Dấu ấn công nghệ ngân hàng năm 2024: An ninh, an toàn trong cung cấp và sử dụng dịch vụ ngân hàng trên không gian mạng

Công nghệ & ngân hàng số
Để phòng, chống các hoạt động lừa đảo trên không gian mạng, trong thời gian qua, ngành Ngân hàng đã và đang tổ chức triển khai nhiều giải pháp mang tính tổng thể, đồng bộ.
aa

Hoàn thiện pháp lý tạo điều kiện cho thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) và chuyển đổi số ngân hàng

Trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã trình cấp thẩm quyền ban hành và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách về thanh toán, như: (i) Quốc hội thông qua Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) ngày 18/01/2024; Chính phủ ban hành Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 về TTKDTM; (ii) NHNN đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng; nghiên cứu, dự thảo hồ sơ đề nghị xây dựng Nghị định về dịch vụ Mobile-Money và trình Chính phủ đề xuất gia hạn thời gian thực hiện thí điểm dịch vụ này; (iii) NHNN đã ban hành 07 thông tư quy định chi tiết, hướng dẫn Luật Các TCTD và Nghị định số 52/2024/NĐ-CP về: Hoạt động đại lý thanh toán1; việc quản lý, vận hành và sử dụng Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng Quốc gia2; cung ứng dịch vụ TTKDTM3; việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán4 (TCCUDVTT); hoạt động thẻ ngân hàng5; hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán6 (TGTT); giám sát các hệ thống thanh toán quan trọng, hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT7; (iv) Thống đốc NHNN ký Quyết định số 2525/QĐ-NHNN ngày 15/11/2024 ban hành Tiêu chuẩn cơ sở đặc tả kỹ thuật QR Code hiển thị từ phía khách hàng tại Việt Nam.

Năm 2024, cùng với hoàn thiện hành lang pháp lý và hạ tầng công nghệ tạo nền móng cho phát triển TTKDTM và chuyển đổi số ngân hàng, ngành Ngân hàng đặc biệt chú trọng công tác an ninh, an toàn đối với các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử cũng như bảo đảm quyền lợi hợp pháp của khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng trên không gian mạng trong bối cảnh tội phạm sử dụng công nghệ cao để lừa đảo, chiếm đoạt tiền và tài khoản ngân hàng của người dân có xu hướng gia tăng với nhiều thủ đoạn tinh vi, phức tạp.

Các văn bản pháp lý, cơ chế, chính sách về thanh toán được ban hành đã tạo lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ và điều kiện thuận lợi cho phát triển TTKDTM, thúc đẩy hoạt động ngân hàng số, ứng dụng công nghệ mới và bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán góp phần tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nhiều dịch vụ, phương thức thanh toán mới, tiện ích, hiện đại.

Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục tổ chức triển khai tích cực các đề án, chương trình, kế hoạch, chính sách nhằm thúc đẩy TTKDTM và hoạt động ngân hàng số, Kế hoạch của ngành Ngân hàng triển khai Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030); Kế hoạch số 01/KHPH-BCA-NHNN ngày 24/4/2023 phối hợp giữa NHNN với Bộ Công an về thực hiện các nhiệm vụ tại Đề án 06 nhằm thúc đẩy, tạo thuận lợi cho các TCCUDVTT, tổ chức TGTT cung ứng các sản phẩm, dịch vụ thanh toán an toàn, bảo mật, tiện ích, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng; tiếp tục chỉ đạo các TCCUDVTT, tổ chức TGTT triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến, thanh toán thẻ ngân hàng theo quy định tại Quyết định số 2345/QĐ-NHNN ngày 18/12/2023 của Thống đốc NHNN; đồng thời, thực hiện tốt công tác giám sát các hệ thống thanh toán quan trọng và giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán.

NHNN khuyến khích các TCTD triển khai chuyển đổi số, kết nối, hợp tác với các ngành, lĩnh vực khác nhau để hình thành và mở rộng hệ sinh thái số, cung ứng sản phẩm, dịch vụ, lấy khách hàng làm trung tâm, cung cấp trải nghiệm giao dịch liền mạch, cá nhân hóa. Nhiều ngân hàng đã và đang ứng dụng các công nghệ mới (như trí tuệ nhân tạo, học máy, dữ liệu lớn…) trong các hoạt động nghiệp vụ, phân tích hành vi, nhu cầu, đánh giá khách hàng giúp tối ưu hóa, cá nhân hóa việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ cũng như tự động hóa quy trình, nâng cao hiệu quả hoạt động.

Hạ tầng công nghệ ngân hàng thường xuyên được đầu tư nâng cấp, phát triển, bảo đảm hoạt động liên tục, thông suốt, an toàn; hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng xử lý bình quân 830 nghìn tỉ VND/ngày (tương đương 40 tỉ USD), hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử xử lý bình quân 20 - 25 triệu giao dịch/ngày. Các công nghệ số mới là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng được ứng dụng mạnh mẽ để phục vụ nhu cầu phát triển sản phẩm, dịch vụ mới và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao của người dân, doanh nghiệp. Việt Nam đã hoàn thành kết nối thanh toán xuyên biên giới qua QR Code với Thái Lan, Campuchia và đang triển khai với Lào, dự kiến sẽ tiếp tục mở rộng ra các nước trong và ngoài khu vực Asean.

Hoạt động TTKDTM và hoạt động ngân hàng số trong năm 2024 tiếp tục có sự tăng trưởng tích cực. Theo NHNN, trong 11 tháng đầu năm 2024 so với cùng kỳ năm 2023, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt đạt 15,92 tỉ giao dịch với giá trị đạt 263,82 triệu tỉ đồng (tăng 56,94% về số lượng và 33,76% về giá trị); qua kênh Internet đạt 2,92 tỉ giao dịch với giá trị đạt 69,46 triệu tỉ đồng (tăng 50,67% về số lượng và 33% về giá trị); qua kênh điện thoại di động đạt 11,01 tỉ giao dịch với giá trị đạt 66,48 triệu tỉ đồng (tăng 54,62% về số lượng và 34,47% về giá trị), giao dịch qua QR Code đạt 271,58 triệu giao dịch với giá trị đạt 152,55 nghìn tỉ đồng (tăng 106,68% về số lượng và 84,77% về giá trị); qua Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng 6,82% về số lượng và 33,09% về giá trị; qua Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử tăng 30,73% về số lượng và 15,92% về giá trị. Đến cuối tháng 11/2024, thị trường có 21.089 ATM và 733.456 POS tăng tương ứng 0,36% và 42,82% so với cùng kỳ năm 2023. Trong 11 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm 2023, giao dịch qua ATM tiếp tục giảm 12,87% về số lượng và giảm 4,68% về giá trị, cho thấy nhu cầu rút tiền mặt của người dân đang có xu hướng giảm và được thay thế bởi các phương thức, thói quen TTKDTM.

Theo NHNN, tính đến cuối năm 2024 hơn 87% người trưởng thành đã có tài khoản thanh toán tại ngân hàng và nhiều ngân hàng có trên 95% số lượng giao dịch được xử lý trên kênh số. Ngoài ra, số lượng giao dịch thanh toán qua thiết bị di động và QR Code cũng có sự tăng trưởng nhanh chóng trong thời gian qua (bình quân qua các năm từ 2017 - 2023 đạt trên 100%/năm); đã có 85 TCCUDVTT triển khai dịch vụ thanh toán qua Internet và 52 tổ chức thực hiện qua thiết bị di động.

Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng điện tử, ngành Ngân hàng cũng phải đối mặt với những rủi ro, thách thức không nhỏ về an ninh, an toàn thông tin trước nguy cơ bị tấn công mạng, đặc biệt là tình trạng sử dụng công nghệ cao để lừa đảo, chiếm đoạt tiền và tài khoản ngân hàng của người dân có xu hướng gia tăng với nhiều thủ đoạn tinh vi, phức tạp.

Tăng cường an ninh, an toàn thông tin trong cung cấp và sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử

Để phòng, chống các hoạt động lừa đảo trên không gian mạng, trong thời gian qua, ngành Ngân hàng đã và đang tổ chức triển khai nhiều giải pháp mang tính tổng thể, đồng bộ. Năm 2024, NHNN đã ban hành được một hệ thống các văn bản quy định về an ninh, an toàn thông tin đối với các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử.

Trong công tác chỉ đạo, ban hành văn bản

Ngay từ đầu năm 2024, bên cạnh việc ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 15/01/2024 về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng, Thống đốc NHNN đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 15/01/2024 về đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trong hoạt động ngân hàng để quán triệt, chỉ đạo toàn Ngành thực hiện đầy đủ, nghiêm túc công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin. Ngoài ra, các đơn vị chức năng của NHNN cũng thường xuyên có các văn bản chỉ đạo, cảnh báo đến các TCTD, TGTT về tình hình tội phạm lừa đảo trên không gian mạng liên quan đến lĩnh vực ngân hàng.

Thực hiện Kế hoạch của ngành Ngân hàng8 triển khai Đề án 06 và Kế hoạch số 01/KHPH-BCA-NHNN với Bộ Công an triển khai các nhiệm vụ tại Đề án 06 nhằm ứng dụng dữ liệu dân cư, căn cước công dân (CCCD), tài khoản định danh và xác thực điện tử đối với các hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, góp phần chuyển đổi số, tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 2345/QĐ-NHNN ngày 18/12/2023 về triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng (thay thế Quyết định số 630/QĐ-NHNN ngày 31/3/2017). Theo đó từ ngày 01/7/2024, các TCTD, TGTT bên cạnh các giải pháp xác thực đa thành tố như đã quy định tại Quyết định số 630/QĐ-NHNN phải triển khai các giải pháp để giảm thiểu rủi ro trong giao dịch trực tuyến đối với khách hàng cá nhân: (i) Xác thực sinh trắc học (qua dữ liệu CCCD gắn chíp, VNeID) cho các giao dịch có giá trị > 10 triệu đồng hoặc giao dịch có giá trị ≤ 10 triệu đồng nhưng có tổng giá trị giao dịch/ngày > 20 triệu đồng; khi thay đổi thiết bị thực hiện giao dịch Mobile Banking; (ii) Gửi thông báo tới khách hàng về việc đăng nhập ứng dụng Internet Banking/Mobile Banking trên thiết bị khác; lưu trữ thông tin về thiết bị thực hiện các giao dịch trực tuyến của khách hàng và nhật ký (log) xác thực giao dịch tối thiểu trong vòng 3 tháng. Việc triển khai quyết định này góp phần bảo đảm các giao dịch thanh toán trực tuyến chỉ được thực hiện bởi chính chủ tài khoản, qua đó giúp nâng cao an ninh, an toàn, bảo mật cho các giao dịch thanh toán trực tuyến, giảm thiểu rủi ro gian lận, lừa đảo trong giao dịch thanh toán trực tuyến.

Ngoài ra, NHNN đã ban hành một số quy định mới bắt buộc khách hàng chỉ được thực hiện rút tiền, giao dịch thanh toán bằng phương tiện điện tử trên tài khoản thanh toán khi đã hoàn thành việc đối chiếu khớp đúng giấy tờ tùy thân và thông tin sinh trắc học của chủ tài khoản hoặc người đại diện (đối với khách hàng cá nhân) hoặc người đại diện hợp pháp (đối với khách hàng tổ chức) với: (i) Dữ liệu sinh trắc học được lưu trong bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa của thẻ CCCD hoặc thẻ căn cước của người đó đã được xác thực chính xác là do cơ quan Công an cấp hoặc thông qua xác thực tài khoản định danh điện tử của người đó do hệ thống định danh và xác thực điện tử tạo lập; hoặc (ii) Dữ liệu sinh trắc học được thu thập thông qua gặp mặt trực tiếp người đó đối với trường hợp là người nước ngoài không sử dụng danh tính điện tử, người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch; hoặc (iii) Dữ liệu sinh trắc học đã được thu thập và kiểm tra (đảm bảo sự khớp đúng giữa dữ liệu sinh trắc học của người đó với dữ liệu sinh trắc học trong bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa của thẻ CCCD hoặc thẻ căn cước đã được xác thực chính xác là do cơ quan Công an cấp hoặc với dữ liệu sinh trắc học của người đó thông qua xác thực tài khoản định danh điện tử do hệ thống định danh và xác thực điện tử tạo lập); hoặc (iv) Dữ liệu sinh trắc học của người đó được lưu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trong trường hợp sử dụng thẻ CCCD không có bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa. Đối với khách hàng cá nhân áp dụng từ ngày 01/01/2025; đối với khách hàng tổ chức áp dụng từ ngày 01/7/2025 (theo Thông tư số 17/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại TCTD cung ứng dịch vụ thanh toán).

Trước ngày 01/01/2025, chủ tài khoản, chủ thẻ đều phải hoàn thành đối chiếu, xác thực thông tin sinh trắc học; cập nhật, bổ sung thông tin mới thay thế cho giấy tờ tùy thân đã hết hạn. Từ năm 2025, tất cả chủ thẻ, chủ tài khoản đều phải hoàn tất đối chiếu sinh trắc học thì mới thực hiện được giao dịch bằng phương tiện điện tử. Từ ngày 01/01/2025, các ngân hàng sẽ tạm dừng giao dịch thanh toán, rút tiền trên tài khoản thanh toán đối với các trường hợp giấy tờ tùy thân của khách hàng hết hiệu lực hoặc hết thời hạn sử dụng. Trường hợp có nhu cầu thì chỉ có thể trực tiếp đến ngân hàng để thực hiện giao dịch.

Các quy định trên nhằm kiểm tra xác minh thông tin chủ thẻ bảo đảm “chính chủ”, góp phần hạn chế việc sử dụng giấy tờ tùy thân giả mạo để mở thẻ ngân hàng. Việc kiểm tra, xác minh thông tin sinh trắc học của khách hàng theo quy định này chỉ cần thực hiện một lần trước khi thực hiện giao dịch bằng phương tiện điện tử; không yêu cầu khách hàng phải xác thực thông tin sinh trắc học đối với từng giao dịch bằng phương tiện điện tử. Điều kiện cần để đăng ký Mobile Banking, Internet Banking là khách hàng phải hoàn tất đối chiếu sinh trắc học. Việc triển khai xác thực sinh trắc học trong giao dịch ngân hàng góp phần bảo đảm giao dịch thanh toán trực tuyến được thực hiện bởi chính chủ tài khoản, qua đó sẽ nâng cao an ninh, an toàn, bảo mật cho các giao dịch thanh toán trực tuyến, giảm thiểu rủi ro gian lận, lừa đảo trong giao dịch thanh toán trực tuyến.

Ngoài ra, ngày 17/7/2024, Thống đốc NHNN cũng đã ban hành Thông tư số 40/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT (Thông tư 40), trong đó quy định mở ví điện tử bằng phương tiện điện tử (Điều 22) có hiệu lực từ ngày 01/10/2024. Theo đó: “Tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử: Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các tài liệu, thông tin, dữ liệu xác minh thông tin nhận biết khách hàng và phải thực hiện đối chiếu khớp đúng thông tin sinh trắc học của chủ ví điện tử (đối với khách hàng cá nhân), người đại diện hợp pháp (đối với khách hàng tổ chức) với: (i) Dữ liệu sinh trắc học được lưu trong bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa của thẻ CCCD hoặc thẻ căn cước đã được xác thực chính xác là do cơ quan Công an cấp hoặc thông qua xác thực tài khoản định danh điện tử của người đó do hệ thống định danh và xác thực điện tử tạo lập; hoặc (ii) Dữ liệu sinh trắc học đã được thu thập và kiểm tra (đảm bảo sự khớp đúng giữa dữ liệu sinh trắc học của người đó với dữ liệu sinh trắc học trong bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa của thẻ CCCD hoặc thẻ căn cước đã được xác thực chính xác là do cơ quan Công an cấp hoặc với dữ liệu sinh trắc học của người đó thông qua xác thực tài khoản định danh điện tử do Hệ thống định danh và xác thực điện tử tạo lập”.

Đồng thời, NHNN đã chỉ đạo các TCTD phối hợp với đơn vị chức năng Bộ Công an triển khai các giải pháp công nghệ ứng dụng dữ liệu dân cư theo định hướng tại Đề án 06 của Chính phủ nhằm làm sạch dữ liệu khách hàng, loại bỏ các tài khoản ngân hàng không chính chủ.

Theo NHNN, đến ngày 08/01/2025, đã có hơn 87,6 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân được thu thập, đối chiếu thông tin sinh trắc học. Qua theo dõi số liệu báo cáo của các TCTD, số lượng vụ việc lừa đảo mất tiền của khách hàng cá nhân và số lượng tài khoản khách hàng cá nhân có phát sinh nhận tiền lừa đảo ở các đơn vị đã giảm đáng kể, cụ thể: Số lượng vụ việc khách hàng bị lừa đảo mất tiền từ ngày 01/7/2024 đến ngày 30/11/2024 giảm khoảng 68% so với số vụ việc trung bình 6 tháng đầu năm 2024; số lượng tài khoản nhận tiền lừa đảo từ ngày 01/7/2024 đến ngày 30/11/2024 giảm khoảng 64% so với trung bình 6 tháng đầu năm 2024. Đặc biệt, một số TCTD đã không phát sinh vụ việc trong thời gian vừa qua.

Triển khai các giải pháp về quy trình, công nghệ

Về phía các TCTD, công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin luôn được quan tâm, coi trọng và đưa vào nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình tổ chức hoạt động. Các TCTD đã và đang triển khai nhiều giải pháp về mặt quy trình và công nghệ nhằm phòng, chống lừa đảo, gian lận trong lĩnh vực ngân hàng như: Làm sạch dữ liệu khách hàng, loại bỏ các tài khoản ngân hàng không chính chủ; phối hợp với các đơn vị của Bộ Công an triển khai các giải pháp công nghệ ứng dụng dữ liệu dân cư theo định hướng tại Đề án 06 của Chính phủ nhằm làm sạch dữ liệu khách hàng, loại bỏ các tài khoản ngân hàng không chính chủ; tăng cường các giải pháp xác thực mạnh.

Đồng thời, các ngân hàng thương mại đang triển khai tích hợp nhiều biện pháp bảo vệ tăng cường như: Áp dụng các cơ chế giám sát, phòng chống giao dịch bất thường, giao dịch gian lận đối với kênh ngân hàng điện tử để có cảnh báo sớm và biện pháp ngăn chặn kịp thời với các giao dịch đáng ngờ của khách hàng. Nghiên cứu áp dụng cơ chế phát hiện, cảnh báo và ngăn chặn sử dụng ứng dụng Mobile Banking đối với các thiết bị bị phá khóa hoặc thiết bị đã kích hoạt quyền trợ năng. Áp dụng các cơ chế phát hiện đăng nhập trên thiết bị lạ. Việc kích hoạt thiết bị điện tử giao dịch Internet Banking cũng được áp dụng các biện pháp xác thực mạnh với quy trình xác thực lại chặt chẽ đòi hỏi sự tương tác chủ động của khách hàng thay vì các yếu tố xác thực tĩnh. Tăng cường sử dụng dịch vụ, công nghệ mới như Threat Intelligence để sớm phát hiện các vụ việc lộ, lọt thông tin tài khoản, xác thực của khách hàng trên mạng Internet cũng như có cơ chế nhanh chóng gỡ bỏ các website giả mạo...

Từ năm 2023 đến nay, NHNN và các TCTD đã nghiên cứu, xây dựng và thử nghiệm thành công về mặt kỹ thuật hệ thống giám sát các tài khoản thanh toán, ví điện tử nghi ngờ gian lận, giả mạo (SIMO). Hệ thống SIMO cho phép các tổ chức thành viên tham gia thực hiện báo cáo thông tin về các tài khoản đáng ngờ khi phát hiện và chia sẻ thông tin tới các thành viên khác. Trên cơ sở nguồn dữ liệu tập trung của hệ thống SIMO và nguồn dữ liệu về danh sách tài khoản đã tham gia vào quá trình luân chuyển dòng tiền lừa đảo đã được Bộ Công an thu thập, các TCTD có thể đưa ra quyết định thực hiện ngăn chặn giao dịch ngay lập tức hoặc yêu cầu xác thực, định danh tài khoản trước thực hiện giao dịch trực tuyến.

Phối hợp các bộ, ngành liên quan

Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng cũng thiết lập cơ chế trao đổi, phản ứng nhanh với các đơn vị chức năng. Cụ thể, từ năm 2021, NHNN đã phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thiết lập kênh phản ứng nhanh để ngăn chặn kịp thời website giả mạo các tổ chức trong ngành Ngân hàng. Khi phát hiện có website giả mạo, các ngân hàng sẽ cung cấp thông tin cho Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông thông qua kênh phản ứng nhanh để chỉ đạo nhà cung cấp dịch vụ Internet thiết lập chính sách an ninh mạng ngăn chặn truy cập.

Trong thời gian qua, ngành Ngân hàng đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông và các tổ chức liên quan trong công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin; phòng, chống lừa đảo qua mạng trong ngành Ngân hàng, cụ thể như: Phối hợp cung cấp thông tin trong điều tra, xử lý các vụ việc lừa đảo liên quan đến khách hàng của ngân hàng, bảo đảm lợi ích chính đáng của khách hàng; phối hợp tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức, kỹ năng về an ninh, an toàn thông tin tới nhân viên và khách hàng của ngân hàng để phòng, chống lừa đảo qua mạng.

Ngành Ngân hàng đã và đang phối hợp với các cơ quan báo chí truyền thông, giáo dục tài chính với nhiều hình thức đa dạng, nhằm phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức, cảnh báo cho người dân về những rủi ro an ninh, an toàn thông tin, các thủ đoạn, hành vi tội phạm, lừa đảo phổ biến mới xuất hiện liên quan đến hoạt động ngân hàng; truyền thông tới khách hàng về các biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn thông tin khi sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử.

Định hướng, giải pháp trong thời gian tới

Để thúc đẩy TTKDTM và chuyển đổi số ngân hàng, đồng thời bảo đảm an ninh, bảo mật cho việc cung cấp và sử dụng các dịch vụ ngân hàng trên không gian mạng, thời gian tới, ngành Ngân hàng tiếp tục triển khai các nhiệm vụ sau:

(i) Tập trung triển khai thực hiện Nghị định số 52/2024/NĐ-CP; các thông tư quy định chi tiết, hướng dẫn Luật Các TCTD; xây dựng, tổ chức triển khai kế hoạch thực hiện Nghị định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng (sau khi được ban hành); nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng Nghị định về dịch vụ Mobile-Money; tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện, ban hành kịp thời các văn bản, thông tư thay thế, sửa đổi, bổ sung quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên Internet.

(ii) Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các nội dung tại Kế hoạch triển khai Đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2021 - 2025, Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng, Kế hoạch số 01/KHPH-BCA-NHNN về thực hiện các nhiệm vụ tại Đề án 06.

(iii) Tiếp tục đầu tư hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin của các TCTD, TCCUDVTT, tổ chức TGTT; đồng thời nâng cấp, phát triển các hạ tầng thanh toán bảo đảm hoạt động liên tục, thông suốt, an toàn, kết nối liền mạch, xuyên suốt với các ngành, lĩnh vực khác (như dịch vụ công, y tế, giáo dục, thương mại điện tử...) và kết nối thanh toán xuyên biên giới nhằm đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng đa dạng, ngày càng tăng nhanh của các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế.

(iv) Tiếp tục phối hợp với Bộ Công an triển khai hiệu quả Đề án 06, trong đó chú trọng khai thác thông tin CCCD gắn chíp và tài khoản VNeID để định danh, xác thực chính xác thông tin khách hàng và phối hợp, hỗ trợ trong quá trình cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng một cách tiện lợi, an toàn, bảo đảm phòng ngừa rủi ro, tội phạm lợi dụng dịch vụ thanh toán cho mục đích gian lận, lừa đảo.

(v) Tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn và bảo mật hoạt động thanh toán, ngân hàng; chỉ đạo các đơn vị cung ứng dịch vụ tích cực triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến, thanh toán thẻ ngân hàng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.

(vi) Tiếp tục đẩy mạnh truyền thông, giáo dục tài chính nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho công chúng; tiếp tục đổi mới, đa dạng hóa các hình thức thể hiện, ứng dụng công nghệ 4.0 và phương tiện truyền thông hiện đại để tăng tính lan tỏa, đồng thời cách thể hiện bảo đảm dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện với công chúng, đặc biệt hướng đến người dân khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, giới trẻ, học sinh, sinh viên...

Về phía các bộ, ngành liên quan, cần nghiên cứu, xây dựng mô hình phối hợp liên ngành để xử lý nhanh, kịp thời các vụ, việc có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, trên không gian mạng; xây dựng cơ sở dữ liệu về tài khoản thanh toán, ví điện tử có nghi vấn liên quan đến hoạt động vi phạm pháp luật để kịp thời cảnh báo, phòng, ngừa, ngăn chặn, thu hồi tài sản.

Bộ Công an chỉ đạo công an các đơn vị, địa phương nâng cao chất lượng công tác phòng ngừa tội phạm, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra khám phá các vụ án, vụ việc liên quan đến lừa đảo chiếm đoạt tài sản; mở đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng hoạt động phạm tội, trong đó có tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản; tăng cường đàm phán, ký kết bản ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác về phòng, chống tội phạm với các nước trên thế giới, nhất là các nước chung đường biên giới với Việt Nam.

Bộ Thông tin và Truyền thông tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực viễn thông, an toàn thông tin; kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xóa bỏ các nội dung, trang web, đường dẫn, ứng dụng, hội, nhóm, tài khoản trên không gian mạng liên quan đến hoạt động lừa đảo; phối hợp với NHNN để có phương án đối khớp thông tin chủ tài khoản, người đại diện hợp pháp với thông tin chủ thuê bao di động theo số điện thoại di động đã đăng ký trong hồ sơ mở tài khoản thanh toán, ví điện tử: Chỉ đạo doanh nghiệp viễn thông thực hiện xác thực, lưu giữ, sử dụng thông tin thuê bao viễn thông và xử lý SIM có thông tin thuê bao viễn thông không đầy đủ, không chính xác theo quy định; nghiên cứu giải pháp kỹ thuật để ngăn chặn có hiệu quả các cuộc gọi, tin nhắn nghi vấn lừa đảo, nhất là các cuộc gọi từ nước ngoài, cuộc gọi sử dụng công nghệ VoiIP, ứng dụng OTT...; tăng cường công tác phối hợp với Bộ Công an, kịp thời cung cấp thông tin thuê bao, thông tin chủ thể tên miền được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khi được yêu cầu.

1 Thông tư số 07/2024/TT-NHNN ngày 21/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán.

2 Thông tư số 08/2024/TT-NHNN ngày 25/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về việc quản lý, vận hành và sử dụng hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng quốc gia.

3 Thông tư số 15/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về cung ứng dịch vụ TTKDTM.

4 Thông tư số 17/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại TCCUDVTT.

5 Thông tư số 18/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng.

6 Thông tư số 40/2024/TT-NHNN ngày 17/7/2024 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT.

7 Thông tư số 41/2024/TT-NHNN ngày 17/7/2024 của Thống đốc NHNN quy định về giám sát và thực hiện giám sát các hệ thống thanh toán quan trọng, hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT.

8 Quyết định số 171/QĐ-NHNN ngày 18/02/2022 của Thống đốc NHNN ban hành Kế hoạch của ngành Ngân hàng năm 2022 triển khai Đề án 06; Quyết định 264/QĐ-NHNN ngày 02/3/2023 của Thống đốc NHNN ban hành Kế hoạch năm 2023 của ngành Ngân hàng triển khai Đề án 06.

Tài liệu tham khảo:

1. Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ về TTKDTM.

2. Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

3. Quyết định số 2345/QĐ-NHNN ngày 18/12/2023 của Thống đốc NHNN về triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng.

Lan Chi
NHNN

Tin bài khác

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng và những dự báo chiến lược cho tương lai

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng và những dự báo chiến lược cho tương lai

Thành công của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong ngành Ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào tiến bộ công nghệ mà còn vào khả năng thiết kế lại các thể chế kinh tế, chuẩn mực xã hội và chính sách công để đảm bảo rằng những lợi ích to lớn từ AI được phân phối công bằng và phục vụ cho phúc lợi chung của xã hội.
Áp dụng mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh công nghệ số

Áp dụng mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh công nghệ số

Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, làm rõ các động lực công nghệ, thể chế, đánh giá kết quả bước đầu, chỉ ra rủi ro tiềm ẩn và đề xuất khuyến nghị chính sách nhằm phát triển tài chính nhúng theo hướng đổi mới sáng tạo có kiểm soát, bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy tài chính toàn diện.
Ứng dụng công nghệ số và kết nối dữ liệu - Gia tăng tiện ích cho khách hàng

Ứng dụng công nghệ số và kết nối dữ liệu - Gia tăng tiện ích cho khách hàng

Nhằm phát triển và cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng theo hướng cá thể hóa, tiện ích, phù hợp với nhu cầu và hành vi của từng nhóm khách hàng; đồng thời phòng ngừa gian lận, bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật thông tin và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng, thời gian tới, ngành Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu hiện có, đặc biệt là kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGvDV).
Nền tảng số cho vay sinh viên: Cơ hội, thách thức và định hướng tương lai

Nền tảng số cho vay sinh viên: Cơ hội, thách thức và định hướng tương lai

Hoạt động của các nền tảng số chịu sự chi phối mạnh mẽ của hiệu ứng mạng lưới. Giá trị của một nền tảng tăng lên khi số lượng người dùng (cả người vay và người cho vay) tăng lên.
Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Bài viết này phân tích cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (gọi tắt là cơ chế thử nghiệm) trong lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) tại Việt Nam, chỉ ra các cơ hội và rủi ro tiềm ẩn khi triển khai cơ chế thử nghiệm nhằm thúc đẩy tài chính số, qua đó đề xuất định hướng chính sách minh bạch và bền vững.
Xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, minh bạch, bảo vệ quyền lợi và tài sản của khách hàng

Xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, minh bạch, bảo vệ quyền lợi và tài sản của khách hàng

Khẳng định quyết tâm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong việc xây dựng một hệ sinh thái tài chính số an toàn, minh bạch, bảo vệ tối đa quyền lợi và tài sản của khách hàng trước những thách thức về an ninh mạng, ngày 31/12/2025, Thống đốc NHNN đã ký ban hành Thông tư số 77/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN ngày 31/10/2024 quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng.
Hợp tác quốc tế trong phòng, chống rửa tiền: Vai trò của Việt Nam trong mạng lưới khu vực và toàn cầu

Hợp tác quốc tế trong phòng, chống rửa tiền: Vai trò của Việt Nam trong mạng lưới khu vực và toàn cầu

Trong bối cảnh hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố ngày càng được tăng cường, bài viết làm rõ vai trò chủ động của Việt Nam trong các cơ chế khu vực và toàn cầu, đồng thời phân tích thách thức và định hướng nâng cao vị thế, uy tín và hiệu quả đóng góp của Việt Nam trong hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền.
Phát triển dịch vụ Tiền di động: Góp phần phổ cập tài chính, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt

Phát triển dịch vụ Tiền di động: Góp phần phổ cập tài chính, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt

Nhằm tạo hành lang pháp lý chính thức cho việc triển khai dịch vụ Tiền di động, tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam, ngày 31/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 368/2025/NĐ-CP quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động.
Xem thêm
Chuyển đổi mô hình điều hành chính sách tiền tệ: Kinh nghiệm một số quốc gia Đông Nam Á và bài học cho Việt Nam

Chuyển đổi mô hình điều hành chính sách tiền tệ: Kinh nghiệm một số quốc gia Đông Nam Á và bài học cho Việt Nam

Bài viết đã phân tích một cách hệ thống kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và vận hành cơ chế hành lang lãi suất, nhấn mạnh vai trò của khuôn khổ pháp lý, thiết kế lãi suất và biên độ, bộ công cụ điều tiết và cơ sở hạ tầng hỗ trợ. Các kết quả phân tích cho thấy, hành lang lãi suất là một khuôn khổ linh hoạt, có khả năng thích ứng với các điều kiện thị trường khác nhau, song đòi hỏi nền tảng thể chế và kỹ thuật vững chắc để phát huy hiệu quả.
Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Bài viết này phân tích cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (gọi tắt là cơ chế thử nghiệm) trong lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) tại Việt Nam, chỉ ra các cơ hội và rủi ro tiềm ẩn khi triển khai cơ chế thử nghiệm nhằm thúc đẩy tài chính số, qua đó đề xuất định hướng chính sách minh bạch và bền vững.
Phát triển tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp: Kết quả năm 2025 và hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng năm 2026

Phát triển tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp: Kết quả năm 2025 và hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng năm 2026

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn triển khai chuyển đổi xanh từ năm 2025, bài viết phân tích vai trò trung tâm của tài chính xanh trong nông nghiệp, với các ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vị trí chủ đạo nhằm ứng phó rủi ro khí hậu và thúc đẩy phát triển bền vững.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế nhiều biến động, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã phát huy vai trò trung tâm trong điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2023 - 2025, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững giai đoạn 2025 - 2030.
Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 (hai chuẩn mực báo cáo bền vững toàn cầu đầu tiên do Hội đồng Chuẩn mực Bền vững Quốc tế (ISSB) thuộc Tổ chức Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS Foundation) ban hành năm 2023, giúp doanh nghiệp công bố thông tin về rủi ro và cơ hội liên quan đến phát triển bền vững (S1) và khí hậu (S2) một cách nhất quán, minh bạch, hỗ trợ nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư, hướng tới một ngôn ngữ chung cho báo cáo bền vững trên toàn thế giới) đối với các ngân hàng tại Việt Nam và làm rõ vai trò của hai chuẩn mực báo cáo bền vững này như “ngôn ngữ chung” nhằm giúp hệ thống ngân hàng minh bạch hóa rủi ro cũng như cơ hội khí hậu, từng bước hội nhập sâu vào dòng chảy tài chính toàn cầu.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng