Sử dụng công cụ SWOT cho xây dựng chiến lược hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong điều kiện hội nhập và phát triển công nghệ hiện nay

Hoạt động ngân hàng
Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam (NHCSXH) sau 15 năm hoạt động, đang ngày càng lớn mạnh và chứng tỏ vai trò quan trọng đối với công cuộc giảm nghèo và phát triển bền vững của Việt Nam. Trong điều...
aa

Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam (NHCSXH) sau 15 năm hoạt động, đang ngày càng lớn mạnh và chứng tỏ vai trò quan trọng đối với công cuộc giảm nghèo và phát triển bền vững của Việt Nam. Trong điều kiện hội nhập, với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4G) đang diễn ra hết sức sôi nổi, ảnh hưởng tới mọi hoạt động, trong đó có hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng nói chung và của NHCSXH nói riêng. Bài viết này sử dụng công cụ SWOT1 để phân tích nội lực và các điều kiện môi trường của NHCSXH, từ đó đưa ra các chiến lược hoạt động trong điều kiện mới.

PGS., TS. Lê Thanh Tâm, Nguyễn Hải Yến

1. Giới thiệu về công cụ SWOT

Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức kinh doanh nào (Humprey, 2005). SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một doanh nghiệp. Phương pháp phân tích SWOT cùng với ứng dụng của nó để phân tích chiến lược doanh nghiệp bao gồm 2 giai đoạn.
Giai đoạn 1: Phân tích tình trạng hiện tại của doanh nghiệp và dự đoán các điều kiện hoạt động trong tương lai. Giai đoạn này gồm 4 bước cụ thể như sau:
Bước 1: Trả lời cụ thể từng câu hỏi liên quan đến hình ảnh hoạt động của doanh nghiệp, phạm vi hoạt động của nó, xác định về khách hàng và những đòi hỏi của họ (xác định các khu vực thị trường phục vụ) đồng thời là các định hướng của lãnh đạo doanh nghiệp.
Bước 2: Nhận biết các ngoại cảnh của doanh nghiệp, nhất là ngoại cảnh vĩ mô, cũng như ngoại cảnh cạnh tranh; đồng thời đánh giá các cơ hội và các nguy cơ.
Bước 3: Sắp xếp các phân tích tình trạnh hiện hữu của doanh nghiệp và dự báo tương lai về các cơ hội và nguy cơ diễn ra ở ngoại cảnh.
Bước 4: Xác định mặt mạnh - yếu của doanh nghiệp và tập trung vào các tiềm lực bên trong doanh nghiệp.
Giai đoạn 2: Thiết kế chiến lược cho 4 nhóm tình huống, bao gồm 3 bước cụ thể như sau:
Bước 5: Soạn thảo ra các phương án chiến lược cho doanh nghiệp.
Bước 6: Xác định các hành động và chiến thuật cần phải thực hiện để đạt được mục tiêu chiến lược. Phân tích lại một lần nữa các bước từ 1 đến 6, tổng hợp lại để đánh giá, xác định các mối quan hệ tương tác, loại bỏ những mâu thuẫn đối kháng.
Bước 7: Chuẩn bị kế hoạch chiến lược trên cơ sở các phân tích các mặt mạnh - yếu gắn kết với các cơ hội, nguy cơ diễn ra bên ngoài doanh nghiệp. Phần này sẽ tạo thành 4 nhóm chiến lược mẫu: Chiến lược SO - maxi - maxi; chiến lược WO - mini - maxi; Chiến lược ST - maxi - mini; và Chiến lược WT - mini - mini.
2. Sử dụng SWOT cho phân tích thực trạng và các điều kiện hoạt động trong tương lai đối với NHCSXH Việt Nam
Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam
NHCSXH được thành lập lại trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 4/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ. Ngoài việc tập trung giải quyết nhu cầu vốn cho người nghèo, góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo, NHCSXH còn giúp tái cơ cấu các ngân hàng thương mại nhà nước, giảm thiểu tác động tiêu cực của kênh cho vay chính sách, đảm bảo sự tập trung vào tín dụng thương mại đối với các ngân hàng này. NHCSXH tiếp tục đảm trách các chức năng của Ngân hàng Phục vụ người nghèo, trở thành kênh cung cấp tín dụng nhỏ do Chính phủ trợ cấp vốn trước đây được thực hiện qua các Bộ theo các chương trình và dự án chính sách xã hội và giảm nghèo.
NHCSXH ngay từ những ngày đầu hoạt động đã định hướng tập trung tăng cường sự hợp tác có hiệu quả với các Bộ, ban, ngành, các tổ chức hội đoàn thể như Hội Phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh..., tạo cơ sở tiếp cận được với các hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên phạm vi cả nước.
Hiện tại, NHCSXH có bộ máy quản lý và điều hành thống nhất trong phạm vi cả nước, là một pháp nhân có vốn điều lệ và hệ thống giao dịch từ trung ương đến địa phương, với 63 chi nhánh cấp tỉnh, một sở giao dịch, các phòng giao dịch cấp huyện với 9-12 cán bộ/phòng. Đặc biệt, hoạt động của NHCSXH có sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện dịch vụ ủy thác một số công đoạn trên cơ sở thiết lập hàng trăm nghìn tổ tiết kiệm và vay vốn (TKVV) làm nhiệm vụ giám sát, quản lý hộ nghèo sử dụng vốn vay (NHCSXH Việt Nam, 2017).
Các điểm mạnh của NHCSXH
Qua quá trình hoạt động từ Ngân hàng Phục vụ người nghèo chính thức chuyển thành NHCSXH 15 năm vừa qua, NHCSXH đã đạt được những thành công lớn lao, đặc biệt về quy mô hoạt động. Có thể tổng kết lại những điểm mạnh của NHCSXH Việt Nam như sau:
Thứ nhất, mạng lưới hoạt động rộng khắp. NHCSXH là tổ chức tín dụng chính thức duy nhất ở Việt Nam có mạng lưới điểm giao dịch tới 99% số xã với hơn 200 ngàn tổ tiết kiệm - vay vốn trên toàn quốc kể cả ở các vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo. Hiện tại, chưa tổ chức nào khác có mạng lưới nối kết với khách hàng rộng lớn như NHCSXH. Điều này tạo điều kiện cho khách hàng hiện tại và tiềm năng ở tất cả các vùng miền đều có cơ hội được tiếp cận với các dịch vụ NHCSXH, và cũng là cơ hội để NHCSXH trở thành đại lý hoặc đơn vị phối hợp hoạt động cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các tổ chức khác.
Thứ hai, NHCSXH là tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô lớn nhất trên thị trường. So với các tổ chức khác, NHCSXH chiếm tới trên 70% cả về số lượng khách hàng tín dụng và tiết kiệm. Duy chỉ có quy mô tiết kiệm của NHCSXH là chưa đạt thị phần lớn như mong đợi. (Bảng 1)


Thứ ba, mô hình hoạt động hợp tác gắn kết chặt chẽ với các tổ chức chính trị - xã hội địa phương. NHCSXH là tổ chức tín dụng duy nhất mà Hội đồng quản trị gồm 14 thành viên, trong đó 12 thành viên là các lãnh đạo cao cấp của các Bộ, ban, ngành có liên quan, và 2 thành viên chuyên trách. Đặc biệt, tất cả các tổ chức chính trị - xã hội (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh) đều là thành viên trong Hội đồng quản trị. Do vậy, khi thực hiện các hoạt động, các cán bộ ở các tổ chức chính trị - xã hội địa phương có trách nhiệm hơn, có tính sở hữu cao hơn so với các tổ chức tín dụng khác. Đây chính là điểm mạnh lớn nhất, mang tính chất dài hạn của NHCSXH và cần được phát huy trong thời gian tới.
Thứ tư, chi phí giao dịch đối với khách hàng của NHCSXH nói chung thấp, thủ tục đơn giản hơn so với các tổ chức tài chính chính thức khác. Do các giao dịch thực hiện tại điểm giao dịch nằm ở trung tâm xã/phường, thông qua các tổ tiết kiệm vay vốn, thời gian thực hiện giao dịch nhanh chóng và được xác định trước. Do sử dụng nhân lực hỗ trợ là các cán bộ thuộc các tổ chức chính trị - xã hội ngay tại địa bàn xã, hiểu rõ tâm lý nhu cầu dân chúng, các NHCSXH đã sử dụng tối đa các biện pháp thế chấp phi truyền thống nhằm giải quyết vấn đề khó khăn này của các đối tượng chính sách tại địa phương. Do vậy, có thể nói điểm mạnh này là kết quả của sức mạnh mô hình tổ chức liên kết.
Thứ năm, thời gian giao dịch được xác định trước => chủ động cho khách hàng. Tất cả các điểm giao dịch NHCSXH đều công khai thời gian giao dịch cho khách hàng, và các lịch giao dịch cố định này tạo điều kiện cho khách hàng dễ nhớ, dễ tiếp xúc với cán bộ ngân hàng khi cần thiết.
Thứ sáu, lãi suất cho vay thấp => có lợi cho khách hàng. Hầu hết các chương trình cho vay của NHCSXH đều có lãi suất ưu đãi, thấp hơn so với lãi suất thị trường. Điều này xuất phát từ cách tiếp cận của các nhà quản lý trong việc hình thành và phát triển ngân hàng, bắt nguồn từ Nghị định 78/2002, Điều 18 “ Lãi suất cho vay ưu đãi do Thủ tướng Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ theo đề nghị của Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội, thống nhất một mức trong phạm vi cả nước, trừ các tổ chức kinh tế thuộc đối tượng được quy định tại khoản 3, khoản 5 Điều 2 Nghị định này do Hội đồng Quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội quyết định có phân biệt lãi suất giữa khu vực II và khu vực III”. Điều này có lợi cho khách hàng vì lãi trả thấp hơn so với cho vay các tổ chức khác và tín dụng tư nhân. Tuy nhiên điểm mạnh này chỉ mang tính chất ngắn hạn, khi NHCSXH đổi mới và đa dạng hóa hoạt động, giảm ưu đãi về lãi suất. Hơn nữa, chính sách lãi suất thấp có thể gây ra một số hạn chế thể hiện trong cách tiếp cận truyền thống như phần trình bày phía sau. Do vậy, lãi suất thấp vừa thể hiện điểm mạnh vừa có hạn chế bên trong.
Các điểm yếu của NHCSXH
Mặc dù thành lập và hoạt động với các cơ chế hoàn toàn đặc thù theo quy định của Chính phủ, tạo ra những thế mạnh cho NHCSXH, nhưng chính điều này cũng gây ra những hạn chế và rào cản cho sự phát triển của tổ chức. NHCSXH hiện đang tồn tại một số hạn chế nhất định, chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau:
Thứ nhất, các dịch vụ cung ứng còn kém đa dạng. Theo Nghị định 78/2002/NĐ-CP, NHCSXH hoạt động tập trung vào dịch vụ tín dụng cho các đối tượng chính sách. Do vậy, từng dịch vụ tín dụng của NHCSXH đều được quy định cụ thể bằng quyết định riêng của Thủ tướng Chính phủ. Dịch vụ tiết kiệm được thực hiện theo nguyên tắc “lãi suất huy động vốn tối đa không quá mức lãi suất huy động cao nhất cùng kỳ hạn, cùng thời điểm của các NHTM mà nhà nước chiếm cổ phần chi phối trên cùng địa bàn”, trong khi cho vay theo lãi suất ưu đãi cố định. Do vậy, quy mô tiết kiệm được huy động của NHCSXH còn khá khiêm tốn, chưa thực sự là nguồn vốn chủ yếu cho hoạt động tín dụng của ngân hàng. Động lực để tăng tiết kiệm ở mức tối đa so với khả năng khách hàng còn chưa cao, còn phụ thuộc một phần vào nguồn vốn ngân sách cấp bù lãi suất. Dịch vụ thanh toán hiện đang ở mức thử nghiệm ban đầu. Các dịch vụ tài chính khác hầu như chưa có.
Thứ hai, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chưa cao. Mặc dù ngân hàng lõi đã được ứng dụng tại NHCSXH, nhưng mức độ còn rất cơ bản. Mức độ ứng dụng các phần mềm quản lý trong giao dịch của NHCSXH trở nên rất khó khăn với điều kiện ứng dụng công nghệ hiện tại. Báo cáo quản trị nội bộ chưa được chi tiết hóa và tự động hóa cao trên toàn quốc. Các giao dịch e-bankings và online (như POS, ATM, mobile banking, phone banking, internet banking…) hầu như chưa phát triển, chủ yếu là giao dịch trực tiếp. Điều này là do: (i) quy mô hoạt động rộng khắp cả nước; (ii) số lượng giao dịch của NHCSXH là lớn nhất so với tất cả các NHTM và tổ chức tín dụng khác; (iii) giá trị giao dịch tương đối thấp; (iv) chi phí cho ứng dụng công nghệ mới ngày càng đắt đỏ; và (v) cơ sở hạ tầng kết nối mạng chung của cả nước chưa thực sự có chất lượng đồng đều và ổn định.
Thứ ba, chưa bền vững về tài chính, vẫn phụ thuộc trợ cấp. Mặc dù mức độ bền vững hoạt động (OSS) của NHCSXH đã đạt mức trên 100%, mức bền vững tài chính FSS còn chưa đạt yêu cầu. Lý do chính là: (1) nguồn thu hạn chế, do lãi suất đầu ra thấp theo quy định của Chính phủ, trong khi các nguồn thu phi lãi khác còn hết sức khiêm tốn; (2) công tác quản lý chi phí hoạt động mang tính chất phi thương mại, chưa tính tới các yếu tố chi phí vốn chủ sở hữu, chi phí lạm phát; (3) nhiều nguồn vốn của NHCSXH có lãi suất thấp, được tài trợ trực tiếp hoặc qua bảo lãnh của Chính phủ; (4) tổng chi phí hoạt động và chi phí hoạt động trên một đồng giao dịch đối với ngân hàng cao. Với mục tiêu giảm chi phí giao dịch cho khách hàng, NHCSXH đã phải chấp nhận chi phí giao dịch chuyển sang cho ngân hàng thông qua việc nhân viên giao dịch đi đến tận các điểm giao dịch, chịu tất cả các chi phí và rủi ro của quá trình đi lại với tiền mặt được mang theo mình. Với số lượng điểm giao dịch toàn quốc và quy mô trên một giao dịch nhỏ, hiệu quả chi phí hoạt động của NHCSXH là một nội dung cần quan tâm. Điều này tốt cho khách hàng do giảm chi phí vay vốn, nhưng khiến tổng chi phí hoạt động của NHCSXH cao.
Thứ tư, chưa thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao ở nhiều vị trí chủ chốt. Do phạm vi hoạt động rộng khắp, nhân viên của NHCSXH phải quản lý số lượng khách hàng rất lớn, trong khi thu nhập ở mức rất khiêm tốn. Do vậy, việc thu hút các nguồn nhân lực chất lượng cao làm việc tại các vị trí chủ chốt như các NHTM khác là vô cùng khó khăn. Hơn nữa, NHCSXH dựa vào hệ thống cán bộ từ các tổ chức chính trị - xã hội để thực hiện công tác tuyên truyền, mức độ hiểu biết hoạt động ngân hàng không thực sự đồng đều do tính không chuyên, và cũng bị ảnh hưởng bởi yếu tố nhiệm kỳ. Với các tổ trưởng tổ tiết kiệm vay vốn, thực hiện một số công việc trong hoạt động tín dụng, chủ yếu thực hiện nghiệp vụ dựa trên kinh nghiệm và huấn luyện ngắn hạn của cán bộ NHCSXH. Độ tuổi chung của các tổ trưởng nhìn chung khá cao, sẽ là rào cản cho việc thực hiện các nghiệp vụ kỹ thuật số trong tương lai. Vấn đề đảm bảo chất lượng đồng đều trong cung cấp dịch vụ tới khách hàng cuối cùng là điều khá khó khăn.
Thứ năm, nguồn vốn hạn chế, khả năng tăng trưởng chưa bền vững. Mặc dù nguồn vốn của NHCSXH gồm: (1) nguồn vốn từ ngân sách nhà nước; (2) vốn huy động từ tiền gửi, phát hành trái phiếu; (3) vốn đi vay; (4) vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước; (5) vốn nhận ủy thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi chính phủ, các cá nhân trong và ngoài nước; và (6) các nguồn vốn khác. Tuy vậy, các khoản huy động tiền gửi bắt buộc 2%, đi vay và phát hành trái phiếu về bản chất vẫn do Nhà nước bảo lãnh hoặc là của Nhà nước. Các nguồn huy động tiết kiệm tự nguyện trong những năm qua có sự tăng trưởng nhất định, trong khi các nguồn khác cũng có sự thay đổi nhất định, nhưng chiếm tỷ trọng nhỏ. Nguồn vốn hoạt động của NHCSXH phụ thuộc hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp vào ngân sách. Trong điều kiện ngân sách hiện nay và trong thời gian tới tại Việt Nam, khả năng tăng các nguồn liên quan tới ngân sách rất giới hạn, trong khi nguồn tiết kiệm chưa trở thành một nguồn chính. Việc đi vay trên thị trường liên ngân hàng để quản lý nguồn theo thị trường của NHCSXH mới bắt đầu thực hiện nhưng còn ở giai đoạn ban đầu. Do vậy, nguồn vốn của NHCSXH trong những năm qua quy mô còn giới hạn và còn cần nhiều giải pháp để tăng trưởng bền vững nguồn vốn trong tương lai.

Thứ sáu, NHCSXH hiện đang áp dụng nhiều hơn cách tiếp cận truyền thống trong cung cấp dịch vụ tài chính vi mô. Tài chính vi mô cung cấp theo nhiều trường phái khác nhau, nhưng tựu chung có 3 trường phái chính như
bảng 2 dưới đây.

Mỗi trường phái có ưu thế và nhược điểm riêng. Hiện nay, NHCSXH hiện đang ứng dụng trường phái truyền thống kết hợp với thể chế mới, do vậy các vấn đề phê phán của trường pháp truyền thống cũng đã và đang bị đánh giá và xem xét ở phạm vi nhất định. Đây cũng là điều mà các cơ quan quản lý và bản thân ban lãnh đạo NHCSXH đã nhận ra. Một số giải pháp đã và đang được áp dụng để giảm dần chính sách lãi suất ưu đãi, tăng lãi suất tiệm cận với thị trường. Cụ thể, trong Chiến lược phát triển NHCSXH giai đoạn 2011-2020, “mức độ ưu đãi về lãi suất phân biệt theo các nhóm đối tượng thụ hưởng, sẽ giảm dần và được thay thế bằng các hình thức ưu đãi về qui trình, thủ tục và điều kiện vay vốn. Mức ưu đãi cao nhất dành cho hộ đồng bào dân tộc nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn. Đối với hộ không thuộc diện hộ nghèo nhưng được hưởng một số chính sách tín dụng ưu đãi, hộ cận nghèo thì lãi suất tiếp cận dần với lãi suất thị trường” (Chính phủ, 2012). Tuy vậy, việc thực hiện giải pháp này cần được đẩy nhanh và rốt ráo hơn, tăng dần cách tiếp cận thể chế mới và giảm hơn nữa các tác động tiêu cực của lãi suất thấp.
Các cơ hội và thách thức cho hoạt động của NHCSXH trong điều kiện hiện nay
Trong những năm đổi mới vừa qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất thuyết phục về phát triển kinh tế và giảm đói nghèo, với tỷ lệ tăng trưởng GDP bình quân 6,37% trong giai đoạn 1997-2016 (WB, 2016). Những cam kết của Chính phủ đối với tự do hóa kinh tế và hội nhập quốc tế, những phát triển nổi bật, và những cải cách ngày càng gia tăng để hiện đại hóa nền kinh tế đã giúp Việt Nam gia nhập sâu rộng hơn vào các hiệp ước WTO, APEC, ASEAN. Việt Nam cũng đã đạt được những thành tựu vô cùng ấn tượng về giảm nghèo, với tỷ lệ nghèo đói giảm từ 58% năm 1993 xuống 7% năm 2015, và là một trong vài quốc gia trên thế giới được UN đánh giá là đạt được nhiều mục tiêu thiên niên kỷ trước hạn (UN, 2017).
Tuy vậy, Việt Nam vẫn là một nước kém phát triển, với 65,3% dân cư sống trong khu vực nông thôn, hơn 50% lao động vẫn thuộc khu vực nông nghiệp (World Meters, 2017, Truong Hoa Binh, 2017). Vẫn còn tới hơn 1,44 triệu hộ nghèo (5,97%) và 1,34 triệu hộ cận nghèo, dễ dàng quay trở lại mức nghèo khổ. Sự thay đổi cách xác định chuẩn nghèo đa chiều hiện nay sẽ tác động lớn tới số lượng người nghèo và các đối tượng dễ bị tổn thương ở Việt Nam hiện nay (ADB, 2016). Sự gia nhập cộng đồng quốc tế tạo điều kiện để nền kinh tế nông thôn phát triển, nhưng cũng tạo ra rất nhiều thách thức trong cạnh tranh, đặc biệt trong điều kiện cánh kéo giá bất lợi cho khu vực nông thôn, đặc biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay. Do vậy, các khách hàng của NHCSXH nói riêng và của khu vực nông nghiệp nông thôn nói riêng gặp khó khăn hơn trong sản xuất kinh doanh, tạo thu nhập. Bên cạnh đó, một số quy định cụ thể cho hoạt động của NHCSXH còn bất cập, sự cạnh tranh giữa các tổ chức tài chính trong khu vực nông thôn trở nên gay gắt. Cuộc cách mạng công nghệ 4G tạo điều kiện cho các doanh nghiệp fintech phát triển, cung cấp các dịch vụ ngân hàng với chi phí thấp và mức độ tiếp cận rộng nhờ điện thoại/internet.
Hơn nữa, các quy định quy định an toàn với NHCSXH khá khác biệt và chưa theo thông lệ như ngân hàng truyền thống. Do đặc thù hoạt động của NHCSXH, các quy định về quy chế cho vay, đảm bảo an toàn, phân loại nợ… của tổ chức tín dụng thông thường hiện được áp dụng hạn chế cho NHCSXH. Một số quy định cho hoạt động của NHCSXH hiện tại được quy định riêng. Ví dụ, NHCSXH có mức dự trữ bắt buộc là 0% và không phải bảo hiểm tiền gửi, không phải duy trì hệ số CAR, phân loại nợ có sự khác biệt so với các TCTD khác trong quản lý. Do vậy, nếu phải thực hiện áp dụng các tiêu chuẩn an toàn như thông lệ, NHCSXH sẽ phải thực hiện đánh giá lại các mức độ nợ xấu, bền vững, mức độ đủ vốn, cũng như điều chỉnh nhiều hoạt động và chiến lược. Do đó, các cơ hội và thách thức cho hoạt động của NHCSXH được tổng kết trong bảng 3 sau đây.
SWOT đối với NHCSXH
Dựa trên phần đánh giá về các điểm mạnh, điểm yếu của NHCSXH, cũng như xem xét các cơ hội và thách thức hiện tại từ môi trường hoạt động tài chính trong điều kiện cuộc cách mạng 4G, chúng ta có bảng tổng kết SWOT như sau về NHCSXH Việt Nam: (Xem bảng 3).


3. Xây dựng chiến lược hoạt động của NHCSXH theo mô hình SWOT

Dựa vào mô hình SWOT trên, chúng ta có thể tổng kết các chiến lược sau đối với NHCSXH trong thời gian tới:
Chiến lược phát triển SO (maxi - maxi): Sử dụng tối đa các điểm mạnh, kết hợp với các cơ hội, chúng ta có chiến lược phát triển của NHCSXH trong thời gian tới như sau:
- Tiếp tục tập trung vào thị phần tài chính vi mô, tận dụng tối đa mạng lưới, phát triển việc hợp tác toàn diện với các TCTD khác cùng địa bàn trên nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi. Ví dụ, NHCSXH hỗ trợ, trở thành đại lý hoặc kết hợp với các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác, quản lý hộ khách hàng, phân tích nhu cầu thị trường theo đơn đặt hàng của các tổ chức tín dụng khác (S1,S2,S3 kết hợp với O1, O3 và O4).
- Chọn lựa, đầu tư công nghệ phù hợp với giá cả hợp lý để phát triển đa dạng hóa hoạt động, đa dạng hóa cách thức tiếp cận đối với khách hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng (S1, S2, S4 kết hợp với O1,O2,O5).
- Tăng cường hoạt động ủy thác đầu tư và ủy thác cho vay cho các chương trình/dự án, hoạt động đại lý, mở rộng quản lý hộ các đại lý tài chính số cho các đơn vị khác (S1, S4, S5 kết hợp với O2, O4, O5).
Chiến lược cạnh tranh WO. (mini - maxi): Tận dụng tối đa các cơ hội để khắc phục các điểm yếu của NHCSXH, chúng ta có chiến lược cạnh tranh cụ thể như sau:

- Mở rộng đối tượng khách hàng khi được luật pháp cho phép, cung cấp các sản phẩm đa dạng hơn cho các nhóm khách hàng khác nhau, phân đoạn thị trường chi tiết theo từng nhóm (tuổi, nghề nghiệp, ngành nghề, mục đích sử dụng vốn…) để hiểu rõ khách hàng hơn (W1 kết hợp với O1, O2, O3).

- Tăng cường tiềm lực tài chính thông qua việc tận dụng các nguồn lực tiết kiệm của dân chúng trong nông thôn, đa dạng hóa các hình thức huy động tiền gửi, tăng cường các biện pháp PR và truyền thông tới khách hàng tiềm năng (W1, W2 kết hợp với O2, O4, O5).
- Tích cực nâng cao chất lượng nhân lực về lượng và chất, cải thiện và nâng cao chất lượng hoạt động thông qua đào tạo, liên doanh liên kết, chuyển giao công nghệ, ứng dụng công nghệ hiện đại - đặc biệt công nghệ fintech (W4, W3 kết hợp với O1, O3, O6).
- Tăng cường ứng dụng các trường phái tiếp cận thể chế mới và trường phái Ohio trong một số sản phẩm, phân tách hơn nữa các sản phẩm có lãi suất gần với lãi suất thị trường và các sản phẩm ưu đãi hoàn toàn (W7, W3 kết hợp với O1, O5).
- Áp dụng dần các chuẩn mực an toàn và quy chế cơ bản của ngân hàng theo thông lệ, từ đó thu hút thêm các nhà đầu tư trong và ngoài nước (W3, W5, W6 kết hợp với O1, O3).
Chiến lược chống đối ST (maxi - mini): Để có thể chiến thắng các nguy cơ bên ngoài, giảm thiểu những tác động xấu do môi trường gây ra, các NHCSXH cần tận dụng tối đa các sức mạnh hiện có của mình. Cụ thể như sau:
- Tận dụng sự hiểu biết sâu sắc và gần gũi khách hàng, phát triển các ý tưởng để có các sản phẩm đa dạng để có các nguồn thu khác nhau, từ đó tăng cường sức cạnh tranh, tăng thu lãi và phi lãi, tiến dần tới đảm bảo tự chủ về tài chính (S1, S3, S5 kết hợp với T4, T5).
- Đưa ra các chính sách về thời hạn, kỳ hạn, lãi suất hợp lý, trợ giúp người nghèo và các đối tượng chính sách phát triển chống lại tác động tiêu cực của hội nhập (S2,S4,S6 kết hợp với T3,T6, T7).
- NHCSXH thông qua tiếng nói chung của hội đồng quản trị, các tổ chức chính trị - xã hội để thực hiện PR, vận động hành lang đối với các cơ quan chức năng để điều chỉnh các quy định pháp luật cho phù hợp với hoạt động (S2, S3 kết hợp với T4, T5).
Chiến lược phòng thủ WT (mini - mini): Thiết lập kế hoạch “phòng thủ” để tránh cho những điểm yếu bị tác động nặng nề hơn từ môi trường bên ngoài. Trong tình huống tiềm lực bên trong yếu kém, điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, NHCSXH cần có chiến lược sáng suốt để giảm thiểu cả hai vấn đề này. Ví dụ, với một số điểm/phòng giao dịch gặp nhiều bất lợi và thách thức, NHCSXH cần thực hiện chiến lược “rút lui”, thậm chí có thể cần sáp nhập một số điểm giao dịch, đóng cửa một vài điểm nếu cần thiết. Còn dưới cái nhìn lạc quan, NHCSXH cần phải cố gắng để đứng vững trên thương trường hoặc là liên kết với các tổ chức, liên doanh, chia sẻ thị phần, tận dụng khả năng chuyển giao công nghệ… Bên cạnh đó, NHCSXH cần giảm thiểu chi phí hành chính, có chính sách quản trị rủi ro tốt để chờ thời cơ để xoay chuyển tình hình.
Trong từng thời điểm khác nhau, NHCSXH có thể vận dụng một hoặc một số chiến lược trong bốn chiến lược trên, tận dụng các điểm mạnh và cơ hội của mình để giảm thiểu các điểm yếu cũng như thách thức. Đó chính là nền tảng để NHCSXH phát triển bền vững, góp phần giảm nghèo và phát triển nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn hội nhập và phát triển công nghệ hiện nay.

1 SWOT là viết tắt của 4 chữ Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội) và Threats (thách thức).
2 Tính đến cuối 2015.
Chú thích: tín dụng vi mô tức các khoản tín dụng có quy mô từ 30 triệu VND trở xuống (Theo Thông tư 02/2008/TT-NHNN ngày 9/3/2016 về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô). Tiết kiệm vi mô là các khoản có quy mô gửi tiền từ 50 triệu VND trở xuống - là mức tối đa được hưởng bảo hiểm tiền gửi theo Luật Bảo hiểm Tiền gửi Việt nam. Các chuẩn mực này được ADB sử dụng để đánh giá hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Adams, D.W., D. Graham và J.D Von Pischke (1986), Undermining Rural Development with Cheap Credit, Westview Press, Boulder.
2. ADB (2014), “Sector Assessment: Microfinance”, Microfinance Sector Development Program, ADB PATA TA-8108 VIE.
3. ADB (2016), “Moving towards Greater Financial Inclusion: An Assessment of the Vietnam Case”, Assessment report by the ADB TA-8587-VIE Team, 2016.
4. Aghion, B.A và J. Morduch (2005), The Economics of Microfinance, The MIT Press, Cambridge.
5. Braveman, A & J.L. Guasch (1986), Rural Credit Markets and Institutions in Developing Countries: Lessons for Policy Analysis from Practice and Modern Theory”, World Development Vol. 14.
6. Chính phủ (2002), Nghị định 78/2002/NÐ-CP ngày 04/10/2002 về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
7. Chính phủ (2002), Nghị định 78/2002/NÐ-CP ngày 4/10/2002 về Tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách.
8. Chính phủ (2012), Quyết định số 852/QÐ-TTg ngày 10/7/2010 về việc Phê duyệt Chiến lược Phát triển Ngân hàng Chính sách xã hội giai đoạn 2011 - 2020.
9. Chính phủ (2013), Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 7/1/2013 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường và giải quyết nợ xấu.
10. Chính phủ (2015a), Quyết định 750/QÐ-TTg ngày 1/6/2015 về Ðiều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với một số chương trình tín dụng chính sách tại NHCSXH Việt nam.
11. Chính phủ (2015b), Nghị định số 55/2015/NÐ-CP ngày 9/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
12. Chowdhury, A. (2009), “Microfinance as a Poverty Reduction Tool - A Critical Assessment”, UN-DESA Working Paper No. 89, December 2009, truy cập ngày 15/9/2015 tại http://www.un.org/esa/desa/papers.
13. Christen, R., & D., Drake (2002), “Commercialization: The New Reality of Microfinance”, in D. Drake & E. Rhyne (eds) (2002), The Commercialization of Microfinance: Balancing Business and Development, Bloomfield: Kumanrian Press, pp. 2-22.
14. Claessens, S. (2005), “Financial and Votality”, in J. Aizenman & B. Pinto (eds) (2005), Managing Economic Votality and Crises: A Practitioners’ Guide, Cambridge Univeristy Press, Boston.
15. Floro, S.L. & P.A. Yotopoulos (1991), Informal Credit Markets and the New Institutional Economics: The Case of Philippines Agriculture, Westview Press.
16. Hulme, D. và P. Mosley (eds) (1996), Finance against Poverty, 2 vols, Routledge, London.
17. Humphrey, Albert (tháng 12 năm 2005). “SWOT Analysis for Management Consulting”(PDF). SRI Alumni Newsletter (SRI International).
18. Lê Thanh Tâm (2015), “Các trường phái cung cấp tài chính vi mô: Lý thuyết gốc và thực nghiệm tại Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế & Phát triển số 218 (II), tháng 8/2015, ISSN: 1859-0012, trang 2-10.
19. Ledgerwood, Joanna, with Julie Earne and Candace Nelson, eds (2013),The New Microfinance Handbook: A Financial Market System Perspective, Washington, DC: World Bank.
20. Lewis, W.A. (1954), “Economic Development with Unlimited Supplies of Labour”, in A.N. Agarwala & S.P. Singh, (1969), The Economics of Underdevelopment, Oxford University Press.
21. McKinon, R.I. (1973), “Money and Capital in Economic Development”, World Development Vol 2, Issue 3, pp. 87-88.
22. NHCSXH Việt Nam (2017), http://vbsp.org.vn/gioi-thieu/lich-su-hinh-thanh.html
23. North, D.C.C (1995), “The New Institutional Economics and Third Word Development”, In J. Harriss, J.Hunter và C.M. Lewis (eds) (1995), The New Institutional Economics and Third Word Development, Routledge, London.
24. Patrick, H.T. (1996), Financial Development and Economic Growth in Developing Countries, Routledger, London.
25. Rounbini, N. & S. Martin (1992), “Financial Repression and Economic Growth”, Journal of Development Economics Vol 39, pp. 5-30.
26. Shaw, E. (1973), Financial Deepening in Economic Development, Oxford University Press, New York.
27. Tobin, J. (1965), Money and Economic Growth, Econometrica, Vol. 33, Issue 4, October 1965, pp. 671-684.
28. Truong Hoa Binh (2017), Promoting the role of Vietnamese farmers-the subject of agriculture, and new-type rural area development, http://english.tapchicongsan.org.vn/Home/Politics/2017/1024/Promoting-the-role-of-Vietnamese-farmersthe-subject-of-agriculture-and-newtype-rural.aspx retrieved in April 11, 2017 (this article was published on Communist Review No. 890, December 2016).
29. UN (2017), Vietnam and the MDG, http://www.un.org.vn/en/what-we-do-mainmenu-203/mdgs/viet-nam-and-mdgs-mainmenu-49.html.
30. World Bank (2017a), GDP of Vietnam. Retrieved from http://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.MKTP.CD?end=2015&locations=VN&start=1997
31. World Meters (2017), http://www.worldometers.info/world-population/vietnam-population/

(Tạp chí Ngân hàng số 13, tháng 7/2017)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN). Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu lần đầu tiên nước ta có một ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sự ra đời này là kết quả của quá trình xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, mở ra bước phát triển mới về chất trong hoạt động tài chính - tiền tệ. Trải qua 75 năm xây dựng, củng cố và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế về giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro, qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chuyển đổi hiệu quả sang mô hình giám sát hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Xem thêm
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng