Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù gắn chuyển đổi số và tài chính bền vững tại khu vực Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Ninh

Chính sách
Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù khu vực Tây Yên Tử là hướng đi đúng đắn nhằm khai thác tiềm năng tự nhiên - văn hóa của địa phương gắn với xu thế chuyển đổi số và tài chính xanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù các hợp tác xã du lịch cộng đồng đã hình thành và tạo dấu ấn ban đầu, song khu vực này vẫn đối mặt với nhiều thách thức về hạ tầng, nguồn vốn, nhân lực và công nghệ.
aa

Tóm tắt: Khu vực Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Ninh, có tiềm năng lớn phát triển du lịch sinh thái, văn hóa và tâm linh gắn với cộng đồng. Trong bối cảnh chuyển đổi số và định hướng kinh tế xanh, phát triển sản phẩm du lịch đặc thù không chỉ góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương mà còn tạo cầu nối giữa du lịch, tài chính và công nghệ. Bài viết phân tích thực trạng phát triển du lịch cộng đồng Tây Yên Tử, chỉ ra những hạn chế về quy hoạch, hạ tầng, nguồn vốn và ứng dụng ngân hàng số, từ đó đề xuất các giải pháp theo hướng tích hợp chuyển đổi số - tài chính xanh - ngân hàng số. Các nội dung trọng tâm gồm xây dựng bản đồ du lịch số, mã QR thống nhất, mở rộng thanh toán không tiền mặt, hình thành quỹ phát triển du lịch cộng đồng và gói tín dụng xanh cho hợp tác xã (HTX). Mô hình “du lịch cộng đồng tích hợp tài chính xanh và chuyển đổi số” được xem là hướng đi phù hợp nhằm thúc đẩy phát triển bền vững, minh bạch và toàn diện cho khu vực Tây Yên Tử và tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2025 - 2035.

Từ khóa: Du lịch cộng đồng, sản phẩm du lịch đặc thù, chuyển đổi số, tài chính bền vững, Tây Yên Tử.

DEVELOPING SPECIFIC TOURISM PRODUCTS LINKED TO DIGITAL TRANSFORMATION AND SUSTAINABLE FINANCE IN THE TAY YEN TU AREA, BAC NINH PROVINCE

Abstract: Tay Yen Tu area of Bac Ninh Province has significant potential for developing ecological, cultural, and spiritual tourism associated with local communities. In the context of digital transformation and the green economy, the development of distinctive tourism products not only contributes to local economic growth but also creates a bridge between tourism, finance, and technology. This article analyzes the current situation of community-based tourism in West Yen Tu, highlighting key limitations in planning, infrastructure, financing, and digital banking applications. The study proposes integrated solutions focusing on digital transformation, green finance, and digital banking, including the development of a digital tourism map, unified QR codes, cashless payment systems, a community tourism development fund, and green credit packages for cooperatives. The proposed model of “community-based tourism integrated with green finance and digital transformation” aims to promote sustainable, transparent, and inclusive development. The model of “community-based tourism integrated with green finance and digital transformation” is considered an appropriate approach to promote sustainable, transparent, and inclusive development in the Western Yen Tu area and Bac Ninh province during the 2025 - 2035 period.

Keyword: Community-based tourism, specific tourism products, digital transformation, sustainable finance, Tay Yen Tu.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Đặt vấn đề

Du lịch hiện là một trong những ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới, đóng góp hơn 10% GDP toàn cầu và tạo ra hàng trăm triệu việc làm mỗi năm (World Bank, 2025). Trong kỷ nguyên chuyển đổi số và kinh tế xanh, du lịch không chỉ là hoạt động nghỉ dưỡng, mà còn trở thành công cụ thúc đẩy phát triển bền vững, bảo tồn di sản văn hóa - sinh thái, mở rộng tài chính toàn diện thông qua hệ thống thanh toán số, tín dụng xanh và đầu tư cộng đồng. Ở Việt Nam, ngành du lịch đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng du lịch thông minh, kết hợp giữa ngân hàng số, sản phẩm OCOP và HTX du lịch cộng đồng, nhằm phát huy lợi thế vùng nông thôn, nâng cao sinh kế và hội nhập kinh tế số quốc gia.

Trong bối cảnh hợp nhất hành chính và chuyển đổi số đang được triển khai mạnh mẽ, Tây Yên Tử nổi lên như một điểm đến mới của tỉnh Bắc Ninh, với các tuyến du lịch sinh thái, văn hóa, tâm linh và trải nghiệm cộng đồng. Tuy nhiên, quá trình phát triển sản phẩm du lịch đặc thù còn gặp nhiều thách thức: Quy hoạch chưa đồng bộ, hạ tầng còn hạn chế, năng lực quản lý chưa cao và cơ chế tài chính thiếu ổn định. Các HTX du lịch cộng đồng mới hình thành vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng, ngân hàng số và công nghệ số - những yếu tố thiết yếu để phát triển bền vững trong thời kỳ kinh tế số.

Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù trong bối cảnh mới đòi hỏi cách tiếp cận tích hợp giữa du lịch - OCOP - ngân hàng số. Sản phẩm du lịch đặc thù không chỉ thể hiện giá trị tài nguyên tự nhiên và văn hóa đặc trưng của địa phương (Phạm Trung Lương, 2007), mà còn cần được gắn với hệ thống công nghệ thông minh, nền tảng dữ liệu du lịch, bản đồ số và hệ thống thanh toán điện tử (OECD, 2022). Đồng thời, việc kết hợp tài chính xanh và ngân hàng số sẽ giúp huy động vốn, quản lý dòng tiền minh bạch và tăng cường năng lực tài chính cho cộng đồng địa phương (UNWTO, 2023).

Từ cơ sở đó, nghiên cứu này hướng tới phân tích tiềm năng, thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển sản phẩm du lịch đặc thù Tây Yên Tử theo hướng chuyển đổi số và tài chính bền vững, hình thành chuỗi giá trị liên kết giữa du lịch - OCOP - ngân hàng số. Kết quả nghiên cứu không chỉ mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn đối với địa phương, mà còn góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế số, thương mại - dịch vụ và tài chính toàn diện của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2025 - 2035.

2. Tiềm năng và thực trạng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù khu vực Tây Yên Tử

2.1. Tiềm năng

Khu vực Tây Yên Tử, thuộc không gian văn hóa - sinh thái của dãy Yên Tử phía Tây, nằm trong địa giới hành chính tỉnh Bắc Ninh, được xem là vùng có tiềm năng nổi bật trong phát triển du lịch đặc thù gắn với sinh thái rừng, tâm linh - văn hóa và cộng đồng dân tộc thiểu số. Với diện tích 132,57 km², địa hình chủ yếu là đồi núi thấp xen thung lũng, độ cao trung bình từ 200 - 1.000 m, Tây Yên Tử có khí hậu mát mẻ quanh năm, độ ẩm cao, cảnh quan đa dạng, thích hợp phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và khám phá thiên nhiên.

Về tài nguyên tự nhiên, khu vực này có hệ sinh thái rừng nguyên sinh và rừng phục hồi với diện tích lớn, tập trung nhiều loài động - thực vật quý hiếm như trầm hương, lim xanh, nghiến, gụ lau, khỉ vàng, voọc mông trắng, và nhiều loài chim đặc hữu vùng Đông Bắc. Các thắng cảnh nổi tiếng như Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ, thác Ba Tia, suối Nước Vàng, núi Mục, cao nguyên Đồng Cao không chỉ mang giá trị cảnh quan mà còn có tiềm năng tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái - trekking - trải nghiệm rừng, kết hợp du lịch giáo dục môi trường. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành sản phẩm du lịch xanh, thân thiện môi trường, phù hợp với định hướng kinh tế carbon thấp của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2025 - 2035.

Về tài nguyên văn hóa - xã hội, Tây Yên Tử là nơi cư trú lâu đời của các cộng đồng dân tộc Dao, Tày, Nùng, Kinh, mỗi nhóm mang sắc thái văn hóa riêng, góp phần tạo nên bản đồ văn hóa đa dạng cho vùng núi phía Tây của tỉnh. Các lễ hội truyền thống như Lễ hội Yên Tử (tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông), hội chợ vùng cao Nòn - Tây Yên Tử, lễ cấp sắc của người Dao, hay các làn điệu dân ca dân vũ như hát Then, hát Páo Dung, múa chuông Dao Đỏ đều là nguồn tư liệu sống động, có thể khai thác thành sản phẩm du lịch văn hóa - tâm linh - cộng đồng. Những di sản phi vật thể này có giá trị đặc biệt trong phát triển du lịch trải nghiệm văn hóa.

Ngoài ra, người dân bản địa có truyền thống làm nghề thủ công và chế biến nông sản đặc sản, như thêu thổ cẩm, rượu men lá, mật ong rừng, gà đồi, lợn bản, rau dược liệu dưới tán rừng (ba kích, sa nhân, hà thủ ô). Đây là nền tảng quan trọng để phát triển sản phẩm OCOP gắn với du lịch cộng đồng - một xu hướng mới trong xây dựng chuỗi giá trị nông nghiệp - du lịch - thương mại số. Các sản phẩm OCOP của huyện Sơn Động (cũ) như rượu men lá, gà đồi, mật ong rừng, chè dây, tinh dầu dược liệu đã được đăng ký tiêu chuẩn chất lượng, góp phần nâng cao thương hiệu địa phương.

Về tài nguyên tâm linh và lịch sử, Tây Yên Tử nằm trên tuyến hành hương Phật giáo “Con đường hoằng dương Phật pháp của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử”. Các điểm linh thiêng như chùa Thượng, chùa Hạ, am Ngọa Vân, đỉnh Đồng Yên Tử, kết hợp với các tuyến hành hương và hệ thống cáp treo Tây Yên Tử, tạo điều kiện cho việc phát triển du lịch tâm linh, kết hợp nghỉ dưỡng, trải nghiệm và chiêm bái.

Tây Yên Tử hội tụ đủ ba yếu tố: (i) Tài nguyên thiên nhiên - văn hóa đặc sắc, (ii) Nền tảng cộng đồng và HTX du lịch đang hình thành, và (iii) Cơ hội tiếp cận chính sách chuyển đổi số - tài chính xanh của tỉnh Bắc Ninh. Tuy nhiên, việc khai thác tiềm năng này cần có hệ thống tài chính hỗ trợ (tín dụng xanh, ngân hàng số) và nền tảng công nghệ du lịch số hóa, giúp gắn kết chuỗi giá trị du lịch với OCOP, nông nghiệp xanh và dịch vụ ngân hàng địa phương.

2.2. Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù Tây Yên Tử

Trong ba năm qua, khu vực đã thu hút sự quan tâm đầu tư của nhiều doanh nghiệp du lịch và dịch vụ, đặc biệt là Công ty Cổ phần dịch vụ Tây Yên Tử, cùng với 7 HTX du lịch cộng đồng được thành lập, hoạt động gắn với các điểm tiềm năng gồm: Đồng Cao - Nà Hin: Du lịch sinh thái, khám phá và nghỉ dưỡng cao nguyên; Khe Rỗ - Nà Ó: Du lịch rừng nguyên sinh, tắm suối, ẩm thực dân tộc; Bản Mậu - Ba Tia - Thanh Chung: Du lịch tâm linh - sinh thái - nghỉ dưỡng cộng đồng; Ba Tia: Du lịch tổng hợp, gắn sản phẩm OCOP. Các HTX này đóng vai trò nòng cốt trong mô hình du lịch cộng đồng dựa vào tài nguyên bản địa, vừa tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, vừa góp phần bảo tồn bản sắc và bảo vệ môi trường. Sự hình thành của các HTX đã mở ra cơ hội liên kết tài chính - du lịch - nông nghiệp thông qua các chương trình tín dụng xanh, hỗ trợ khởi nghiệp du lịch nông thôn, ứng dụng ngân hàng số, ví điện tử, mã QR trong thanh toán, quảng bá và quản lý dịch vụ.

Đặc biệt, vị trí địa lý của Tây Yên Tử nằm gần trung tâm tỉnh Bắc Ninh, Thành phố Hà Nội, tỉnh Quảng Ninh - những vùng có hạ tầng giao thông hiện đại - là điều kiện thuận lợi để hình thành liên kết du lịch vùng Trung du - Đồng bằng Bắc Bộ. Khi được đầu tư hạ tầng số, hệ thống thanh toán điện tử và bản đồ du lịch trực tuyến, khu vực Tây Yên Tử hoàn toàn có thể trở thành “điểm đến du lịch thông minh” trong mạng lưới du lịch số hóa của tỉnh Bắc Ninh.

Như vậy, tiềm năng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù Tây Yên Tử không chỉ nằm ở sự phong phú của tài nguyên tự nhiên - văn hóa - xã hội, mà còn ở khả năng chuyển hóa giá trị bản địa thành sản phẩm du lịch số hóa, có tính thương mại cao, hướng tới mục tiêu du lịch bền vững, kinh tế xanh và hội nhập tài chính toàn diện.

Theo số liệu của Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Sơn Động (thời điểm trước khi sáp nhập địa giới đơn vị hành chính), năm 2024, tổng số khách đến các điểm du lịch trên địa bàn (chủ yếu là Tây Yên Tử) đạt gần 3,7 triệu lượt trong giai đoạn 2021 - 2025, doanh thu tăng bình quân 58,3%/năm. Trong đó, khách lưu trú qua đêm đạt hơn 40.000 lượt, doanh thu du lịch ước đạt 450 tỉ đồng vào năm 2025.

Bảng 1. Số lượng khách du lịch và doanh thu khu vực Tây Yên Tử giai đoạn 2021 - 2025

Nguồn: UBND huyện Sơn Động (2024)
Nguồn: UBND huyện Sơn Động (2024)

Trong giai đoạn 2021 - 2025, khu vực Tây Yên Tử đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong phát triển du lịch cộng đồng và xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù. Nổi bật nhất là việc thành lập 07 HTX du lịch cộng đồng tại các xã có tiềm năng cao như Đồng Cao, An Lạc, Vân Sơn, Ba Tia, Bản Mậu, Thanh Chung, góp phần hình thành mạng lưới du lịch sinh thái - văn hóa - tâm linh đa dạng. Các HTX này hoạt động theo mô hình du lịch dựa vào cộng đồng, kết hợp giữa bảo tồn văn hóa bản địa và khai thác kinh tế dịch vụ. Các sản phẩm du lịch đặc thù được phát triển gồm:

- Du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng: Trải nghiệm rừng nguyên sinh Khe Rỗ, suối nước vàng, thác Ba Tia; lưu trú tại nhà sàn, homestay; ẩm thực dân tộc Dao - Tày.

- Du lịch tâm linh: Hành hương tuyến Chùa Thượng - Chùa Hạ - Chùa Đồng, kết nối tuyến Yên Tử - Quảng Ninh.

- Du lịch cộng đồng - OCOP: Kết hợp trải nghiệm làm thổ cẩm, chế biến rượu men lá, sản xuất dược liệu dưới tán rừng, tiêu thụ sản phẩm OCOP qua du lịch.

Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền và quảng bá hình ảnh du lịch Tây Yên Tử được tăng cường thông qua truyền hình, báo chí và mạng xã hội. Giai đoạn 2021 - 2024, địa phương đã xây dựng hơn 30 phóng sự và bản tin quảng bá trên các kênh VTC, Tạp chí Du lịch và nền tảng số địa phương.

Bảng 2.1: Tổng hợp các HTX du lịch cộng đồng khu vực Tây Yên Tử

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

Bảng 2.2: Tổng hợp các HTX du lịch cộng đồng khu vực Tây Yên Tử

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

Các HTX du lịch cộng đồng tại Tây Yên Tử bước đầu đã trở thành nền tảng quan trọng cho phát triển sản phẩm du lịch đặc thù dựa vào cộng đồng, tạo việc làm ổn định cho hơn 200 lao động địa phương (trong đó trên 60% là phụ nữ và thanh niên). Sự tham gia của các tổ chức tín dụng, ngân hàng địa phương bắt đầu được ghi nhận trong một số hoạt động thí điểm như chương trình tín dụng nông thôn xanh, vay vốn ưu đãi cho hộ dân làm du lịch cộng đồng, sử dụng mã QR để thanh toán dịch vụ du lịch. Tuy nhiên, phần lớn các HTX mới chỉ tiếp cận được nguồn vốn hỗ trợ nhỏ lẻ hoặc vay ưu đãi ngắn hạn, chưa có cơ chế hợp vốn - tín dụng xanh - quỹ phát triển du lịch cộng đồng rõ ràng.

Việc ứng dụng ngân hàng số và thanh toán điện tử còn trong giai đoạn thử nghiệm, chủ yếu thông qua hình thức QR nội bộ hoặc hợp tác với các ví điện tử phổ biến. Đây chính là nút thắt cần được tháo gỡ trong giai đoạn tới để nâng cao năng lực tài chính, tính minh bạch và khả năng cạnh tranh của các HTX du lịch cộng đồng Tây Yên Tử.

2.3. Hạn chế, khó khăn trong phát triển du lịch đặc thù khu vực Tây Yên Tử

Mặc dù đạt được nhiều kết quả khởi sắc, sự phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại khu vực Tây Yên Tử vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn và thách thức mang tính hệ thống. Những hạn chế này xuất phát từ cả yếu tố nội tại của địa phương và sự thiếu đồng bộ trong chính sách hỗ trợ, quy hoạch, tài chính và chuyển đổi số.

Thứ nhất, hạn chế trong quy hoạch và quản lý điểm đến: Phần lớn các khu, điểm du lịch tiềm năng của Tây Yên Tử chưa được tích hợp trong quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh Bắc Ninh và quy hoạch không gian vùng Yên Tử. Việc chưa có bản đồ quy hoạch chi tiết, định hướng khai thác và phân vùng bảo tồn khiến nhiều dự án đầu tư vẫn mang tính tự phát, nhỏ lẻ và thiếu cơ sở pháp lý để cấp phép xây dựng hoặc tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Hệ quả là các HTX du lịch cộng đồng gặp khó trong việc lập hồ sơ vay vốn, bảo hiểm rủi ro và đăng ký kinh doanh dịch vụ chính thức.

Thứ hai, hạ tầng giao thông, dịch vụ và hạ tầng số chưa đồng bộ: Kết nối giao thông giữa các điểm du lịch (Đồng Cao - Khe Rỗ - Ba Tia - Bản Mậu) còn hạn chế, nhiều tuyến đường liên thôn xuống cấp hoặc chưa được mở rộng, gây khó khăn cho cả du khách lẫn người dân. Cơ sở lưu trú, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng và dịch vụ phụ trợ còn ít, chưa đạt chuẩn phục vụ khách lưu trú dài ngày. Bên cạnh đó, hạ tầng số vẫn là điểm yếu lớn: Hầu như chưa có bản đồ du lịch trực tuyến, hệ thống dữ liệu du lịch địa phương hoặc mạng Wifi công cộng phục vụ khách du lịch. Việc thiếu nền tảng số làm giảm khả năng quảng bá, giao dịch điện tử và thanh toán không tiền mặt trong hoạt động du lịch cộng đồng.

Thứ ba, năng lực quản trị và kỹ năng du lịch của cộng đồng còn hạn chế: Phần lớn cán bộ quản lý và xã viên trong các HTX du lịch cộng đồng chưa được đào tạo bài bản về quản lý du lịch, quản trị tài chính, hay marketing số. Do đó, các hoạt động du lịch còn thiếu tính chuyên nghiệp, chưa tạo được thương hiệu vùng đặc trưng. Khả năng ứng dụng công nghệ còn rất hạn chế: Nhiều hộ dân chưa sử dụng được các công cụ cơ bản như đặt phòng trực tuyến, mã QR, hay ví điện tử. Tình trạng “làm du lịch theo kinh nghiệm” khiến nhiều hoạt động chỉ dừng ở mức tự phát, thiếu liên kết và thiếu khả năng cạnh tranh với các điểm đến khác trong vùng.

Thứ tư, thiếu nguồn vốn đầu tư và hạn chế trong tiếp cận tài chính - ngân hàng: Đây là điểm nghẽn lớn nhất hiện nay. Các HTX du lịch cộng đồng chủ yếu dựa vào vốn tự có hoặc hỗ trợ nhỏ lẻ từ ngân sách địa phương, trong khi chưa có cơ chế quỹ phát triển du lịch cộng đồng, tín dụng xanh hoặc bảo lãnh vay vốn dành riêng cho khu vực miền núi. Hầu hết các HTX chưa có tài sản thế chấp, sổ sách tài chính minh bạch hoặc dự án đầu tư khả thi - những điều kiện tiên quyết để tiếp cận vốn ngân hàng. Mặc dù một số chương trình như “Du lịch không tiền mặt”, “Tín dụng xanh nông thôn” đã được thí điểm, nhưng quy mô còn nhỏ và thiếu tính lan tỏa.

Thứ năm, thách thức trong bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường: Sự gia tăng khách du lịch tại các điểm như Đồng Cao, Ba Tia, Bản Mậu đã mang lại lợi ích kinh tế, nhưng đồng thời cũng làm phát sinh rác thải, ô nhiễm tiếng ồn và nguy cơ xói mòn cảnh quan. Một số lễ hội, tập tục dân tộc (như lễ cấp sắc, hát Then, múa Dao) có dấu hiệu thương mại hóa, làm giảm giá trị tinh thần và bản sắc. Công tác quản lý môi trường du lịch, xử lý rác thải và nước thải du lịch vẫn chưa có hệ thống, phần lớn dựa vào tự quản của người dân. Nếu không được định hướng theo hướng du lịch sinh thái - văn hóa bền vững, nguy cơ “quá tải du lịch” sẽ tác động tiêu cực tới hệ sinh thái tự nhiên và đời sống cộng đồng.

Thứ sáu, thiếu liên kết chuỗi giá trị giữa du lịch - OCOP - ngân hàng số: Dù có nhiều sản phẩm nông nghiệp đặc sản và sản phẩm OCOP như rượu men lá, mật ong rừng, dược liệu dưới tán rừng, nhưng kênh tiêu thụ vẫn chủ yếu thông qua chợ phiên hoặc bán tại chỗ. Các sản phẩm này chưa được tích hợp vào hệ thống du lịch trải nghiệm - mua sắm trực tuyến - thanh toán điện tử, khiến giá trị gia tăng còn thấp. Việc kết nối giữa các HTX du lịch với ngân hàng số, ví điện tử, sàn thương mại điện tử (Postmart, Voso, Shopee) mới chỉ ở giai đoạn thử nghiệm. Chuỗi giá trị du lịch - thương mại - tài chính vì vậy chưa khép kín, làm hạn chế hiệu quả lan tỏa kinh tế và khả năng thu hút đầu tư tư nhân.

3. Một số giải pháp phát triển sản phẩm du lịch đặc thù khu vực Tây Yên Tử

Phát triển du lịch đặc thù khu vực Tây Yên Tử cần được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ khai thác tài nguyên tự nhiên và văn hóa, mà còn trong khuôn khổ tích hợp chuyển đổi số và tài chính bền vững, nhằm hình thành một chuỗi giá trị du lịch - OCOP - ngân hàng số toàn diện. Trên cơ sở phân tích thực trạng, nghiên cứu đề xuất năm nhóm giải pháp trọng tâm như sau:

Thứ nhất, nhóm giải pháp về quy hoạch và quản lý phát triển. Cần hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Tây Yên Tử gắn với quy hoạch tỉnh Bắc Ninh và vùng du lịch Yên Tử - Quảng Ninh - Hải Phòng. Quy hoạch phải xác định rõ các phân khu chức năng (khu bảo tồn sinh thái, khu du lịch cộng đồng, khu văn hóa - tâm linh, khu dịch vụ thương mại), bảo đảm khai thác hợp lý tài nguyên và bảo tồn di sản.

Chính quyền địa phương cần ban hành cơ chế đặc thù cho du lịch cộng đồng, bao gồm chính sách đất đai, thuế, tín dụng và bảo hiểm du lịch. Đặc biệt, nên thành lập Trung tâm điều phối du lịch Tây Yên Tử trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh, có chức năng kết nối giữa cơ quan quản lý - ngân hàng - doanh nghiệp và HTX du lịch cộng đồng. Trung tâm này sẽ đóng vai trò đầu mối trong cấp phép, hỗ trợ thủ tục vay vốn, xúc tiến đầu tư và đào tạo nhân lực du lịch địa phương.

Song song với đó, cần tăng cường công tác quản lý du lịch số hóa thông qua việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu du lịch, quản lý thống nhất thông tin về khách, doanh thu và hoạt động của các HTX.

Thứ hai, nhóm giải pháp về phát triển hạ tầng và cơ sở vật chất. Để khai thác tiềm năng du lịch đặc thù, cần đầu tư đồng bộ cả hạ tầng giao thông, hạ tầng du lịch và hạ tầng số. Về giao thông, ưu tiên nâng cấp các tuyến đường kết nối Đồng Cao - Khe Rỗ - Ba Tia - Bản Mậu, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách di chuyển, đồng thời khuyến khích mô hình đối tác công - tư (PPP) trong đầu tư các công trình du lịch sinh thái như bãi đỗ xe, trung tâm thông tin, khu nghỉ dưỡng cộng đồng. Về hạ tầng du lịch, cần hỗ trợ người dân cải tạo nhà ở đạt tiêu chuẩn homestay du lịch cộng đồng, xây dựng nhà vệ sinh công cộng, khu ẩm thực truyền thống và trung tâm trưng bày sản phẩm OCOP.

Đặc biệt, hạ tầng số cần được ưu tiên đầu tư, bao gồm: Hệ thống bản đồ du lịch số (Digital Tourism Map) với thông tin về tuyến - tour - lưu trú - sản phẩm đặc trưng; mã QR thống nhất cho điểm du lịch, cơ sở dịch vụ và sản phẩm OCOP; mạng Wifi công cộng tại các điểm du lịch chính, kết hợp quảng bá và quản lý dịch vụ trực tuyến; ứng dụng du lịch không rác thải và mô hình xử lý nước thải, rác thải thân thiện môi trường.

Thứ ba, nhóm giải pháp về tài chính xanh và ngân hàng số. Đây là giải pháp trọng tâm để bảo đảm tính bền vững và lan tỏa kinh tế của mô hình du lịch cộng đồng. Nghiên cứu, tính toán khả năng hình thành “Quỹ Phát triển Du lịch Cộng đồng Tây Yên Tử”, do tỉnh Bắc Ninh chủ trì, huy động từ ngân sách, doanh nghiệp, ngân hàng thương mại. Quỹ này có nhiệm vụ hỗ trợ vay vốn ưu đãi, đầu tư cơ sở vật chất du lịch cộng đồng, phát triển sản phẩm đặc thù và phục hồi lễ hội, nghề truyền thống.

Tiếp theo, cần tích hợp ngân hàng số và tín dụng xanh vào hoạt động du lịch: Các ngân hàng thương mại nên triển khai gói “Tín dụng xanh du lịch cộng đồng” với lãi suất ưu đãi, thủ tục linh hoạt, dành cho các HTX và hộ kinh doanh dịch vụ du lịch.

Khuyến khích áp dụng ngân hàng số, ví điện tử và mã QR trong thanh toán dịch vụ du lịch, mua sắm sản phẩm OCOP, và đặt phòng trực tuyến, hướng tới mô hình “Du lịch không tiền mặt”. Tăng cường chính sách bảo lãnh tín dụng và bảo hiểm du lịch cộng đồng, giúp giảm rủi ro và tăng khả năng vay vốn của các HTX. Khuyến khích sự tham gia của các ngân hàng thương mại, quỹ đầu tư xanh và tổ chức tài chính vi mô trong việc hỗ trợ đổi mới mô hình kinh doanh du lịch bền vững.

Thông qua các giải pháp này, khu vực Tây Yên Tử có thể hình thành chuỗi giá trị tài chính - du lịch - thương mại, đảm bảo dòng vốn lưu thông minh bạch, ổn định và góp phần thực hiện mục tiêu “tài chính toàn diện” tại nông thôn miền núi Bắc Ninh.

Thứ tư, nhóm giải pháp về chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Chuyển đổi số là động lực then chốt để hiện đại hóa quản lý và nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch cộng đồng Tây Yên Tử. Các nội dung ưu tiên gồm:

- Số hóa dữ liệu du lịch: Tạo cơ sở dữ liệu chung về điểm đến, lưu trú, sản phẩm OCOP, khách du lịch; triển khai cổng thông tin điện tử “du lịch số Tây Yên Tử”.

- Ứng dụng công nghệ thông minh: Phát triển ứng dụng du lịch thông minh trên điện thoại, hỗ trợ tìm kiếm tuyến du lịch, hướng dẫn bằng mã QR, đánh giá dịch vụ và thanh toán trực tuyến.

- Truyền thông số: Hỗ trợ HTX xây dựng Website, Fanpage, kênh YouTube và TikTok quảng bá hình ảnh; tổ chức các chiến dịch truyền thông “Du lịch xanh - Du lịch số Tây Yên Tử”.

- Kết nối hệ sinh thái du lịch - OCOP - ngân hàng số: Liên kết các sản phẩm OCOP với sàn thương mại điện tử (Postmart, Voso, Shopee, Lazada) và hệ thống ví điện tử, giúp khách du lịch có thể trải nghiệm - mua hàng - thanh toán ngay trên cùng một nền tảng.

Việc thực hiện đồng bộ cac giải pháp sẽ giúp hình thành mô hình du lịch cộng đồng tích hợp tài chính xanh và chuyển đổi số, trong đó các HTX du lịch cộng đồng đóng vai trò trung tâm, ngân hàng và doanh nghiệp là nguồn lực hỗ trợ, còn người dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng. Mục tiêu đến năm 2030 là đưa khu vực Tây Yên Tử trở thành điểm đến du lịch thông minh, xanh và bền vững, nơi du khách có thể trải nghiệm thiên nhiên, văn hóa và các giá trị cộng đồng thông qua hệ thống thanh toán điện tử và dịch vụ số hiện đại. Đây cũng là hướng đi phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế số - tài chính toàn diện - nông thôn mới kiểu mẫu của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2025 - 2035.

5. Kết luận

Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù khu vực Tây Yên Tử là hướng đi đúng đắn nhằm khai thác tiềm năng tự nhiên - văn hóa của địa phương gắn với xu thế chuyển đổi số và tài chính xanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù các HTX du lịch cộng đồng đã hình thành và tạo dấu ấn ban đầu, song khu vực này vẫn đối mặt với nhiều thách thức về hạ tầng, nguồn vốn, nhân lực và công nghệ.

Để khắc phục, cần triển khai đồng bộ năm nhóm giải pháp: Hoàn thiện quy hoạch - quản lý điểm đến; phát triển hạ tầng và dịch vụ số; mở rộng tín dụng xanh và ngân hàng số; thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; cùng với nâng cao năng lực cộng đồng. Việc hình thành mô hình “du lịch cộng đồng tích hợp tài chính xanh và chuyển đổi số” sẽ giúp Tây Yên Tử không chỉ trở thành điểm đến du lịch thông minh, mà còn là hình mẫu về hệ sinh thái du lịch - OCOP - ngân hàng số của vùng trung du Bắc Bộ, đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế số và du lịch bền vững của tỉnh Bắc Ninh.

Bài viết là sản phẩm của Đề tài nghiên cứu khoa học “Phát huy giá trị địa sinh thái - nhân văn nhằm phát triển sản phẩm du lịch đặc thù ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang” (thời điểm trước sáp nhập địa giới đơn vị hành chính với tỉnh Bắc Ninh) (Hợp đồng số 06/HĐKH-ĐLNV) do Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam chủ trì.

Tài liệu tham khảo

1. Cục Thống kê tỉnh Bắc Giang (nay là Chi cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh) (2024). Niên giám thống kê huyện Sơn Động (trước sáp nhập địa giới đơn vị hành chính) giai đoạn 2020 - 2024.

2. Phạm Trung Lương (2007). Cơ sở khoa học phát triển sản phẩm du lịch đặc thù. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

3. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh (2024). Báo cáo quy hoạch phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2025 - 2035.

4. UBND huyện Sơn Động (trước sáp nhập địa giới đơn vị hành chính) (2024). Báo cáo tổng kết 3 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/HU về phát triển du lịch sinh thái và cộng đồng.

5. United Nations World Tourism Organization (UNWTO) (2023). Sustainable finance and community-based tourism: Guidelines for inclusive growth. Madrid: UNWTO Publications.

6. Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD) (2022). Digital transformation in tourism: Policies for a smarter future. Paris: OECD Publishing.

7. World Bank (2025). Tourism for development in a digital economy. Washington, D.C.

8. Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2024). Nghị quyết số 45/NQ-HĐND về phát triển du lịch thông minh và chuyển đổi số trong lĩnh vực dịch vụ. Bắc Ninh.

9. Nguyễn Thị Hồng Nhung, Trần Văn Minh (2023). Mô hình tài chính bền vững trong du lịch nông thôn Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 8(780), trang 58-65.

10. Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (2024). Báo cáo quốc gia về phát triển HTX du lịch cộng đồng.

11. World Economic Forum (WEF) (2024). Travel and Tourism Development Index 2024: Advancing Resilience and Digitalization. Geneva: WEF.

12. Tổng cục Du lịch Việt Nam (nay là Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, 2023). Báo cáo xu hướng phát triển du lịch xanh và thông minh tại Việt Nam.

13. UNESCO (2023). Community-based tourism and cultural heritage conservation in Southeast Asia. Bangkok: UNESCO Regional Office.

14. Vũ Hồng Minh (2024). Giải pháp nâng cao năng lực chuyển đổi số cho HTX du lịch vùng miền núi. Tạp chí Công Thương, 2(6), trang 40-48.

15. Ban quản lý Khu du lịch Tây Yên Tử (2024). Hồ sơ quy hoạch phát triển du lịch cộng đồng khu vực Tây Yên Tử.

ThS. Nguyễn Thị Thu Hà, TS. Nguyễn Đình Đáp
Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Tin bài khác

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Bài viết phân tích những định hướng sửa đổi quan trọng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7) về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong bối cảnh tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính.
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối