Bảo đảm an toàn khi cung cấp và sử dụng dịch vụ ngân hàng trong thời đại số

Công nghệ & ngân hàng số
Trước xu hướng gia tăng tội phạm công nghệ với những thủ đoạn mới ngày càng tinh vi, khó lường, để bảo đảm an toàn trong cung ứng và sử dụng dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số, bên cạnh sự nỗ lực của ngành Ngân hàng cần sự phối hợp của các bộ, ngành liên quan trong công tác an ninh, an toàn thông tin và phòng, chống lừa đảo qua mạng; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho khách hàng trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên không gian mạng.
aa
An toàn trong cung cấp và sử dụng dịch vụ ngân hàng trong thời đại số
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Mới đây, Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) An Bình (ABBank) phát đi cảnh báo đến khách hàng về sự xuất hiện và lây lan mạnh mẽ của mã độc Anatsa - một loại phần mềm độc hại chuyên đánh cắp thông tin tài chính trên thiết bị sử dụng hệ điều hành Android. Cảnh báo được đưa ra nhằm nâng cao nhận thức và giúp khách hàng chủ động phòng tránh rủi ro an ninh mạng.

Theo ABBank, mã độc Anatsa thường được ngụy trang dưới dạng các ứng dụng tiện ích phổ biến như PDF Reader, Document Reader… và xuất hiện ngay cả trên cửa hàng ứng dụng chính thống (Google Play). Sau khi được cài đặt, ứng dụng giả mạo này sẽ tải về các “bản cập nhật” chứa mã độc để triển khai hành vi tấn công.

Kịch bản tấn công bắt đầu bằng việc lừa người dùng cài đặt mã độc ngụy trang trong các ứng dụng có giao diện hợp pháp. Sau khi được cài, ứng dụng yêu cầu các quyền nhạy cảm (ví dụ: quyền trợ năng hoặc truy cập SMS) để chiếm quyền điều khiển thiết bị. Khi nạn nhân mở ứng dụng ngân hàng, mã độc sẽ chèn màn hình giả mạo nhằm chiếm đoạt tên đăng nhập, mật khẩu và mã OTP, từ đó thực hiện giao dịch trái phép, chiếm đoạt tiền trong tài khoản của khách hàng.

Theo số liệu từ Bộ Công an, 8 tháng đầu năm 2025 đã phát hiện gần 1.500 vụ, việc lừa đảo qua mạng, gây thiệt hại hơn 1.660 tỉ đồng. Theo Hiệp hội An ninh mạng quốc gia, năm 2024 Việt Nam ghi nhận hơn 659.000 vụ tấn công mạng.

Nhiều giải pháp giúp người dân phòng tránh hiệu quả các rủi ro lừa đảo trực tuyến

Để bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống công nghệ thông tin, đồng thời phòng, chống các hoạt động lừa đảo trên không gian mạng, qua đó bảo đảm quyền lợi hợp pháp của khách hàng, ngành Ngân hàng đã và đang tổ chức triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành hệ thống văn bản quy định về an ninh, an toàn, bảo mật đối với các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cũng thường xuyên có nhiều văn bản chỉ đạo, cảnh báo đến các tổ chức tín dụng (TCTD), trung gian thanh toán về tình hình tội phạm lừa đảo trên không gian mạng liên quan đến lĩnh vực ngân hàng.

Trong đó, NHNN ban hành Thông tư số 50/2024/TT-NHNN ngày 31/10/2024 quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng (Thông tư số 50/2024/TT-NHNN) có hiệu lực từ ngày 01/01/2025. Tại Thông tư này NHNN đã quy định một số giải pháp bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mà các TCTD, trung gian thanh toán phải thực hiện, trong đó có các quy định như:

(i) Toàn bộ dữ liệu khi truyền trên môi trường mạng hoặc dữ liệu trao đổi giữa phần mềm ứng dụng Online Banking với các trang thiết bị liên quan được áp dụng cơ chế mã hóa điểm đầu đến điểm cuối; bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu giao dịch; có chức năng che giấu đối với việc hiển thị các mã khóa bí mật; có chức năng chống đăng nhập tự động…

(ii) Không gửi tin nhắn SMS, thư điện tử cho khách hàng có nội dung chứa đường dẫn liên kết (Hyperlink) truy cập các trang tin điện tử, trừ trường hợp theo yêu cầu của khách hàng. Quy định này hết sức cần thiết để bảo vệ khách hàng, hạn chế việc khách hàng bị lừa đảo đánh cắp thông tin, chiếm đoạt tài sản. Theo đó, khi khách hàng nhận được bất cứ tin nhắn SMS, thư điện tử có nội dung chứa đường dẫn liên kết thì có thể xác định được ngay là tin nhắn, thư điện tử giả mạo.

(iii) Triển khai giải pháp đối khớp thông tin sinh trắc học theo tiêu chuẩn quốc tế để bảo đảm xác định chính xác chủ thể thực hiện giao dịch, phát hiện các hành vi giả mạo dấu hiệu sinh trắc học của vật thể sống để phòng chống gian lận, giả mạo khách hàng qua hình ảnh (ảnh tĩnh, ảnh động), video, mặt nạ 3D và các hình ảnh, video tạo bởi công nghệ Deepfake. Việc triển khai các quy định này góp phần bảo đảm các giao dịch thanh toán trực tuyến chỉ được thực hiện bởi chính chủ tài khoản, qua đó sẽ nâng cao an ninh, an toàn, bảo mật cho các giao dịch thanh toán trực tuyến, giảm thiểu rủi ro gian lận, lừa đảo trong giao dịch thanh toán trực tuyến.

(iv) Thông tư số 50/2024/TT-NHNN cũng quy định ứng dụng ngân hàng không có chức năng lưu mật khẩu đăng nhập tài khoản, qua đó giúp tăng cường bảo mật, giảm nguy cơ tin tặc có thể xâm nhập vào smartphone và lấy cắp mật khẩu đăng nhập tài khoản ngân hàng lưu trên thiết bị, từ đó xâm nhập trái phép vào tài khoản .

Bên cạnh đó, NHNN đã và đang chỉ đạo, tổ chức triển khai làm sạch dữ liệu khách hàng, loại bỏ các tài khoản ngân hàng không chính chủ. Cụ thể, NHNN đã ban hành các thông tư hướng dẫn Nghị định số 52/2024/NĐ-CP quy định về thanh toán không dùng tiền mặt, trong đó có quy định bắt buộc khách hàng chỉ được rút tiền, thực hiện giao dịch thanh toán bằng phương tiện điện tử khi đã hoàn thành việc đối chiếu khớp đúng giấy tờ tùy thân và thông tin sinh trắc học với: (i) dữ liệu sinh trắc học được lưu trong chíp của thẻ căn cước công dân (CCCD) đã được xác thực chính xác là do cơ quan Công an cấp hoặc thông qua xác thực tài khoản định danh điện tử do Hệ thống định danh và xác thực điện tử tạo lập; (ii) hoặc dữ liệu sinh trắc học được thu thập thông qua gặp mặt trực tiếp đối với trường hợp là người nước ngoài không sử dụng danh tính điện tử, người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch. Đối với khách hàng cá nhân áp dụng từ 01/01/2025; đối với khách hàng tổ chức áp dụng từ 01/7/2025.

Thứ hai, NHNN và các TCTD đã và đang triển khai nhiều giải pháp về mặt quy trình và công nghệ nhằm phòng, chống lừa đảo, gian lận trong lĩnh vực ngân hàng. Đồng thời, các TCTD đã và đang tích cực phối hợp với các đơn vị của Bộ Công an triển khai các giải pháp công nghệ ứng dụng dữ liệu dân cư theo định hướng tại Đề án 06 của Chính phủ nhằm làm sạch dữ liệu khách hàng, loại bỏ các tài khoản ngân hàng không chính chủ. Đến hết ngày 19/9/2025, cả ngành Ngân hàng đã có hơn 128,9 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân (CIF) được đối chiếu sinh trắc học qua CCCD gắn chip hoặc ứng dụng VNeID; đối với khách hàng tổ chức, đã đối chiếu thông tin sinh trắc học hơn 1,3 triệu hồ sơ.

Bên cạnh đó, từ khi Kế hoạch áp dụng các giải pháp về an toàn bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng được ban hành kèm theo Quyết định số 630/QĐ-NHNN ngày 31/3/2017 của Thống đốc NHNN, đến nay, các TCTD đã tích tăng cường triển khai các biện pháp xác thực đa thành tố, xác thực mạnh bằng sinh trắc học (qua dữ liệu CCCD gắn chip, VNeID); triển khai tích hợp các biện pháp bảo vệ tăng cường như: Áp dụng các cơ chế giám sát, phòng chống giao dịch bất thường, giao dịch gian lận (Antifraud) đối với kênh ngân hàng điện tử để có cảnh báo sớm và biện pháp ngăn chặn kịp thời với các giao dịch đáng ngờ của khách hàng. Thực hiện nhận diện khách hàng (KYC) đối với các giao dịch nhạy cảm như chuyển tiền số lượng lớn, kích hoạt lại thiết bị mới...

Đặc biệt, NHNN đã nghiên cứu xây dựng và đưa vào vận hành Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro cho khách hàng (SIMO). Hệ thống SIMO cho phép các tổ chức thành viên tham gia thực hiện báo cáo thông tin về các tài khoản đáng ngờ khi phát hiện và chia sẻ thông tin tới các thành viên khác. Trên cơ sở nguồn dữ liệu tập trung của hệ thống SIMO và nguồn dữ liệu về danh sách tài khoản đã tham gia vào quá trình luân chuyển dòng tiền lừa đảo đã được Bộ Công an thu thập, các TCTD có thể đưa ra các quyết định thực hiện ngăn chặn giao dịch ngay lập tức hoặc yêu cầu xác thực, định danh tài khoản trước thực hiện giao dịch trực tuyến. Theo Cục Công nghệ thông tin (NHNN), tính đến thời điểm đầu tháng 10/2025, hệ thống đã hỗ trợ cảnh báo và ghi nhận hơn 442 nghìn lượt khách hàng/giao dịch đã dừng, hủy giao dịch khi nhận được cảnh báo từ SIMO với số tiền giao dịch hơn 1,6 nghìn tỉ đồng.

Thứ ba, ngành Ngân hàng đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến kiến thức, hướng dẫn người dân, doanh nghiệp hiểu rõ và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số một cách an toàn, đúng quy định pháp luật; đồng thời cảnh báo các thủ đoạn, hành vi tội phạm, lừa đảo phổ biến mới xuất hiện liên quan đến hoạt động ngân hàng.

Thứ tư, ngành Ngân hàng đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an và các tổ chức liên quan trong công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và phòng, chống lừa đảo qua mạng trong ngành Ngân hàng.

Ứng dụng công nghệ mới giúp kịp thời phát hiện giao dịch gian lận, lừa đảo

Trước những thách thức về sự gia tăng tội phạm sử dụng công nghệ cao với nhiều chiêu trò lừa đảo trực tuyến ngày càng tinh vi trên quy mô toàn cầu, để tăng cường an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu của chính ngân hàng và khách hàng, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của khách hàng, ngành Ngân hàng cần tiếp tục triển khai các giải pháp sau:

Thứ nhất, về hành lang pháp lý, NHNN tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật để bổ sung, sửa đổi theo hướng thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Thứ hai, về mặt công nghệ, ngành Ngân hàng đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng các kho dữ liệu dùng chung cho ngành Ngân hàng để hướng tới các quyết định dựa trên dữ liệu; tiến tới triển khai các hạ tầng tính toán, lưu trữ, dữ liệu, ứng dụng BigData, AI, điện toán đám mây. Hoàn thiện hạ tầng công nghệ phục vụ chuyển đổi số, tăng cường kết nối, hợp tác với các ngành, lĩnh vực khác (kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu CCCD, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác...) nhằm tạo thuận lợi cho việc tích hợp, kết nối, chia sẻ thông tin với các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán để mở rộng hệ sinh thái số và phát triển dịch vụ ngân hàng số, thanh toán số.

Triển khai mở rộng việc kết nối, khai thác hệ thống SIMO (hệ thống giám sát các tài khoản thanh toán, ví điện tử nghi ngờ gian lận, giả mạo) cũng như kết nối, khai thác nguồn dữ liệu về danh sách tài khoản đã tham gia vào quá trình luân chuyển dòng tiền lừa đảo được Bộ Công an thu thập, chia sẻ để cảnh báo đến khách hàng khi thực hiện các giao dịch thanh toán trực tuyến.

Các TCTD, trung gian thanh toán cần hoàn thành đối chiếu khớp đúng thông tin sinh trắc học của chủ tài khoản thanh toán, ví điện tử hoặc người đại diện hợp pháp; tăng cường sử dụng BigData - AI và các công nghệ mới nhằm cung cấp dịch vụ cá nhân hóa nâng cao trải nghiệm khách hàng; phát hiện giao dịch gian lận, lừa đảo; đẩy mạnh triển khai Open Banking (ngân hàng mở), Open API (giao diện lập trình ứng dụng mở) nhằm tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ đổi mới sáng tạo phục vụ nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Tăng cường áp dụng cơ chế phát hiện, cảnh báo và ngăn chặn sử dụng ứng dụng Mobile Banking đối với các thiết bị bị phá khóa hoặc thiết bị đã kích hoạt quyền trợ năng; các cơ chế phát hiện đăng nhập trên thiết bị lạ. Việc kích hoạt thiết bị điện tử giao dịch Internet Banking cũng được áp dụng các biện pháp xác thực mạnh với quy trình xác thực lại chặt chẽ đòi hỏi sự tương tác chủ động của khách hàng thay vì các yếu tố xác thực tĩnh. Tăng cường sử dụng dịch vụ, công nghệ mới về Threat Intelligence để sớm phát hiện các vụ việc lộ, lọt thông tin tài khoản, xác thực của khách hàng trên mạng Internet cũng như có cơ chế nhanh chóng gỡ bỏ các website giả mạo. Huấn luyện đội ngũ cán bộ thành thạo và am hiểu quy trình xử lý với các vụ việc lừa đảo và cách ứng xử phù hợp với khách hàng.

Thứ ba, tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an và các bộ, ngành để triển khai các nhiệm vụ tại Đề án 06, Kế hoạch số 01/KHPH-BCA-NHNNVN về triển khai thực hiện các nhiệm vụ tại Đề án 06; phối hợp trong công tác phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao và lừa đảo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.

Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh truyền thông, thông tin đến khách hàng dưới nhiều hình thức để hướng dẫn, nâng cao nhận thức, kỹ năng cho khách hàng trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên môi trường mạng.

Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế để cập nhật công nghệ mới, kinh nghiệm về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; hợp tác về an ninh bảo mật, phòng chống rủi ro mạng và gian lận quốc tế.

Về phía người sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến

Để phòng ngừa rủi ro từ mã độc và các cuộc tấn công mạng, khách hàng cần lưu ý: Chỉ cài đặt ứng dụng từ các nhà phát triển uy tín, đồng thời kiểm tra kỹ các quyền truy cập mà ứng dụng yêu cầu. Nâng cao cảnh giác với các cuộc gọi lạ, mạo danh cán bộ nhà nước yêu cầu cài đặt ứng dụng, phần mềm. Tuyệt đối không cài đặt ứng dụng, nhấn vào link nếu không rõ nguồn gốc. Tuyệt đối không cấp quyền hỗ trợ, bởi tất cả các ứng dụng của ngân hàng, thuế hay bất kỳ cơ quan nào khác đều không yêu cầu người dùng quyền này.

Khi sử dụng ứng dụng ngân hàng nếu xuất hiện các dấu hiệu bất thường, chẳng hạn, ứng dụng yêu cầu quyền truy cập như Hỗ trợ (Trợ năng) hoặc SMS, xuất hiện thông báo “cập nhật” hay “bảo trì” khi đăng nhập, hoặc có pop-up lạ chồng lên màn hình; thiết bị hoạt động chậm, pin và dữ liệu tiêu hao nhanh bất thường, hoặc OTP nhận được bị trễ hoặc có dấu hiệu lạ cũng là những cảnh báo quan trọng, khách hàng nên tạm ngừng sử dụng ứng dụng, kiểm tra bảo mật thiết bị và liên hệ ngay với ngân hàng để được hỗ trợ.

Khách hàng cần hết sức cảnh giác với các yêu cầu quét mã QR hoặc truy cập đường link lạ. Hiện nay, theo quy định tại Thông tư 50, từ ngày 01/01/2025, các ngân hàng sẽ không gửi tin nhắn SMS, thư điện tử cho khách hàng có nội dung chứa đường dẫn liên kết (hyperlink) truy cập các trang tin điện tử. Quy định này có thể giúp khách hàng nhận biết được những tin nhắn SMS hay thư điện tử lừa đảo.

Hạn chế dùng máy tính công cộng, mạng không dây công cộng khi truy cập vào hệ thống ngân hàng điện tử. Gõ trực tiếp địa chỉ các trang web ngân hàng điện tử thay vì chọn đường link có sẵn, chỉ đăng nhập tại website chính thức của ngân hàng. Tiến hành mua sắm, thanh toán trực tuyến tại các trang mạng uy tín, được cấp phép hoạt động, có thông tin liên lạc rõ ràng.

Khi sử dụng hòm thư điện tử, không mở các thư điện tử không rõ nguồn gốc; không tải, mở các tập tin, đường dẫn lạ khi không chắc chắn về nguồn gốc, địa chỉ hòm thư người gửi. Cần chú ý kiểm tra tên địa chỉ hòm thư thật kỹ, tội phạm mạng thường sử dụng các ký tự gần giống nhau để đánh lừa người nhận, ví dụ: “boyte” thành “boyle”, “microsoft” thành”mlcrosoft”.

Luôn bật xác thực hai lớp (2FA) hoặc sử dụng sinh trắc học cho tài khoản ngân hàng, và cập nhật phần mềm, ứng dụng thường xuyên để vá các lỗ hổng bảo mật. Đồng thời, kích hoạt Google Play Protect, luôn bật công cụ bảo mật miễn phí này để tự động quét và phát hiện các ứng dụng độc hại.

Khi nghi ngờ thiết bị bị nhiễm mã độc, khách hàng cần thực hiện ngay các biện pháp sau: Trước hết, gỡ bỏ ứng dụng đáng ngờ bằng cách vào Cài đặt > Ứng dụng; nếu không gỡ được, hãy tắt quyền quản trị thiết bị của ứng dụng trước. Tiếp theo, vô hiệu hóa các quyền nhạy cảm bằng cách truy cập Cài đặt > Hỗ trợ tiếp cận (Accessibility) và tắt các ứng dụng không rõ nguồn gốc. Sau đó, thay đổi ngay mật khẩu cho tất cả tài khoản ngân hàng và ví điện tử, đồng thời kích hoạt xác thực hai lớp (2FA), ưu tiên sử dụng sinh trắc học. Cuối cùng, liên hệ ngay với ngân hàng nếu phát hiện giao dịch bất thường hoặc nghi ngờ thiết bị bị chiếm quyền truy cập.

Trong trường hợp bị lộ hoặc nghi ngờ bị lộ Tên đăng nhập/Mật khẩu khách hàng cần nhanh chóng thông báo tới ngân hàng để được hỗ trợ kịp thời; trường hợp mất thẻ cần khóa thẻ trên ứng dụng ngân hàng điện tử hoặc thông báo tới ngân hàng càng sớm càng tốt, tránh nguy cơ mất tiền trong thẻ.

Tài liệu tham khảo:

1. Cổng thông tin điện tử Bộ Công an: https://bocongan.gov.vn/

2. Ngân hàng TMCP An Bình, https://abbank.vn/

3. https://www.kaspersky.com.vn/

4. https://www.bleepingcomputer.com/

5. https://www.techradar.com/

Hà Thư
NHNN

Tin bài khác

Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong thúc đẩy kinh tế xanh và thực hiện chiến lược Net-Zero, qua đó, đề xuất bài học và giải pháp giúp doanh nghiệp Việt Nam kết hợp chuyển đổi số với chuyển đổi xanh, hướng đến phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Hệ khuyến nghị học liên kết: Xu hướng phát triển trong kỷ nguyên dữ liệu phân tán

Hệ khuyến nghị học liên kết: Xu hướng phát triển trong kỷ nguyên dữ liệu phân tán

Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng phân tán và yêu cầu nghiêm ngặt về bảo vệ quyền riêng tư, hệ khuyến nghị học liên kết (Federated Recommender Systems - FRS) nổi lên như một hướng tiếp cận tiềm năng, cho phép khai thác dữ liệu từ nhiều nguồn mà không cần chia sẻ dữ liệu gốc, qua đó mở rộng khả năng ứng dụng trong ngân hàng, thương mại điện tử, y tế và giáo dục.
Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngày 18 - 19/8/2026, sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo (AI)” đã chính thức diễn ra tại Hà Nội.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong tăng cường bảo mật dữ liệu và quản trị rủi ro an ninh mạng đối với chuỗi cung ứng tài chính (Financial Supply Chain - FSC) trong ngành Ngân hàng, qua đó làm rõ những lợi ích, thách thức và hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng AI trong bối cảnh chuyển đổi số.
Cơ hội và thách thức của nghề kế toán, kiểm toán trong bối cảnh phát triển khoa học - công nghệ, hội nhập quốc tế

Cơ hội và thách thức của nghề kế toán, kiểm toán trong bối cảnh phát triển khoa học - công nghệ, hội nhập quốc tế

Bài viết này làm rõ tác động của khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế đối với nghề kế toán, kiểm toán, đồng thời đề xuất các giải pháp đổi mới đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Ứng dụng Geo-Tagging trong minh bạch hóa dữ liệu thanh toán số tại khu vực nông thôn Việt Nam

Ứng dụng Geo-Tagging trong minh bạch hóa dữ liệu thanh toán số tại khu vực nông thôn Việt Nam

Bài viết đề xuất ứng dụng công nghệ Geo-Tagging trong quản trị dữ liệu thanh toán số tại khu vực nông thôn, góp phần minh bạch hóa dòng tiền, nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tài chính toàn diện, đồng thời tạo nền tảng phát triển hệ sinh thái thanh toán số an toàn, hiện đại và bền vững tại Việt Nam.
Xem thêm
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Bài viết phân tích những định hướng sửa đổi quan trọng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7) về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong bối cảnh tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính.
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại