Huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình phát huy hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội

Hoạt động ngân hàng
Theo thống kê, huyện Tân Lạc có 5 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn với 146 xóm thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, 24 xóm đặc biệt khó khăn.
aa
Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội (Chỉ thị 40-CT/TW), hàng nghìn lượt hộ nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình đã được vay vốn tín dụng chính sách xã hội phát triển sản xuất, kinh doanh; góp phần tích cực cùng địa phương thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới.

Tân Lạc là huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Hòa Bình, có diện tích tự nhiên khoảng 52,3 km2, trong đó hơn 80% là rừng núi. Tân Lạc hiện nay chủ yếu có hai dân tộc anh em chung sống là dân tộc Mường và dân tộc Kinh, trong đó dân tộc Mường chiếm tới 85%.

Theo thống kê, huyện Tân Lạc có 5 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn với 146 xóm thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, 24 xóm đặc biệt khó khăn. Trước thực trạng trên, Đảng bộ, chính quyền huyện Tân Lạc coi giảm nghèo là một quyết tâm chính trị trọng tâm, huy động trí tuệ, sức lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân các dân tộc trong huyện; trong đó xác định tầm quan trọng của tín dụng chính sách xã hội và vai trò của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) trong việc thực hiện ba chương trình mục tiêu quốc gia và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương... nhằm thực hiện mục tiêu đến cuối năm 2024 giảm tỉ lệ hộ nghèo toàn huyện còn 7,35%.

Ông Lê Chí Huyên - Phó Chủ tịch huyện Tân Lạc cho biết, là huyện miền núi có tới 85% dân số là người đồng bào dân tộc Mường, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn thì nguồn tín dụng ưu đãi của NHCSXH có vai trò rất quan trọng. Ông Lê Chí Huyên khẳng định: “Chúng tôi đánh giá cao hoạt động của NHCSXH trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, góp phần bảo đảm an sinh xã hội địa phương. Đặc biệt, khi có Chỉ thị 40-CT/TW, cấp ủy, chính quyền địa phương đã rất khẩn trương vào cuộc, triển khai ban hành các văn bản chỉ đạo, tuyên truyền tới cấp ủy, đảng viên và đã thu được nhiều kết quả tích cực”.

Huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình phát huy hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội
Người dân tới Điểm giao dịch NHCSXH tại xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình vay vốn tín dụng chính sách

Phó Chủ tịch huyện Tân Lạc Lê Chí Huyên đánh giá rất cao sự tham gia của NHCSXH trong việc hỗ trợ bà con nguồn vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh, bảo đảm sinh kế. Theo ông Lê Chí Huyên, sau 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW có thể thấy rõ hai điểm nổi bật tại huyện Tân Lạc: Thứ nhất, tỉ lệ giảm nghèo qua từng năm, riêng năm 2024, mục tiêu đưa ra là giảm từ 9,4% xuống 7%, nhưng kết quả sơ bộ đến nay đã giảm 6,8% - vượt chỉ tiêu. Thứ hai, trước đây, huyện Tân Lạc có 10 xã vùng đặc biệt khó khăn thì nay chỉ còn 5 xã. Đặc biệt, khi triển khai Chỉ thị 40-CT/TW, Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Tân Lạc đã tham mưu cho Huyện ủy ban hành Nghị quyết chuyên đề về ủy thác ngân sách địa phương sang NHCSXH cho vay. Vốn ngân sách địa phương chuyển sang NHCSXH tăng trưởng qua từng năm; mục tiêu đến năm 2030, con số này đạt khoảng 40 tỉ đồng. Đây là nỗ lực, cố gắng hết mình của một huyện miền núi, bởi 40 tỉ đồng là số tiền không nhỏ, tương đương với thu ngân sách của huyện trong một năm.

Quả ngọt đến từ nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội

Mô hình trồng quýt ngọt ở xã vùng cao Vân Sơn đã giúp gia đình anh Hà Công Lợi ở xóm Chiến, xã Vân Sơn, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình thuộc diện hộ nghèo đã thoát nghèo vào năm 2021. Anh Hà Công Lợi chia sẻ, gia đình anh được tiếp cận vay vốn Chương trình vốn cho vay hộ sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn từ NHCSXH với số tiền 50 triệu đồng. Nhận thấy Vân Sơn có khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp với việc trồng quýt, cho chất lượng quả ngọt, năng suất cao, do vậy, gia đình anh đã đầu tư trồng quýt với khoảng 500 gốc, trong đó có hơn 300 cây quýt ngọt và gần 200 cây quýt hôi. Thời điểm đầu mùa, thương lái vào vườn mua với giá 50 nghìn đồng/kg quýt, còn hiện tại là 25 nghìn đồng/kg. Thời điểm giáp Tết Ất Tỵ kỳ vọng quýt sẽ bán được giá hơn.

Ngoài việc chăm sóc vườn quýt, gia đình anh Hà Công Lợi còn chăn nuôi thêm 2 con bò mẹ và 10 con lợn, qua đó giúp đời sống gia đình thêm ổn định.

Gia đình anh Ngô Ngọc Hải ở xóm 1, xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình là một trong nhiều hộ vay điển hình về sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay từ NHCSXH. Vốn sinh ra ở làng quê Nam Định, anh Ngô Ngọc Hải đi xây dựng kinh tế mới ở vùng núi tỉnh Hòa Bình. Chọn huyện Tân Lạc là nơi an cư, lạc nghiệp, ban đầu, gia đình anh gặp không ít khó khăn, nhưng bằng ý chí, nghị lực vượt khó cùng với nguồn vốn vay từ NHCSXH, qua nhiều vòng vay vốn, đến nay, gia đình anh đã gây dựng được vườn bưởi đỏ Tân Lạc với gần 200 gốc, cứ đến vụ là thương lái đến mua, cho thu nhập hằng năm khoảng 200 triệu đồng. Hiện nay, gia đình anh Ngô Ngọc Hải đang còn dư nợ của NHCSXH 40 triệu đồng vốn giải quyết việc làm và 20 triệu đồng vốn vay chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

Huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình phát huy hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội
Nhờ nguồn vốn vay từ NHCSXH, anh Hà Công Lợi, xóm Chiến, xã Vân Sơn, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình đã đầu tư trồng quýt vươn lên thoát nghèo

Thực tế, trong những năm qua, tại xã Tử Nê có rất nhiều hộ dân vay vốn tín dụng chính sách xã hội đầu tư phát triển kinh tế hộ, vươn lên thoát nghèo, đóng góp vào tỉ lệ giảm nghèo nhanh của huyện Tân Lạc.

Ông Quách Văn Hoạt, Phó Bí thư xã Tử Nê, huyện Tân Lạc cho biết, năm 2010, xã Tử Nê có 32,6% hộ nghèo; từ khi có Chỉ thị 40-CT/TW, giai đoạn 2014 - 2015, tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 13,73% (138 hộ); đến năm 2024, tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 2,26%, tương ứng 23 hộ.

Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW, đến nay, Tử Nê là xã có tỉ lệ hộ nghèo thấp nhất huyện Tân Lạc. Tính đến ngày 30/10/2024, dư nợ cho vay của NHCSXH trên địa bàn xã Tử Nê đạt 17.435 triệu đồng. Nguồn vốn cho vay tập trung vào chăn nuôi trâu, bò, lợn và trồng trọt các loại cây như bưởi đỏ Tân Lạc, quýt ngọt… cho hiệu quả cao, giúp bà con có việc làm, nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống.

Sức mạnh của Chỉ thị 40-CT/TW trong thực hiện tín dụng chính sách xã hội

Tính đến ngày 31/10/2024, tổng nguồn vốn của NHCSXH huyện Tân Lạc đạt 578.823 triệu đồng, tăng 378.988 triệu đồng (tăng 189,7%) so với năm 2014, bình quân mỗi năm tăng 37.898 triệu đồng. Trong đó: Nguồn vốn cân đối từ Trung ương là 507.813 triệu đồng, chiếm 87,7% tổng nguồn vốn, tăng 308.825 triệu đồng (154,5%) so với năm 2014; nguồn vốn huy động từ địa phương đạt 57.205 triệu đồng, chiếm 9,9% tổng nguồn vốn, tăng 52.898 triệu đồng (tăng 1.228%) so với cuối năm 2014; nguồn vốn ủy thác tại địa phương đạt 13.805 triệu đồng, chiếm 2,4% tổng nguồn vốn; trong khi đó, trước khi có Chỉ thị 40-CT/TW trong cơ cấu nguồn vốn của NHCSXH huyện Tân Lạc không có nguồn vốn từ ngân sách địa phương.

Ngoài nguồn vốn ngân sách địa phương, NHCSXH còn tập trung huy động từ tổ chức, cá nhân, tính đến ngày 31/10/2024 vốn huy động đạt 57.205 triệu đồng, chiếm 9,9% tổng nguồn vốn, tăng 52.898 triệu đồng (tăng 1.228%) so với năm 2014; trong đó: Nguồn vốn huy động tiền gửi tiết kiệm của tổ viên thông qua Tổ Tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) là 17.721 triệu đồng với 289 Tổ TK&VV tham gia huy động tiền gửi tiết kiệm, đạt 100% trên tổng số Tổ TK&VV của toàn huyện Tân Lạc. Việc triển khai huy động tiền gửi của tổ viên Tổ TK&VV có tác dụng tạo điều kiện cho hộ nghèo và đối tượng chính sách có thói quen thường xuyên thực hành tiết kiệm, nhằm tích góp, gây dựng nguồn hỗ trợ cho việc trả nợ NHCSXH, tạo lập vốn tự có, đồng thời góp phần bổ sung nguồn cho vay đối với hộ nghèo và đối tượng chính sách trên địa bàn.

Đến ngày 30/10/2024, tổng dư nợ các chương trình tín dụng là 577.757 triệu đồng, tăng 378.205 triệu đồng (tăng 189,5%) so với năm 2014. Trong 10 năm thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW, doanh số cho vay đạt trên 1.259 tỉ đồng, với trên 36.400 lượt khách hàng vay vốn. Nguồn vốn của NHCSXH đã góp phần giúp cho 7.966 lượt hộ thoát nghèo; giúp hộ nghèo xây dựng được 1.941 ngôi nhà để ổn định đời sống; xây dựng được 11.301 công trình nước sạch và vệ sinh môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng nông thôn mới; hàng chục nghìn lao động trong huyện Tân Lạc được tạo việc làm từ các chương trình tín dụng của NHCSXH và còn rất nhiều hộ gia đình tuy chưa thoát khỏi khó khăn về kinh tế, song nhờ nguồn vốn vay ưu đãi đã có cơ hội làm chủ cuộc sống, thay đổi tập quán làm ăn, ý thức trách nhiệm với cộng đồng.

Bên cạnh đó, sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền huyện Tân Lạc như quan tâm tạo điều kiện trợ giúp về cơ sở vật chất cho điểm giao dịch của NHCSXH, nâng cao hiệu quả và năng lực hoạt động; hiện toàn huyện có 16 điểm giao dịch đặt tại trụ sở UBND các xã, thị trấn, bảo đảm công tác an ninh, an toàn tại các ngày trực giao dịch (kể cả ngày thứ 7, chủ nhật). Hằng tháng, giao dịch vào ngày cố định đã giúp người nghèo và đối tượng chính sách tiếp cận các chương trình ưu đãi của Chính phủ một cách thuận lợi, tiết giảm chi phí; đồng thời, tăng cường sự giám sát của chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực thi tín dụng chính sách, qua đó nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Chính phủ kịp thời đến đúng với đối tượng hộ nghèo và đối tượng chính sách có nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện cuộc sống, vươn lên thoát nghèo.

Có thể thấy, hoạt động tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn huyện Tân Lạc trong 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, tạo ra một kênh dẫn vốn hữu hiệu, tin cậy đối với nhân dân, cấp ủy Đảng, chính quyền, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả vốn tín dụng chính sách, giúp người nghèo và đối tượng chính sách khác tiếp cận với dịch vụ tài chính, tiết kiệm của NHCSXH một cách nhanh chóng, thuận lợi, an toàn, tiết kiệm thời gian, chi phí khi vay vốn; đồng thời, giúp người nghèo và đối tượng chính sách khác sử dụng vốn hiệu quả, phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao thu nhập, cải thiện, ổn định cuộc sống vươn lên làm giàu, góp phần quan trọng thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Tân Lạc.

Mai Lâm

Tin bài khác

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Ngày 03/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm sơ kết, đánh giá những kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức, khó khăn, đề ra giải pháp, định hướng thời gian tới. Thống đốc Phạm Đức Ấn và Ban Lãnh đạo NHNN điều hành Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục thuộc NHNN, lãnh đạo các tổ chức, Hiệp hội trong Ngành, các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới điểm cầu NHNN chi nhánh các khu vực.
Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Những tháng đầu năm 2026, nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, thúc đẩy tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và đạt được những kết quả tích cực. Tính đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Về cơ bản, cơ cấu tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong đó cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Bài viết phân tích sự chuyển dịch của ngành Ngân hàng từ mô hình cung cấp sản phẩm sang xây dựng hệ sinh thái số gắn với phong cách sống, làm rõ các mô hình tiêu biểu trên thế giới và đề xuất những hàm ý chiến lược giúp ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
Xem thêm
Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng gia tăng, xây dựng quốc gia biển mạnh không chỉ dựa vào khai thác tài nguyên và sức mạnh hàng hải, mà phải được đặt trên nền tảng quản trị biển hiện đại, nâng cao năng lực khoa học - công nghệ cũng như bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ hiện đại đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy