Huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình phát huy hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội

Hoạt động ngân hàng
Theo thống kê, huyện Tân Lạc có 5 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn với 146 xóm thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, 24 xóm đặc biệt khó khăn.
aa
Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội (Chỉ thị 40-CT/TW), hàng nghìn lượt hộ nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình đã được vay vốn tín dụng chính sách xã hội phát triển sản xuất, kinh doanh; góp phần tích cực cùng địa phương thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới.

Tân Lạc là huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Hòa Bình, có diện tích tự nhiên khoảng 52,3 km2, trong đó hơn 80% là rừng núi. Tân Lạc hiện nay chủ yếu có hai dân tộc anh em chung sống là dân tộc Mường và dân tộc Kinh, trong đó dân tộc Mường chiếm tới 85%.

Theo thống kê, huyện Tân Lạc có 5 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn với 146 xóm thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, 24 xóm đặc biệt khó khăn. Trước thực trạng trên, Đảng bộ, chính quyền huyện Tân Lạc coi giảm nghèo là một quyết tâm chính trị trọng tâm, huy động trí tuệ, sức lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân các dân tộc trong huyện; trong đó xác định tầm quan trọng của tín dụng chính sách xã hội và vai trò của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) trong việc thực hiện ba chương trình mục tiêu quốc gia và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương... nhằm thực hiện mục tiêu đến cuối năm 2024 giảm tỉ lệ hộ nghèo toàn huyện còn 7,35%.

Ông Lê Chí Huyên - Phó Chủ tịch huyện Tân Lạc cho biết, là huyện miền núi có tới 85% dân số là người đồng bào dân tộc Mường, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn thì nguồn tín dụng ưu đãi của NHCSXH có vai trò rất quan trọng. Ông Lê Chí Huyên khẳng định: “Chúng tôi đánh giá cao hoạt động của NHCSXH trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, góp phần bảo đảm an sinh xã hội địa phương. Đặc biệt, khi có Chỉ thị 40-CT/TW, cấp ủy, chính quyền địa phương đã rất khẩn trương vào cuộc, triển khai ban hành các văn bản chỉ đạo, tuyên truyền tới cấp ủy, đảng viên và đã thu được nhiều kết quả tích cực”.

Huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình phát huy hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội
Người dân tới Điểm giao dịch NHCSXH tại xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình vay vốn tín dụng chính sách

Phó Chủ tịch huyện Tân Lạc Lê Chí Huyên đánh giá rất cao sự tham gia của NHCSXH trong việc hỗ trợ bà con nguồn vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh, bảo đảm sinh kế. Theo ông Lê Chí Huyên, sau 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW có thể thấy rõ hai điểm nổi bật tại huyện Tân Lạc: Thứ nhất, tỉ lệ giảm nghèo qua từng năm, riêng năm 2024, mục tiêu đưa ra là giảm từ 9,4% xuống 7%, nhưng kết quả sơ bộ đến nay đã giảm 6,8% - vượt chỉ tiêu. Thứ hai, trước đây, huyện Tân Lạc có 10 xã vùng đặc biệt khó khăn thì nay chỉ còn 5 xã. Đặc biệt, khi triển khai Chỉ thị 40-CT/TW, Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Tân Lạc đã tham mưu cho Huyện ủy ban hành Nghị quyết chuyên đề về ủy thác ngân sách địa phương sang NHCSXH cho vay. Vốn ngân sách địa phương chuyển sang NHCSXH tăng trưởng qua từng năm; mục tiêu đến năm 2030, con số này đạt khoảng 40 tỉ đồng. Đây là nỗ lực, cố gắng hết mình của một huyện miền núi, bởi 40 tỉ đồng là số tiền không nhỏ, tương đương với thu ngân sách của huyện trong một năm.

Quả ngọt đến từ nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội

Mô hình trồng quýt ngọt ở xã vùng cao Vân Sơn đã giúp gia đình anh Hà Công Lợi ở xóm Chiến, xã Vân Sơn, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình thuộc diện hộ nghèo đã thoát nghèo vào năm 2021. Anh Hà Công Lợi chia sẻ, gia đình anh được tiếp cận vay vốn Chương trình vốn cho vay hộ sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn từ NHCSXH với số tiền 50 triệu đồng. Nhận thấy Vân Sơn có khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp với việc trồng quýt, cho chất lượng quả ngọt, năng suất cao, do vậy, gia đình anh đã đầu tư trồng quýt với khoảng 500 gốc, trong đó có hơn 300 cây quýt ngọt và gần 200 cây quýt hôi. Thời điểm đầu mùa, thương lái vào vườn mua với giá 50 nghìn đồng/kg quýt, còn hiện tại là 25 nghìn đồng/kg. Thời điểm giáp Tết Ất Tỵ kỳ vọng quýt sẽ bán được giá hơn.

Ngoài việc chăm sóc vườn quýt, gia đình anh Hà Công Lợi còn chăn nuôi thêm 2 con bò mẹ và 10 con lợn, qua đó giúp đời sống gia đình thêm ổn định.

Gia đình anh Ngô Ngọc Hải ở xóm 1, xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình là một trong nhiều hộ vay điển hình về sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay từ NHCSXH. Vốn sinh ra ở làng quê Nam Định, anh Ngô Ngọc Hải đi xây dựng kinh tế mới ở vùng núi tỉnh Hòa Bình. Chọn huyện Tân Lạc là nơi an cư, lạc nghiệp, ban đầu, gia đình anh gặp không ít khó khăn, nhưng bằng ý chí, nghị lực vượt khó cùng với nguồn vốn vay từ NHCSXH, qua nhiều vòng vay vốn, đến nay, gia đình anh đã gây dựng được vườn bưởi đỏ Tân Lạc với gần 200 gốc, cứ đến vụ là thương lái đến mua, cho thu nhập hằng năm khoảng 200 triệu đồng. Hiện nay, gia đình anh Ngô Ngọc Hải đang còn dư nợ của NHCSXH 40 triệu đồng vốn giải quyết việc làm và 20 triệu đồng vốn vay chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

Huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình phát huy hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội
Nhờ nguồn vốn vay từ NHCSXH, anh Hà Công Lợi, xóm Chiến, xã Vân Sơn, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình đã đầu tư trồng quýt vươn lên thoát nghèo

Thực tế, trong những năm qua, tại xã Tử Nê có rất nhiều hộ dân vay vốn tín dụng chính sách xã hội đầu tư phát triển kinh tế hộ, vươn lên thoát nghèo, đóng góp vào tỉ lệ giảm nghèo nhanh của huyện Tân Lạc.

Ông Quách Văn Hoạt, Phó Bí thư xã Tử Nê, huyện Tân Lạc cho biết, năm 2010, xã Tử Nê có 32,6% hộ nghèo; từ khi có Chỉ thị 40-CT/TW, giai đoạn 2014 - 2015, tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 13,73% (138 hộ); đến năm 2024, tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 2,26%, tương ứng 23 hộ.

Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW, đến nay, Tử Nê là xã có tỉ lệ hộ nghèo thấp nhất huyện Tân Lạc. Tính đến ngày 30/10/2024, dư nợ cho vay của NHCSXH trên địa bàn xã Tử Nê đạt 17.435 triệu đồng. Nguồn vốn cho vay tập trung vào chăn nuôi trâu, bò, lợn và trồng trọt các loại cây như bưởi đỏ Tân Lạc, quýt ngọt… cho hiệu quả cao, giúp bà con có việc làm, nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống.

Sức mạnh của Chỉ thị 40-CT/TW trong thực hiện tín dụng chính sách xã hội

Tính đến ngày 31/10/2024, tổng nguồn vốn của NHCSXH huyện Tân Lạc đạt 578.823 triệu đồng, tăng 378.988 triệu đồng (tăng 189,7%) so với năm 2014, bình quân mỗi năm tăng 37.898 triệu đồng. Trong đó: Nguồn vốn cân đối từ Trung ương là 507.813 triệu đồng, chiếm 87,7% tổng nguồn vốn, tăng 308.825 triệu đồng (154,5%) so với năm 2014; nguồn vốn huy động từ địa phương đạt 57.205 triệu đồng, chiếm 9,9% tổng nguồn vốn, tăng 52.898 triệu đồng (tăng 1.228%) so với cuối năm 2014; nguồn vốn ủy thác tại địa phương đạt 13.805 triệu đồng, chiếm 2,4% tổng nguồn vốn; trong khi đó, trước khi có Chỉ thị 40-CT/TW trong cơ cấu nguồn vốn của NHCSXH huyện Tân Lạc không có nguồn vốn từ ngân sách địa phương.

Ngoài nguồn vốn ngân sách địa phương, NHCSXH còn tập trung huy động từ tổ chức, cá nhân, tính đến ngày 31/10/2024 vốn huy động đạt 57.205 triệu đồng, chiếm 9,9% tổng nguồn vốn, tăng 52.898 triệu đồng (tăng 1.228%) so với năm 2014; trong đó: Nguồn vốn huy động tiền gửi tiết kiệm của tổ viên thông qua Tổ Tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) là 17.721 triệu đồng với 289 Tổ TK&VV tham gia huy động tiền gửi tiết kiệm, đạt 100% trên tổng số Tổ TK&VV của toàn huyện Tân Lạc. Việc triển khai huy động tiền gửi của tổ viên Tổ TK&VV có tác dụng tạo điều kiện cho hộ nghèo và đối tượng chính sách có thói quen thường xuyên thực hành tiết kiệm, nhằm tích góp, gây dựng nguồn hỗ trợ cho việc trả nợ NHCSXH, tạo lập vốn tự có, đồng thời góp phần bổ sung nguồn cho vay đối với hộ nghèo và đối tượng chính sách trên địa bàn.

Đến ngày 30/10/2024, tổng dư nợ các chương trình tín dụng là 577.757 triệu đồng, tăng 378.205 triệu đồng (tăng 189,5%) so với năm 2014. Trong 10 năm thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW, doanh số cho vay đạt trên 1.259 tỉ đồng, với trên 36.400 lượt khách hàng vay vốn. Nguồn vốn của NHCSXH đã góp phần giúp cho 7.966 lượt hộ thoát nghèo; giúp hộ nghèo xây dựng được 1.941 ngôi nhà để ổn định đời sống; xây dựng được 11.301 công trình nước sạch và vệ sinh môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng nông thôn mới; hàng chục nghìn lao động trong huyện Tân Lạc được tạo việc làm từ các chương trình tín dụng của NHCSXH và còn rất nhiều hộ gia đình tuy chưa thoát khỏi khó khăn về kinh tế, song nhờ nguồn vốn vay ưu đãi đã có cơ hội làm chủ cuộc sống, thay đổi tập quán làm ăn, ý thức trách nhiệm với cộng đồng.

Bên cạnh đó, sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền huyện Tân Lạc như quan tâm tạo điều kiện trợ giúp về cơ sở vật chất cho điểm giao dịch của NHCSXH, nâng cao hiệu quả và năng lực hoạt động; hiện toàn huyện có 16 điểm giao dịch đặt tại trụ sở UBND các xã, thị trấn, bảo đảm công tác an ninh, an toàn tại các ngày trực giao dịch (kể cả ngày thứ 7, chủ nhật). Hằng tháng, giao dịch vào ngày cố định đã giúp người nghèo và đối tượng chính sách tiếp cận các chương trình ưu đãi của Chính phủ một cách thuận lợi, tiết giảm chi phí; đồng thời, tăng cường sự giám sát của chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực thi tín dụng chính sách, qua đó nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Chính phủ kịp thời đến đúng với đối tượng hộ nghèo và đối tượng chính sách có nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện cuộc sống, vươn lên thoát nghèo.

Có thể thấy, hoạt động tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn huyện Tân Lạc trong 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, tạo ra một kênh dẫn vốn hữu hiệu, tin cậy đối với nhân dân, cấp ủy Đảng, chính quyền, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả vốn tín dụng chính sách, giúp người nghèo và đối tượng chính sách khác tiếp cận với dịch vụ tài chính, tiết kiệm của NHCSXH một cách nhanh chóng, thuận lợi, an toàn, tiết kiệm thời gian, chi phí khi vay vốn; đồng thời, giúp người nghèo và đối tượng chính sách khác sử dụng vốn hiệu quả, phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao thu nhập, cải thiện, ổn định cuộc sống vươn lên làm giàu, góp phần quan trọng thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Tân Lạc.

Mai Lâm

Tin bài khác

Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh lực lượng lao động suy giảm và dư địa tăng trưởng theo chiều rộng ngày càng thu hẹp, bài viết phân tích các điều kiện vĩ mô để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng cao giai đoạn 2026 - 2030, nhấn mạnh yêu cầu chuyển sang mô hình dựa trên tích lũy vốn và đổi mới công nghệ, với hệ thống ngân hàng tiếp tục giữ vai trò kênh dẫn vốn chủ đạo.
Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Nghiên cứu này làm rõ tác động của tiền gửi khách hàng và nguồn vốn phi tiền gửi đến khả năng sinh lời của ngân hàng, đồng thời chỉ ra vai trò điều tiết quan trọng của vốn chủ sở hữu trong mối quan hệ này. Kết quả thực nghiệm cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc tối ưu hóa cấu trúc nguồn vốn và định hướng chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Bài viết phân tích vai trò của tín dụng xanh trong bối cảnh các quốc gia ASEAN đối mặt với thách thức biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, qua đó làm rõ tác động tích cực của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần, đồng thời xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong mối quan hệ này.
Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý: Các ngân hàng cần định hình và vận dụng khẩu vị rủi ro như một chiếc la bàn xuyên suốt quá trình quản trị; đồng thời, cần chủ động trích lập dự phòng dựa trên các dự báo và kịch bản kinh tế vĩ mô, tăng cường giám sát sớm để phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu một cách dứt khoát nhằm tránh hiệu ứng tích tụ rủi ro.
Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng trong bối cảnh ngân hàng số Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm mới cho bối cảnh Việt Nam, đồng thời củng cố các lý thuyết trước đó về niềm tin trong môi trường ngân hàng số.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh và định vị của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong giai đoạn tới. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, tác giả đề xuất khung sản phẩm, dịch vụ tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam dựa trên bốn yếu tố tích hợp về thể chế, hạ tầng, nhân lực và hợp tác quốc tế.
Áp lực công việc và sự hài lòng, trung thành với tổ chức của nhân viên ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Áp lực công việc và sự hài lòng, trung thành với tổ chức của nhân viên ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Bài viết nhằm làm rõ các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi của nhân viên, qua đó đề xuất các giải pháp thiết thực giúp ngân hàng tăng cường sự gắn bó, ổn định nguồn lực nhân sự và nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh mới.
Tác động của chính sách tín dụng xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của chính sách tín dụng xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Thực tiễn triển khai tín dụng xanh tại Việt Nam cho thấy hiệu ứng tích cực về mặt xã hội và kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo và sản xuất sạch hơn.
Xem thêm
Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Bài viết này phân tích cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (gọi tắt là cơ chế thử nghiệm) trong lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) tại Việt Nam, chỉ ra các cơ hội và rủi ro tiềm ẩn khi triển khai cơ chế thử nghiệm nhằm thúc đẩy tài chính số, qua đó đề xuất định hướng chính sách minh bạch và bền vững.
Phát triển tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp: Kết quả năm 2025 và hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng năm 2026

Phát triển tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp: Kết quả năm 2025 và hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng năm 2026

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn triển khai chuyển đổi xanh từ năm 2025, bài viết phân tích vai trò trung tâm của tài chính xanh trong nông nghiệp, với các ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vị trí chủ đạo nhằm ứng phó rủi ro khí hậu và thúc đẩy phát triển bền vững.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế nhiều biến động, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã phát huy vai trò trung tâm trong điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2023 - 2025, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững giai đoạn 2025 - 2030.
Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 (hai chuẩn mực báo cáo bền vững toàn cầu đầu tiên do Hội đồng Chuẩn mực Bền vững Quốc tế (ISSB) thuộc Tổ chức Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS Foundation) ban hành năm 2023, giúp doanh nghiệp công bố thông tin về rủi ro và cơ hội liên quan đến phát triển bền vững (S1) và khí hậu (S2) một cách nhất quán, minh bạch, hỗ trợ nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư, hướng tới một ngôn ngữ chung cho báo cáo bền vững trên toàn thế giới) đối với các ngân hàng tại Việt Nam và làm rõ vai trò của hai chuẩn mực báo cáo bền vững này như “ngôn ngữ chung” nhằm giúp hệ thống ngân hàng minh bạch hóa rủi ro cũng như cơ hội khí hậu, từng bước hội nhập sâu vào dòng chảy tài chính toàn cầu.
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Luật Thương mại điện tử năm 2025 ra đời trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ đã tạo ra những thay đổi quan trọng đối với hệ sinh thái thương mại điện tử, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm phát huy vai trò của hệ thống tài chính - ngân hàng và bảo đảm an toàn, ổn định cho nền kinh tế số Việt Nam.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng