vi toàn quốc, tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về nhà ở rất lớn của người dân, đặc biệt là tại các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các địa phương tập trung nhiều khu công nghiệp trải dài từ Bắc vào Nam như: Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Bình Phước, Long An, Đồng Nai, Bình Dương... Bài viết này đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội, trên cơ sở đánh giá khái quát các cơ chế, chính sách nhà ở xã hội qua các giai đoạn kể từ khi Luật Nhà ở đầu tiên được ban hành.

Nhà ở xã hội luôn là một trong những chủ trương lớn được Đảng, Nhà nước quan tâm nhằm bảo đảm an sinh xã hội, tạo nền tảng phát triển kinh tế bền vững (Nguồn ảnh: Internet)
Nhà ở xã hội luôn là một trong những chủ trương lớn được Đảng, Nhà nước quan tâm nhằm bảo đảm an sinh xã hội, tạo nền tảng phát triển kinh tế bền vững (Nguồn ảnh: Internet)

1. Giai đoạn Luật Nhà ở năm 2005

Tại Việt Nam, thuật ngữ “nhà ở xã hội” chính thức được đề cập tại Luật Nhà ở số 56/2005/QH11 ngày 29/11/2005 do Quốc hội khóa XI ban hành tại kỳ họp thứ 8. Đây cũng là luật đầu tiên quy định về nhà ở nói chung và nhà ở xã hội nói riêng, theo đó, nhà ở xã hội được định nghĩa là nhà ở do Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cho các đối tượng cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân làm việc tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và các đối tượng khác theo quy định của Chính phủ thuê hoặc thuê mua. Các đối tượng này phải đảm bảo điều kiện cần là có thu nhập thấp và điều kiện đủ là thuộc một trong các trường hợp sau đây: (i) Chưa có nhà ở thuộc sở hữu và chưa được thuê hoặc mua nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước; (ii) Có nhà ở thuộc sở hữu nhưng diện tích bình quân trong hộ gia đình dưới 5m2 sàn/người; (iii) Có nhà ở thuộc sở hữu nhưng là nhà ở tạm, hư hỏng hoặc dột nát. Đối tượng được thuê mua nhà ở xã hội phải thanh toán lần đầu 20% giá trị của nhà ở thuê mua.

Như vậy, trong giai đoạn này, nhà ở xã hội chỉ có phương thức cho thuê hoặc thuê mua. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lựa chọn chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở xã hội thuộc sở hữu Nhà nước để cho thuê, thuê mua trên địa bàn. Còn tổ chức, cá nhân phát triển nhà ở xã hội cho các đối tượng thuê, thuê mua là chủ đầu tư đối với các dự án phát triển nhà ở do mình đầu tư. Việc lựa chọn đơn vị tư vấn, doanh nghiệp xây dựng quỹ nhà ở xã hội phải thông qua đấu thầu theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, theo Luật Nhà ở năm 2005 thì nhà ở xã hội chỉ dùng để cho thuê và thuê mua, không được phép bán; các cơ chế, chính sách cho việc phát triển quỹ nhà này còn chung chung, không khuyến khích được các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng nhà ở xã hội; Luật này không quy định bắt buộc phải dành quỹ đất trong các dự án phát triển nhà ở thương mại để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội; tiêu chuẩn thiết kế nhà ở xã hội hiện hành (như xây dựng nhà ở cao không quá 6 tầng, với diện tích không quá 60m2) không phù hợp; đối tượng thuộc diện được thuê, thuê mua nhà ở xã hội còn hạn chế; điều kiện thuê, thuê mua còn chung chung nên việc phát triển nhà ở xã hội không đạt được yêu cầu.

2. Giai đoạn Luật Nhà ở năm 2014

Theo Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 được Quốc hội ban hành ngày 25/11/2014, nhà ở xã hội được định nghĩa là loại hình nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước dành cho 10 nhóm đối tượng thuộc diện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở. So với Luật Nhà ở năm 2005, các hình thức phát triển nhà ở xã hội theo quy định mới đã được mở rộng hơn.

Chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội được mở rộng thêm với hình thức bán, đi kèm các điều kiện được quy định chặt chẽ hơn, đặc biệt đối với trường hợp mua nhà ở xã hội (phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về đối tượng, điều kiện về nhà ở, cư trú và thu nhập). Việc cho phép mua, bán nhà ở xã hội được xem là một bước đột phá trong chính sách, phù hợp với tâm lý ưa chuộng sở hữu nhà ở thay vì thuê của phần lớn người dân Việt Nam. Chính vì vậy, chính sách này đã nhận được sự hưởng ứng tích cực từ người dân và thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của các chủ đầu tư, nhờ các ưu đãi hấp dẫn như miễn, giảm tiền sử dụng đất, thuế, lợi nhuận định mức, cũng như các ưu đãi liên quan đến phần diện tích kinh doanh thương mại và nhà ở thương mại trong phạm vi dự án.

Mặc dù Luật Nhà ở năm 2014 đã được triển khai trong thời gian dài, song kết quả phát triển nhà ở xã hội vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của người dân. Hầu hết các địa phương chưa hoàn thành chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội theo chương trình, kế hoạch đã đề ra, tỷ lệ hoàn thành còn thấp. Chỉ một số ít địa phương sử dụng nguồn vốn nhà nước (bao gồm ngân sách nhà nước và vốn nhà nước ngoài ngân sách) để đầu tư phát triển nhà ở xã hội. Phần lớn các dự án nhà ở xã hội được xây dựng từ nguồn vốn của doanh nghiệp hoặc hợp tác xã. Đối với hình thức phát triển nhà ở xã hội do hộ gia đình, cá nhân thực hiện, đến thời điểm này vẫn chưa xuất hiện mô hình nhà ở xã hội theo các đối tượng này, mà chủ yếu là phát triển nhà trọ với số lượng lớn. Thực tế cho thấy, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập trong chính sách pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật về nhà ở xã hội, như việc bố trí quỹ đất, triển khai đầu tư các dự án, cụ thể như sau:

Một là, Luật Nhà ở năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định tất cả các dự án nhà ở thương mại, khu đô thị tại đô thị từ loại III trở lên phải dành 20% quỹ đất ở để xây dựng nhà ở xã hội. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực tế còn gặp nhiều vướng mắc.

Hai là, Luật Nhà ở năm 2014 cũng quy định chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích đất được Nhà nước giao hoặc cho thuê để xây dựng nhà ở xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các chủ đầu tư vẫn phải tiến hành thủ tục xác định tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai trước khi được miễn, gây phát sinh thủ tục hành chính kéo dài (mất khoảng 1 - 2 năm theo báo cáo của doanh nghiệp).

Ba là, các chính sách ưu đãi hiện hành dành cho chủ đầu tư nhà ở xã hội, nhà ở công nhân vẫn chưa đủ hấp dẫn và thiếu thực chất. Dù có quy định miễn tiền sử dụng đất, giảm thuế... nhưng thực tế chủ đầu tư không được hưởng các ưu đãi này do không được tính vào giá bán, cho thuê. Bên cạnh đó, ưu đãi về thuế với nhà ở xã hội chỉ để cho thuê cũng chưa được áp dụng do pháp luật thuế chưa có quy định cụ thể.

Bốn là, chính sách ưu đãi phần diện tích kinh doanh thương mại trong các dự án nhà ở xã hội được triển khai từ năm 2014, nhưng mới chỉ được quy định trong các Nghị định của Chính phủ, chưa được luật hóa, do đó thiếu cơ sở pháp lý vững chắc.

Năm là, mô hình nhà ở xã hội hiện nay chưa phù hợp với một số nhóm đối tượng có điều kiện lao động đặc thù như công nhân khu công nghiệp, lực lượng vũ trang nhân dân.

Sáu là, theo khoản 3 Điều 54 Luật Nhà ở năm 2014 yêu cầu các dự án nhà ở xã hội phải dành tối thiểu 20% diện tích để cho thuê và chủ đầu tư chỉ được bán sau 5 năm đưa vào sử dụng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều dự án không cho thuê được phần diện tích này, dẫn đến lãng phí, trong khi chủ đầu tư không thể bán để thu hồi vốn, làm giảm tính hấp dẫn trong đầu tư nhà ở xã hội.

Bảy là, Điều 61 Luật Nhà ở năm 2014 quy định nguyên tắc xác định giá bán, cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội không do Nhà nước đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, phương pháp xác định giá hiện chưa tính đến một số chi phí hợp lý của doanh nghiệp (chi phí bán hàng, chi phí quản lý, chi phí khác). Mức lợi nhuận định mức (10% đối với nhà để bán, thuê mua; 15% đối với nhà cho thuê) chưa đủ hấp dẫn. Hơn nữa, việc tính lợi nhuận trên toàn bộ dự án (kể cả phần 20% diện tích thương mại) cũng chưa khuyến khích được nhà đầu tư tích cực tham gia.

Do đó, để đảm bảo quyền tự do kinh doanh, thúc đẩy nguồn cung nhà ở xã hội để cho thuê và cải cách thủ tục hành chính, cần thiết phải xem xét cho phép các bên được thỏa thuận giá thuê nhà ở xã hội.

3. Giai đoạn Luật Nhà ở năm 2023

Ngày 27/11/2023, tại kỳ họp thứ 6 khóa XV, Quốc hội đã ban hành Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 với nhiều điểm mới đột phá, trong đó có thể kể đến chủ trương phân cấp, phân quyền mạnh mẽ gắn với nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương trong việc phát triển nhà ở xã hội, tạo sự chủ động, linh hoạt cho địa phương trong việc thực hiện quy hoạch quỹ đất dành để phát triển nhà ở xã hội, đảm bảo tính khả thi khi áp dụng trên thực tế.

Đồng thời, mở rộng đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội trong đó có doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong khu công nghiệp; bổ sung thêm hai chính sách mới là phát triển nhà lưu trú công nhân và phát triển nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân.

Mở rộng các hình thức phát triển nhà ở xã hội, trong đó có sự tham gia của nhiều thành phần: (i) Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là cơ quan chủ quản dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội bằng nguồn tài chính công đoàn cho công nhân, người lao động thuộc đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội thuê; (ii) tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (thông qua hình thức đầu tư vốn hoặc thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở xã hội hoặc hợp tác kinh doanh với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong nước để cùng thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để bán, cho thuê mua, cho thuê theo quy định của Luật này, pháp luật về đất đai, pháp luật về kinh doanh bất động sản và quy định khác của pháp luật có liên quan); (iii) cá nhân xây dựng nhà ở xã hội trên diện tích đất ở hợp pháp để cho thuê; giảm bớt thủ tục hành chính (bãi bỏ quy định về điều kiện cư trú khi mua, thuê mua nhà ở xã hội, chỉ còn điều kiện về nhà ở và thu nhập; đối với trường hợp thuê nhà ở xã hội thì không yêu cầu bắt buộc phải đáp ứng các điều kiện về nhà ở, thu nhập, chỉ cần đúng đối tượng).

Tăng nhiều ưu đãi cho chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội. Miễn tiền sử dụng đất cho toàn bộ dự án, không phải thực hiện các thủ tục đề nghị và tính miễn tiền như trước đây; ưu đãi về phần diện tích kinh doanh thương mại dịch vụ, nhà ở thương mại trong phạm vi dự án, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội được hạch toán riêng, không được tính chi phí đầu tư xây dựng phần diện tích kinh doanh dịch vụ, thương mại này vào giá thành nhà ở xã hội và được hưởng toàn bộ lợi nhuận đối với phần diện tích kinh doanh dịch vụ, thương mại này. Giá bán, giá thuê mua nhà ở xã hội được xác định trên cơ sở tính đủ các chi phí để thu hồi vốn đầu tư xây dựng nhà ở...

4. Nguyên nhân nhà ở xã hội chưa đạt được mục tiêu đề ra

Theo quan điểm tiếp cận từ góc độ cung - cầu - giá nhà ở xã hội, những nguyên nhân dẫn đến kết quả phát triển nhà ở xã hội chưa đạt được mục tiêu đề ra, cụ thể như sau:

Thứ nhất, nguồn cung nhà ở xã hội thấp trong khi cơ chế ưu đãi được tăng tới mức tối đa. Mặt khác, hầu hết các doanh nghiệp chỉ chú trọng phát triển nhà ở thương mại cao cấp, diện tích lớn để bán cho những người có thu nhập cao nhằm thu hồi vốn nhanh, tỉ lệ sinh lời cao mà chưa quan tâm phát triển các loại căn hộ có diện tích nhỏ, có giá bán phù hợp với đại bộ phận người dân có thu nhập thấp và trung bình.

Thứ hai, mặc dù đối tượng được thụ hưởng chính sách nhà ở xã hội ngày càng được mở rộng nhưng người dân liên tục phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo đài về việc không có nhà ở xã hội để đăng ký mua, không thể đăng ký nộp hồ sơ đăng ký mua nhà ở xã hội, không có dự án để đăng ký… hoặc phải trả tiền “chênh” quá lớn so với thu nhập thấp của người dân để có được một “suất” đăng ký mua nhà ở xã hội tại một dự án, nhưng khả năng hồ sơ có đăng ký mua được nhà ở xã hội hay không lại rất bấp bênh do được thực hiện thông qua hình thức bốc thăm (số lượng hồ sơ đăng ký lớn gấp nhiều lần so với số căn nhà ở xã hội mà chủ đầu tư công bố bán).

Ngoài ra, đa số tâm lý người dân vẫn muốn sở hữu nhà ở hơn là thuê, thuê mua; muốn ở nhà thấp tầng gắn với đất hơn là ở nhà chung cư dẫn tới việc phát triển mô hình nhà ở xã hội (đặc biệt là nhà chung cư) để cho thuê, cho thuê mua không hiệu quả.

Thứ ba, giá bán nhà ở xã hội. Mặc dù Luật Nhà ở và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có quy định khống chế lợi nhuận định mức nhưng giá nhà ở vẫn cao so với thu nhập của người dân.

Cuối cùng, để giúp cho nhà ở xã hội được phân phối và lưu thông vào thị trường thì không thể không kể đến các kênh tài chính, sự tham gia của Ngân hàng Chính sách xã hội, một số tổ chức tín dụng được chỉ định (BIDV, Vietcombank, Agribank, Vietinbank…), các chính sách hỗ trợ nguồn vốn của Nhà nước, mà điển hình là gói tín dụng ưu đãi 120.000 tỉ đồng và mới đây nhất gói này đã tăng quy mô lên tới 145.000 tỉ đồng. Tuy nhiên, hệ thống tài chính nhà ở thiếu một số quỹ đầu tư để phát triển nhà ở như quỹ tiết kiệm nhà ở, quỹ đầu tư bất động sản, thiếu cơ chế thế chấp bất động sản…; dẫn tới thiếu nguồn vốn tín dụng trung hạn và dài hạn.

5. Một số đề xuất, kiến nghị

Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã luôn quan tâm, tạo cơ chế chính sách, hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho phát triển nhà ở xã hội, đồng thời, các địa phương cơ bản cũng bố trí đủ quỹ đất để phát triển nhà ở xã hội theo Chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê duyệt; nhiều chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại cũng thực hiện việc dành quỹ đất nhà ở xã hội trong phạm vi dự án. Để thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, cần tìm hiểu một số kinh nghiệm phát triển nhà ở xã hội của một số quốc gia trên thế giới.

Các nước phát triển và đang phát triển đã có các biện pháp chính sách khu vực công khác nhau để đối phó với vấn đề nhà ở do đô thị hóa gây ra. Do sự điều tiết của thị trường về chính sách cung ứng trực tiếp và hạn chế đầu tư công, các chính sách thay thế được xây dựng dưới hình thức khuyến khích các nhà cung cấp nhà ở xã hội thông qua khu vực tư nhân, chính sách hỗ trợ người có nhu cầu (các chương trình cho vay thế chấp hoặc trợ cấp nhà ở). Tham khảo trường hợp của Hàn Quốc, việc cung cấp nhà ở công cộng được bắt đầu với thị trường nhà để bán, sau đó phát triển sang nhà ở công cộng cho thuê... Tuy nhiên, điểm tương tự trong cách giải quyết vấn đề nhà ở là phát triển các cơ chế đa dạng cho nhà ở công cộng có tính đến khả năng chi trả của người thụ hưởng. Các phương án huy động tài chính phù hợp có thể góp phần tạo ra nguồn cung nhà ở xã hội ổn định. Để cung cấp nhà ở xã hội ổn định, cần có kế hoạch tạo nguồn tài chính cần thiết theo phương thức chính sách. Tham khảo phương thức tích lũy vốn như Quỹ Housing Provident Fund - HPF của Trung Quốc là một chương trình tiết kiệm bắt buộc dành cho người lao động chính thức, được thành lập từ năm 1991 với mục tiêu hỗ trợ người dân mua nhà thông qua việc tiết kiệm và vay vốn ưu đãi; Quỹ Central Provident Fund - CPF của Singapore là một hệ thống an sinh xã hội bắt buộc, được Chính phủ Singapore quản lý, nhằm giúp người dân tiết kiệm cho nghỉ hưu, chăm sóc y tế, mua nhà và bảo hiểm; trái phiếu nhà ở quốc gia của Hàn Quốc; phương thức cấp quyền đăng ký mua nhà và quyền ưu tiên khi mua nhà ở mới với điều kiện phải tham gia và gửi tiền tiết kiệm như trường hợp cơ chế tiết kiệm mua nhà của Hàn Quốc.

Có thể thấy rằng, các nước đều chú trọng vai trò của Nhà nước trong phát triển, đa dạng hóa nhà ở xã hội, giảm chi tiêu đầu tư công cho phát triển nhà ở xã hội, phát triển các định chế tài chính có tính dài hạn nhằm cung cấp nguồn vốn ổn định, phù hợp để phát triển nhà ở xã hội một cách bền vững.

Trên cơ sở một số kinh nghiệm phát triển nhà ở xã hội của các quốc gia nêu trên, bài viết đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện hơn nữa các chính sách nhà ở xã hội hiện hành ở Việt Nam như sau:

Một là, cần sự thay đổi về nhận thức, tư duy về chính sách nhà ở xã hội, bỏ hình thức đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để bán, thu hẹp đối tượng thụ hưởng chính sách nhà ở xã hội, định nghĩa về người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị, không phải là tư duy về sở hữu nữa mà là sử dụng nhà ở một cách hiệu quả, đáp ứng nhu cầu về chỗ ở để phục vụ sinh hoạt, làm việc và sinh sống một cách thực tế. Theo đó, đẩy mạnh phát triển nhà ở cho thuê, trong đó có hình thức nhà ở xã hội chỉ để cho thuê, cho thuê mua, vừa đáp ứng được nhu cầu, vừa phù hợp với khả năng chi trả của đại bộ phận người dân có thu nhập thấp.

Hai là, thiết lập một Ủy ban tầm cỡ quốc gia để điều hành chuyên trách lĩnh vực nhà ở xã hội như mô hình HDB1 của Singapore đã hoạt động hiệu quả và cung cấp nhu cầu nhà ở xã hội cho tới 98% người dân Singapore.

Ba là, thành lập một doanh nghiệp do Ủy ban nói trên điều hành và chủ quản về nguồn vốn để thực hiện các mục tiêu xây dựng quỹ nhà ở xã hội theo yêu cầu, phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội.

Bốn là, phát triển các định chế tài chính mới như Quỹ tiết kiệm nhà ở, Quỹ phát triển nhà ở quốc gia để phát triển nhà ở giá rẻ... và yêu cầu có sự đóng góp của người thuê mua nhà ở xã hội.

Năm là, xây dựng hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu về dân cư, nhà ở, thu nhập, đăng ký cư trú… phục vụ cho việc dự báo nhu cầu nhà ở của người dân, việc xác nhận thông tin của người dân khi đăng ký thuê, thuê mua nhà ở xã hội.

1 HDB là đơn vị trực thuộc Bộ phát triển Quốc gia Singapore, được thành lập vào năm 1960. Chính phủ Singapore giao nhiệm vụ cho HDB một số hoạt động như thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở cho người dân Singapore, xây dựng các khu nhà ở mới, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp cải thiện môi trường sống tại các khu nhà ở cũ. HDB có 24 chi nhánh và 03 trung tâm dịch vụ ở mỗi thị trấn để hỗ trợ cung cấp sản phẩm nhà ở sau khi đầu tư xây dựng. HDB có trách nhiệm và quyền hạn từ công tác quy hoạch, thiết kế cho đến thu hồi đất và xây dựng, phân phối, quản lý, bảo trì và các nhiệm vụ liên quan đến nhà ở trong một tổng thể chung. Nhờ có quyền hạn đầy đủ và trách nhiệm rõ ràng, cụ thể trong mọi khâu điều hành, quản lý, nên hoạt động phát triển nhà ở mang lại hiệu quả cao.

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội (2005). Luật Nhà ở số 56/2005/QH11 ngày 29/11/2005.

2. Quốc hội (2014). Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25/11/2014.

3. Quốc hội (2023). Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 ngày 27/11/2023.

4. Bộ Xây dựng (2005 - 2025). Các báo cáo tổng kết.

5. Bộ Xây dựng, Koica (2021). Dự án “Xây dựng chính sách tổng thể nhà ở xã hội Việt Nam trong giai đoạn 2021 - 2030”.

6. Chính phủ (2022). Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023.

7. Thủ tướng Chính phủ (2011). Quyết định số 2127/QĐ-TTg ngày 30/11/2011.

8. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 2161/QĐ-TTg ngày 22/12/2021.

9. Chính phủ (2006 - 2025). Các Nghị định liên quan đến nhà ở.

10. Vnexpress. Chênh tiền tỷ khi mua nhà xã hội qua môi giới. https://vnexpress.net/chenh-tien-ty-khi-mua-nha-xa-hoi-qua-moi-gioi-4856793.html

ThS. Phạm Thị Thu Hà*; TS. Nguyễn Thị Hải Yến**
*Bộ Xây dựng; **Đại học Kinh tế Quốc dân

Tin bài khác

Đảm bảo an toàn hệ sinh thái số: Bảo vệ khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng trên không gian mạng

Đảm bảo an toàn hệ sinh thái số: Bảo vệ khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng trên không gian mạng

Để bảo đảm an toàn dữ liệu và tài khoản của khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng trên môi trường mạng, bên cạnh nỗ lực của ngành Ngân hàng trong việc nâng cấp hạ tầng công nghệ bảo mật, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành liên quan trong công tác phòng, chống lừa đảo trực tuyến. Bởi lẽ, nếu các mắt xích trong hệ sinh thái số không được bảo vệ đồng bộ, thì ngay cả lớp xác thực sinh trắc học, dù hiện đại đến đâu, cũng khó phát huy hiệu quả tuyệt đối.
Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW

Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW

Sáng 30/6/2026, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026

Trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi tiếp các Trưởng đoàn tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 chiều ngày 09/6/2026.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: ASEAN cần hướng tới ba tầm vóc chiến lược

Thủ tướng Lê Minh Hưng: ASEAN cần hướng tới ba tầm vóc chiến lược

Sáng 09/6/2026, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dự và có bài phát biểu quan trọng tại phiên khai mạc Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 (ASEAN Future Forum - AFF 2026) với chủ đề: "Cùng định hình tương lai chung: Hòa bình, thịnh vượng, lấy người dân làm trung tâm".
Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững.
Chuyển đổi số “vun đắp” khát vọng xây dựng ngành Ngân hàng hiện đại, thông minh, phát triển

Chuyển đổi số “vun đắp” khát vọng xây dựng ngành Ngân hàng hiện đại, thông minh, phát triển

Trong hai ngày 22 - 23/5/2026, Hội thi Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Chủ động số hóa - Bứt phá tương lai” nhằm chào mừng 75 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam (06/5/1951 - 06/5/2026) và hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (11/5/2026) do Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tổ chức đã diễn ra thành công tốt đẹp. Hội thi năm 2026 ghi nhận quy mô lớn với sự tham gia của 32 đội thi đến từ 32 đơn vị trong ngành và công ty công nghệ tài chính (Fintech) hàng đầu, đại diện cho trí tuệ, tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng chuyển đổi số của toàn ngành Ngân hàng.
Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Sáng 22/5/2026, Hội thi “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng” năm 2026 với chủ đề “Chủ động số hóa - Bứt phá tương lai” nhằm chào mừng 75 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam (06/5/1951 - 06/5/2026) và hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (11/5/2026) do Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tổ chức chính thức khai mạc.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo -  Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Ngày 18/5 là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, tôn vinh trí thức và khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ trong phát triển bền vững. Với ngành Ngân hàng, đây là ngày có ý nghĩa quan trọng, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng hệ sinh thái tài chính số hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Xem thêm
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Bài viết phân tích thực trạng an toàn tài chính vĩ mô tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời đề xuất các giải pháp củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam