Thúc đẩy tín dụng xanh hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững theo thông lệ quốc tế

Hoạt động ngân hàng
Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã không ngừng chuyển đổi số, lồng ghép mục tiêu tăng trưởng xanh vào chiến lược kinh doanh, tích cực huy động nguồn lực tham gia tài trợ vốn cho các lĩnh vực xanh, từ đó tăng dần quy mô và tốc độ dư nợ tín dụng xanh. Đây là đánh giá của nhiều chuyên gia tại Tọa đàm đẩy mạnh triển khai Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030 và Lễ công bố "Sổ tay hướng dẫn hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài" do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức ngày 21/5/2025 dưới sự chủ trì của Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú.
aa
Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú phát biểu khai mạc Tọa đàm
Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú phát biểu khai mạc Tọa đàm

Tín dụng xanh tăng tốc mạnh mẽ

Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết, trước những tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, vấn đề về suy thoái môi trường đến phát triển kinh tế và ổn định xã hội, tăng trưởng xanh không còn là một lựa chọn mà đã trở thành một yêu cầu cấp thiết đối với các quốc gia trên thế giới - đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam. Chính vì vậy, chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh - phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường và sử dụng hiệu quả tài nguyên là xu thế tất yếu để Việt Nam hướng đến một tương lai bền vững, bao trùm và thịnh vượng.

Bám sát các chủ trương, định hướng trên, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết, NHNN xác định vai trò quan trọng của nguồn vốn tín dụng ngân hàng thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia nên đã vào cuộc rất sớm. Từ năm 2015, NHNN đã lồng ghép mục tiêu phát triển bền vững trong các văn bản chỉ đạo công tác tín dụng, Chỉ thị thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường, xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; đặt ra yêu cầu tăng dần tỉ trọng tín dụng đầu tư cho các dự án xanh, phát triển ngân hàng xanh tại các chiến lược, đề án phát triển của ngành Ngân hàng thông qua các giải pháp tăng cường nhận thức, năng lực thực thi của toàn Ngành về tăng trưởng xanh. Đặc biệt, năm 2023, NHNN tiếp tục ban hành Kế hoạch hành động của toàn Ngành triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030 và các đề án về chống biến đổi khí hậu của Việt Nam, với 7 nhóm nhiệm vụ đồng bộ, toàn diện cho các đơn vị vụ, cục, chi nhánh của NHNN và các tổ chức tín dụng (TCTD).

Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng bình quân của dư nợ tín dụng xanh giai đoạn 2017 - 2024 đạt trên 21%/năm, vượt xa tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn Ngành. Sự phát triển về lượng đi cùng với cải thiện rõ rệt về chất. Đã có 57 TCTD triển khai đánh giá rủi ro môi trường, xã hội trong hoạt động cấp tín dụng, với tổng dư nợ được đánh giá đạt 3,62 triệu tỉ đồng, tăng gấp hơn 15 lần so với năm 2017. Nhiều ngân hàng đã thành lập Ban Chỉ đạo chuyển đổi xanh, tích hợp tiêu chí tăng trưởng xanh vào chiến lược kinh doanh, đồng thời công bố báo cáo phát triển bền vững, gia tăng tính minh bạch, giải trình và khẳng định vị thế trên thị trường tài chính - tín dụng quốc tế. Điều này cho thấy tín dụng xanh không còn là khái niệm mới lạ mà đã trở thành một hướng đi chiến lược được nhiều ngân hàng tích cực theo đuổi.

Sau gần 2 năm triển khai, Kế hoạch hành động của Ngành đã đạt nhiều kết quả tích cực. Bà Phạm Thị Thanh Tùng - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN khẳng định, nhận thức về yêu cầu phát triển bền vững có sự chuyển biến rõ rệt. Theo đó, 60% TCTD đã thành lập Ban Chỉ đạo chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, lồng ghép mục tiêu tăng trưởng xanh vào chiến lược kinh doanh, tích cực huy động nguồn lực tham gia tài trợ vốn cho các lĩnh vực xanh; 23 TCTD đã công bố báo cáo phát triển bền vững. Tính đến tháng 3/2025 đã có 58 TCTD phát sinh dư nợ xanh (năm 2017 chỉ có 15 TCTD), tốc độ tăng trưởng bình quân dư nợ tín dụng xanh giai đoạn 2017 - 2024 đạt trên 21%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng chung cho nền kinh tế. Đã có có 57 TCTD thực hiện đánh giá rủi ro môi trường và xã hội với dư nợ 3,62 triệu tỉ đồng, tăng hơn 15 lần so với thời điểm năm 2017. Nhiều TCTD đã công bố báo cáo phát triển bền vững, tăng tính giải trình và minh bạch, ngày càng khẳng định uy tín và vị thế của mình.

Là một quốc gia có nền tảng nông nghiệp vững chắc, Việt Nam đang ngày càng chú trọng đến việc phát triển nông nghiệp bền vững. Ông Đoàn Ngọc Lưu, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, Agribank có tỉ trọng tài trợ dự án xanh trong tổng dư nợ tín dụng tăng từ 0,9% năm 2020 lên 1,7% năm 2024. Quý I/2025, Agribank tiếp tục dẫn đầu về số lượng khách hàng được cấp tín dụng thuộc lĩnh vực xanh với hơn 41.600 khách hàng và tổng dư nợ đạt gần 29.300 tỉ đồng; triển khai chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030".

Tuy nhiên, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cũng nhìn nhận, thực tế cho thấy, việc triển khai Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng còn không ít khó khăn. Theo đó, việc triển khai chưa thực sự đồng đều, nhiều TCTD, ngân hàng thương mại chưa báo cáo NHNN, chưa phát sinh tín dụng dư nợ tín dụng xanh; kết quả tín dụng xanh chưa cao mặc dù còn nhiều dư địa phát triển, do thiếu khung pháp lý về danh mục xanh; công cụ thẩm định rủi ro còn hạn chế, thời gian hoàn vốn của dự án đầu tư xanh dài, hiệu quả tài chính chưa rõ ràng; việc huy động nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tài chính xanh quốc tế còn hạn chế.

Dưới góc độ của một ngân hàng, ông Trần Phương - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chia sẻ, Chính phủ chưa ban hành quy định về tiêu chí môi trường và việc xác nhận đối với dự án được cấp tín dụng xanh, phát hành trái phiếu xanh; chưa có các cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích cụ thể đối với việc cấp tín dụng xanh, phát hành trái phiếu xanh; phần lớn vốn huy động ngắn hạn, trong khi các dự án môi trường có thời gian hoàn vốn dài, đầu tư lớn; hệ thống thông tin quản lý và các công cụ hỗ trợ kiểm soát, giám sát danh mục xanh và ESG còn hạn chế do khung pháp lý chưa hoàn thiện…

Bên cạnh đó, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú còn chia sẻ, yêu cầu ngày càng cao về quản trị, chất lượng nguồn nhân lực ngân hàng trong lĩnh vực môi trường, xã hội, khí hậu để nhận diện, thẩm định quản lý, giám sát khoản cấp tín dụng cũng như tư vấn, hỗ trợ khách hàng đáp ứng các tiêu chí mới của quốc tế về phát thải… Để giải quyết những khó khăn này không chỉ có sự nỗ lực của ngành Ngân hàng mà cần phối hợp đồng bộ các cơ quan quản lý Nhà nước, sự hỗ trợ chia sẻ kinh nghiệm và nguồn lực của các tổ chức quốc tế. Trong khi đó, năm 2025 là năm có ý nghĩa quan trọng đánh giá 5 năm triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2025. Đây cũng là cơ hội để ngành Ngân hàng đánh giá khách quan, toàn diện những kết quả đã đạt được, nhận diện những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại, làm cơ sở cho việc điều chỉnh, hoàn thiện định hướng giải pháp, nhằm thúc đẩy thực hiện Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng hiệu quả hơn, góp phần đạt được mục tiêu của chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia giai đoạn tới.

Tăng cường hợp tác quốc tế tạo nguồn vốn cho tín dụng xanh

Gợi ý một số giải pháp trong thời gian tới, TS. Michaela Baur, Giám đốc GIZ tại Việt Nam tin rằng, phân loại xanh là yếu tố then chốt để định hướng các dòng vốn hướng tới tăng trưởng xanh và giúp Việt Nam tiếp cận nguồn tài chính xanh toàn cầu. Từ năm 2017, theo ủy thác của Chính phủ Đức, GIZ đã hỗ trợ NHNN xây dựng "Báo cáo thống kê tín dụng xanh". Đây được xem là phiên bản sơ khởi của một hệ thống phân loại xanh dành riêng cho ngành Ngân hàng, nhằm theo dõi và thúc đẩy các hoạt động tín dụng xanh.

Trong giai đoạn tiếp theo của Chiến lược tăng trưởng xanh, một hệ thống phân loại xanh quy mô quốc gia là hết sức quan trọng. Hệ thống này cần phải áp dụng toàn diện cho cả ngân hàng và thị trường vốn, đồng thời phù hợp với hệ thống phân loại ngành quốc gia của Việt Nam. Ngoài ra, hệ thống này phải cung cấp cơ sở pháp lý vững chắc để xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi về tài chính xanh, đồng thời phù hợp với các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế. Hiện tại, GIZ đang tích cực hợp tác với NHNN và các bộ, ngành liên quan để xây dựng hệ thống phân loại xanh quốc gia, dự kiến sẽ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào năm 2025, TS. Michaela Baur khẳng định.

Không chỉ vậy, hiện nhiều ngân hàng đang tăng tốc kiện toàn các nền tảng trụ cột cho khung phát triển bền vững, hướng tới việc tạo ra giá trị và tác động tích cực. Bà Nguyễn Minh Châu - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB) cho biết, MB đặt mục tiêu đầy tham vọng, trở thành ngân hàng xanh tiên phong, điển hình dẫn dắt về chuyển đổi ESG toàn diện trong chuỗi giá trị, hướng tới trung hòa carbon vào năm 2030. MB cũng sẽ tiên phong trong các giải pháp tài chính khí hậu, tận dụng thế mạnh nội tại về công nghệ số. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cùng với các TCTD khác, MB mong muốn NHNN sẽ tiếp tục phối hợp với các hiệp hội để tăng cường truyền thông và nâng cao năng lực về ESG cho toàn Ngành. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc tổ chức các hội thảo, tọa đàm trao đổi kinh nghiệm, cũng như xây dựng các cơ chế khuyến khích và hỗ trợ phù hợp.

Về phía NHNN, trong thời gian tới, trên cơ sở bám sát các mục tiêu về phát triển kinh tế xã hội, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và các nhiệm vụ được giao tại đề án, chiến lược, kế hoạch hành động về tăng trưởng xanh hay chống biến đổi khí hậu, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, NHNN tiếp tục thực hiện các giải pháp, chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động của ngành Ngân hàng hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Cụ thể, NHNN tiếp tục điều hành tăng trưởng tín dụng hợp lý, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ (bao gồm động lực truyền thống và động lực mới), hỗ trợ nền kinh tế đạt mức tăng trưởng 8% trở lên; tiếp tục rà soát, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, hướng dẫn về tín dụng xanh, trong đó đề xuất sửa đổi bổ sung cơ chế, chính sách tín dụng ưu đãi khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp theo mô hình kinh tế tuần hoàn; chỉ đạo TCTD tập trung nguồn vốn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân thực hiện các dự án xanh, thân thiện môi trường, mô hình kinh tế tuần hoàn.

Đồng thời, tích cực kết nối, làm việc với các tổ chức trong và ngoài nước để tiếp nhận các hỗ trợ về tài chính, hỗ trợ kỹ thuật để triển khai các hoạt động về tài chính xanh, ngân hàng xanh, đặc biệt là nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ ngân hàng về ngân hàng - tín dụng xanh, biến đổi khí hậu; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền trong ngành Ngân hàng nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết cho cán bộ ngân hàng, khách hàng về tăng trưởng xanh, sản xuất và tiêu dùng bền vững.

Một điểm nhấn quan trọng khác của Tọa đàm là Lễ ra mắt "Sổ tay hướng dẫn hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài". Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN cho biết, đây là một sản phẩm hợp tác giữa NHNN và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), được xây dựng theo các thông lệ quốc tế nhằm hỗ trợ TCTD áp dụng tiêu chuẩn ESG trong hoạt động tín dụng, thúc đẩy mục tiêu tài chính bền vững. Cấu trúc của Sổ tay gồm phạm vi và nguyên tắc quản lý rủi ro môi trường xã hội; hệ thống quản lý rủi ro môi trường xã hội; các chỉ số về môi trường xã hội và báo cáo; đề cập cách thức tham gia của các bên liên quan...

Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú nhấn mạnh, việc ra mắt Sổ tay hướng dẫn hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng do NHNN và IFC phối hợp biên soạn là rất thiết thực, "cầm tay chỉ việc" cho các TCTD trong việc xây dựng quy trình cụ thể và phù hợp theo tính chất từng ngân hàng và khoản vay. Đây là tài liệu tham khảo có tính thực tiễn cao, giúp các TCTD tăng cường quản lý rủi ro theo các thông lệ quốc tế tốt nhất, góp phần triển khai hiệu quả Kế hoạch hành động ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh.

Hương Giang

Tin bài khác

Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Bài viết phân tích vai trò của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, trên cơ sở đánh giá thực trạng, khung pháp lý và những hạn chế hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường huy động và phân bổ vốn cho mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu và phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Agribank: Khát vọng xanh và cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong hành trình hiện đại hóa tam nông

Agribank: Khát vọng xanh và cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong hành trình hiện đại hóa tam nông

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) từ ngân hàng truyền thống sang mô hình “ngân hàng số xanh”, với trọng tâm là tín dụng nông nghiệp bền vững, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong thẩm định tín dụng và vai trò dẫn dắt dòng vốn phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam.
Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Bài viết phân tích yêu cầu về khả năng thanh toán - điều kiện cốt lõi trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp (Emergency Liquidity Assistance - ELA) của ngân hàng trung ương (NHTW), thông qua việc so sánh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xử lý các cuộc khủng hoảng ngân hàng gần đây, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện khuôn khổ hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp tại Việt Nam theo hướng linh hoạt, dựa trên đánh giá triển vọng và tăng cường phối hợp chính sách giữa các cơ quan liên quan.
Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành ngày càng được áp dụng rộng rãi, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng lộ trình áp dụng IFRS phù hợp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhằm nâng cao minh bạch tài chính, năng lực quản trị và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ vai trò của các yếu tố công nghệ, tâm lý và tài chính cá nhân trong việc hình thành hành vi chấp nhận dịch vụ của khách hàng.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Xem thêm
Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Bài viết cho rằng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại cùng với phát triển Trung tâm tài chính quốc tế sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam tạo đột phá tăng trưởng và vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Bài viết này xây dựng khung đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực dựa trên mô hình Input - Process - Output - Effectiveness (IPOE), đồng thời đề xuất hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) nhằm lượng hóa hiệu quả giám sát theo vị trí việc làm.
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng