Huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình phát huy hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội

Hoạt động ngân hàng
Theo thống kê, huyện Tân Lạc có 5 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn với 146 xóm thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, 24 xóm đặc biệt khó khăn.
aa
Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội (Chỉ thị 40-CT/TW), hàng nghìn lượt hộ nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình đã được vay vốn tín dụng chính sách xã hội phát triển sản xuất, kinh doanh; góp phần tích cực cùng địa phương thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới.

Tân Lạc là huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Hòa Bình, có diện tích tự nhiên khoảng 52,3 km2, trong đó hơn 80% là rừng núi. Tân Lạc hiện nay chủ yếu có hai dân tộc anh em chung sống là dân tộc Mường và dân tộc Kinh, trong đó dân tộc Mường chiếm tới 85%.

Theo thống kê, huyện Tân Lạc có 5 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn với 146 xóm thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, 24 xóm đặc biệt khó khăn. Trước thực trạng trên, Đảng bộ, chính quyền huyện Tân Lạc coi giảm nghèo là một quyết tâm chính trị trọng tâm, huy động trí tuệ, sức lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân các dân tộc trong huyện; trong đó xác định tầm quan trọng của tín dụng chính sách xã hội và vai trò của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) trong việc thực hiện ba chương trình mục tiêu quốc gia và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương... nhằm thực hiện mục tiêu đến cuối năm 2024 giảm tỉ lệ hộ nghèo toàn huyện còn 7,35%.

Ông Lê Chí Huyên - Phó Chủ tịch huyện Tân Lạc cho biết, là huyện miền núi có tới 85% dân số là người đồng bào dân tộc Mường, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn thì nguồn tín dụng ưu đãi của NHCSXH có vai trò rất quan trọng. Ông Lê Chí Huyên khẳng định: “Chúng tôi đánh giá cao hoạt động của NHCSXH trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, góp phần bảo đảm an sinh xã hội địa phương. Đặc biệt, khi có Chỉ thị 40-CT/TW, cấp ủy, chính quyền địa phương đã rất khẩn trương vào cuộc, triển khai ban hành các văn bản chỉ đạo, tuyên truyền tới cấp ủy, đảng viên và đã thu được nhiều kết quả tích cực”.

Huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình phát huy hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội
Người dân tới Điểm giao dịch NHCSXH tại xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình vay vốn tín dụng chính sách

Phó Chủ tịch huyện Tân Lạc Lê Chí Huyên đánh giá rất cao sự tham gia của NHCSXH trong việc hỗ trợ bà con nguồn vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh, bảo đảm sinh kế. Theo ông Lê Chí Huyên, sau 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW có thể thấy rõ hai điểm nổi bật tại huyện Tân Lạc: Thứ nhất, tỉ lệ giảm nghèo qua từng năm, riêng năm 2024, mục tiêu đưa ra là giảm từ 9,4% xuống 7%, nhưng kết quả sơ bộ đến nay đã giảm 6,8% - vượt chỉ tiêu. Thứ hai, trước đây, huyện Tân Lạc có 10 xã vùng đặc biệt khó khăn thì nay chỉ còn 5 xã. Đặc biệt, khi triển khai Chỉ thị 40-CT/TW, Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Tân Lạc đã tham mưu cho Huyện ủy ban hành Nghị quyết chuyên đề về ủy thác ngân sách địa phương sang NHCSXH cho vay. Vốn ngân sách địa phương chuyển sang NHCSXH tăng trưởng qua từng năm; mục tiêu đến năm 2030, con số này đạt khoảng 40 tỉ đồng. Đây là nỗ lực, cố gắng hết mình của một huyện miền núi, bởi 40 tỉ đồng là số tiền không nhỏ, tương đương với thu ngân sách của huyện trong một năm.

Quả ngọt đến từ nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội

Mô hình trồng quýt ngọt ở xã vùng cao Vân Sơn đã giúp gia đình anh Hà Công Lợi ở xóm Chiến, xã Vân Sơn, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình thuộc diện hộ nghèo đã thoát nghèo vào năm 2021. Anh Hà Công Lợi chia sẻ, gia đình anh được tiếp cận vay vốn Chương trình vốn cho vay hộ sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn từ NHCSXH với số tiền 50 triệu đồng. Nhận thấy Vân Sơn có khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp với việc trồng quýt, cho chất lượng quả ngọt, năng suất cao, do vậy, gia đình anh đã đầu tư trồng quýt với khoảng 500 gốc, trong đó có hơn 300 cây quýt ngọt và gần 200 cây quýt hôi. Thời điểm đầu mùa, thương lái vào vườn mua với giá 50 nghìn đồng/kg quýt, còn hiện tại là 25 nghìn đồng/kg. Thời điểm giáp Tết Ất Tỵ kỳ vọng quýt sẽ bán được giá hơn.

Ngoài việc chăm sóc vườn quýt, gia đình anh Hà Công Lợi còn chăn nuôi thêm 2 con bò mẹ và 10 con lợn, qua đó giúp đời sống gia đình thêm ổn định.

Gia đình anh Ngô Ngọc Hải ở xóm 1, xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình là một trong nhiều hộ vay điển hình về sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay từ NHCSXH. Vốn sinh ra ở làng quê Nam Định, anh Ngô Ngọc Hải đi xây dựng kinh tế mới ở vùng núi tỉnh Hòa Bình. Chọn huyện Tân Lạc là nơi an cư, lạc nghiệp, ban đầu, gia đình anh gặp không ít khó khăn, nhưng bằng ý chí, nghị lực vượt khó cùng với nguồn vốn vay từ NHCSXH, qua nhiều vòng vay vốn, đến nay, gia đình anh đã gây dựng được vườn bưởi đỏ Tân Lạc với gần 200 gốc, cứ đến vụ là thương lái đến mua, cho thu nhập hằng năm khoảng 200 triệu đồng. Hiện nay, gia đình anh Ngô Ngọc Hải đang còn dư nợ của NHCSXH 40 triệu đồng vốn giải quyết việc làm và 20 triệu đồng vốn vay chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

Huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình phát huy hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội
Nhờ nguồn vốn vay từ NHCSXH, anh Hà Công Lợi, xóm Chiến, xã Vân Sơn, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình đã đầu tư trồng quýt vươn lên thoát nghèo

Thực tế, trong những năm qua, tại xã Tử Nê có rất nhiều hộ dân vay vốn tín dụng chính sách xã hội đầu tư phát triển kinh tế hộ, vươn lên thoát nghèo, đóng góp vào tỉ lệ giảm nghèo nhanh của huyện Tân Lạc.

Ông Quách Văn Hoạt, Phó Bí thư xã Tử Nê, huyện Tân Lạc cho biết, năm 2010, xã Tử Nê có 32,6% hộ nghèo; từ khi có Chỉ thị 40-CT/TW, giai đoạn 2014 - 2015, tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 13,73% (138 hộ); đến năm 2024, tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 2,26%, tương ứng 23 hộ.

Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW, đến nay, Tử Nê là xã có tỉ lệ hộ nghèo thấp nhất huyện Tân Lạc. Tính đến ngày 30/10/2024, dư nợ cho vay của NHCSXH trên địa bàn xã Tử Nê đạt 17.435 triệu đồng. Nguồn vốn cho vay tập trung vào chăn nuôi trâu, bò, lợn và trồng trọt các loại cây như bưởi đỏ Tân Lạc, quýt ngọt… cho hiệu quả cao, giúp bà con có việc làm, nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống.

Sức mạnh của Chỉ thị 40-CT/TW trong thực hiện tín dụng chính sách xã hội

Tính đến ngày 31/10/2024, tổng nguồn vốn của NHCSXH huyện Tân Lạc đạt 578.823 triệu đồng, tăng 378.988 triệu đồng (tăng 189,7%) so với năm 2014, bình quân mỗi năm tăng 37.898 triệu đồng. Trong đó: Nguồn vốn cân đối từ Trung ương là 507.813 triệu đồng, chiếm 87,7% tổng nguồn vốn, tăng 308.825 triệu đồng (154,5%) so với năm 2014; nguồn vốn huy động từ địa phương đạt 57.205 triệu đồng, chiếm 9,9% tổng nguồn vốn, tăng 52.898 triệu đồng (tăng 1.228%) so với cuối năm 2014; nguồn vốn ủy thác tại địa phương đạt 13.805 triệu đồng, chiếm 2,4% tổng nguồn vốn; trong khi đó, trước khi có Chỉ thị 40-CT/TW trong cơ cấu nguồn vốn của NHCSXH huyện Tân Lạc không có nguồn vốn từ ngân sách địa phương.

Ngoài nguồn vốn ngân sách địa phương, NHCSXH còn tập trung huy động từ tổ chức, cá nhân, tính đến ngày 31/10/2024 vốn huy động đạt 57.205 triệu đồng, chiếm 9,9% tổng nguồn vốn, tăng 52.898 triệu đồng (tăng 1.228%) so với năm 2014; trong đó: Nguồn vốn huy động tiền gửi tiết kiệm của tổ viên thông qua Tổ Tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) là 17.721 triệu đồng với 289 Tổ TK&VV tham gia huy động tiền gửi tiết kiệm, đạt 100% trên tổng số Tổ TK&VV của toàn huyện Tân Lạc. Việc triển khai huy động tiền gửi của tổ viên Tổ TK&VV có tác dụng tạo điều kiện cho hộ nghèo và đối tượng chính sách có thói quen thường xuyên thực hành tiết kiệm, nhằm tích góp, gây dựng nguồn hỗ trợ cho việc trả nợ NHCSXH, tạo lập vốn tự có, đồng thời góp phần bổ sung nguồn cho vay đối với hộ nghèo và đối tượng chính sách trên địa bàn.

Đến ngày 30/10/2024, tổng dư nợ các chương trình tín dụng là 577.757 triệu đồng, tăng 378.205 triệu đồng (tăng 189,5%) so với năm 2014. Trong 10 năm thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW, doanh số cho vay đạt trên 1.259 tỉ đồng, với trên 36.400 lượt khách hàng vay vốn. Nguồn vốn của NHCSXH đã góp phần giúp cho 7.966 lượt hộ thoát nghèo; giúp hộ nghèo xây dựng được 1.941 ngôi nhà để ổn định đời sống; xây dựng được 11.301 công trình nước sạch và vệ sinh môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng nông thôn mới; hàng chục nghìn lao động trong huyện Tân Lạc được tạo việc làm từ các chương trình tín dụng của NHCSXH và còn rất nhiều hộ gia đình tuy chưa thoát khỏi khó khăn về kinh tế, song nhờ nguồn vốn vay ưu đãi đã có cơ hội làm chủ cuộc sống, thay đổi tập quán làm ăn, ý thức trách nhiệm với cộng đồng.

Bên cạnh đó, sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền huyện Tân Lạc như quan tâm tạo điều kiện trợ giúp về cơ sở vật chất cho điểm giao dịch của NHCSXH, nâng cao hiệu quả và năng lực hoạt động; hiện toàn huyện có 16 điểm giao dịch đặt tại trụ sở UBND các xã, thị trấn, bảo đảm công tác an ninh, an toàn tại các ngày trực giao dịch (kể cả ngày thứ 7, chủ nhật). Hằng tháng, giao dịch vào ngày cố định đã giúp người nghèo và đối tượng chính sách tiếp cận các chương trình ưu đãi của Chính phủ một cách thuận lợi, tiết giảm chi phí; đồng thời, tăng cường sự giám sát của chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực thi tín dụng chính sách, qua đó nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Chính phủ kịp thời đến đúng với đối tượng hộ nghèo và đối tượng chính sách có nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện cuộc sống, vươn lên thoát nghèo.

Có thể thấy, hoạt động tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn huyện Tân Lạc trong 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, tạo ra một kênh dẫn vốn hữu hiệu, tin cậy đối với nhân dân, cấp ủy Đảng, chính quyền, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả vốn tín dụng chính sách, giúp người nghèo và đối tượng chính sách khác tiếp cận với dịch vụ tài chính, tiết kiệm của NHCSXH một cách nhanh chóng, thuận lợi, an toàn, tiết kiệm thời gian, chi phí khi vay vốn; đồng thời, giúp người nghèo và đối tượng chính sách khác sử dụng vốn hiệu quả, phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao thu nhập, cải thiện, ổn định cuộc sống vươn lên làm giàu, góp phần quan trọng thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Tân Lạc.

Mai Lâm

Tin bài khác

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Ngày 03/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm sơ kết, đánh giá những kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức, khó khăn, đề ra giải pháp, định hướng thời gian tới. Thống đốc Phạm Đức Ấn và Ban Lãnh đạo NHNN điều hành Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục thuộc NHNN, lãnh đạo các tổ chức, Hiệp hội trong Ngành, các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới điểm cầu NHNN chi nhánh các khu vực.
Xem thêm
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại