Nâng cao tiện ích và trải nghiệm cho khách hàng thanh toán qua QR Code

Công nghệ & ngân hàng số
Trong hoạt động thanh toán xuyên biên giới, dự án hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua QR Code giữa Việt Nam với một số nước đã đi vào hoạt động không chỉ mang đến trải nghiệm thanh toán liền mạch, tiện lợi cho người dân hai nước, mà còn góp phần tăng cường kết nối tài chính, phát triển thương mại, du lịch cũng như hợp tác kinh tế rộng hơn giữa hai quốc gia.
aa
Nâng cao tiện ích và trải nghiệm cho khách hàng thanh toán qua QR Code
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Giao dịch qua QR Code tăng trên 150% về giá trị

Việc sử dụng mã QR trong hoạt động thanh toán đã góp phần thúc đẩy thói quen thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) và cung ứng các giải pháp thanh toán tiên tiến, hiện đại cho hoạt động thanh toán tại Việt Nam. Theo Vụ Thanh toán Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trong 9 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm 2024, giao dịch TTKDTM tăng 43,32% về số lượng và 24,23% về giá trị; qua kênh Internet tăng 51,20% về số lượng và 37,17% về giá; qua kênh điện thoại di động tăng 37,37% về số lượng và 21,79% về giá trị; giao dịch qua QR Code tăng 61,63% về số lượng và 150,67% về giá trị.

Theo ghi nhận từ Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), tính đến tháng 10/2025 đã có gần 90 triệu tài khoản sử dụng Mobile Banking để quét mã VietQR thực hiện chuyển tiền hằng ngày. Giao dịch chuyển tiền qua mã VietQR được ghi nhận tại hệ thống NAPAS đạt 3,6 tỉ giao dịch với 9,2 triệu tỉ đồng.

Trong hoạt động thanh toán xuyên biên giới, dự án hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua QR Code với Thái Lan, Lào, Campuchia đã đi vào hoạt động và cung ứng dịch vụ hai chiều tới khách hàng Việt Nam và các quốc gia đang hợp tác. Đáng chú ý, đầu tháng 12/2025, NAPAS đã phối hợp với UnionPay International (UPI), Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC), Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) tổ chức Lễ công bố kết nối thanh toán bán lẻ song phương qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc.

Trong giai đoạn đầu triển khai, du khách Trung Quốc có thể quét mã VIETQRGlobal để thanh toán tại các điểm chấp nhận thanh toán, gồm các trung tâm thương mại, khu mua sắm, điểm du lịch, nhà hàng và cửa hàng bán lẻ tại Việt Nam. Theo kế hoạch, đầu năm 2026, NAPAS và UPI sẽ tiếp tục hoàn tất kết nối chiều thanh toán ngược lại, cho phép người dùng Việt Nam quét mã QR bằng ứng dụng thanh toán của các tổ chức thành viên NAPAS để thanh toán tại các đơn vị chấp nhận thanh toán thuộc mạng lưới của UnionPay tại Trung Quốc.

Việc kết nối dịch vụ thanh toán song phương qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam thu hút lượng lớn khách Trung Quốc, đồng thời mang đến trải nghiệm thanh toán nhanh, tiện lợi và an toàn cho du khách. Dịch vụ này không chỉ mang đến trải nghiệm thanh toán liền mạch, tiện lợi cho người dân hai nước, mà còn góp phần tăng cường kết nối tài chính, thúc đẩy sử dụng đồng bản tệ trong thanh toán xuyên biên giới và phát triển thương mại, du lịch cũng như hợp tác kinh tế rộng hơn giữa hai quốc gia.

Mặc dù thanh toán qua QR Code với nhiều tiện ích, tuy nhiên trên thực tế cũng có những tồn tại nhất định. Tại Việt Nam, các đơn vị phát hành thương hiệu QR Code chưa thực sự hợp tác chặt chẽ với nhau để thực hiện mục đích liên thông trong thanh toán qua QR Code dẫn đến bất tiện cho khách hàng trong quá trình sử dụng dịch vụ thanh toán qua mã QR. Bên cạnh đó là sự thiếu nhất quán trong nhận diện thương hiệu tại điểm chấp nhận thanh toán, đặc biệt là thanh toán QR; các mã QR tại cửa hàng thường lẫn lộn giữa mã cá nhân, mã VietQR nội địa, và mã QR song phương; cả người bán và khách du lịch đều bối rối không biết liệu ứng dụng của mình có tương thích hay không; đối tượng yếu thế là các tiểu thương, hộ kinh doanh, đơn vị bán hàng nhỏ lẻ gặp rào cản trong việc chấp nhận thanh toán, khó tiếp cận với các phương thức thanh toán, chi phí đầu tư cao…

Một số đơn vị chấp nhận thanh toán có thói quen sử dụng mã QR cá nhân để nhận tiền thanh toán hàng hóa, dịch vụ từ khách hàng do những ưu điểm của hình thức thanh toán này mang lại (tiện lợi, nhanh chóng, không mất phí, không cần ký kết hợp đồng…). Ngoài ra, dịch vụ thanh toán xuyên biên giới tuy đã hợp tác triển khai với một số quốc gia, tuy nhiên số lượng giao dịch chưa nhiều, chưa tương xứng với nhu cầu của thị trường.

Tiếp tục mở rộng thanh toán qua QR Code trong nước và quốc tế

Thời gian tới, để thúc đẩy thanh toán xuyên biên giới qua mã QR, cần có những giải pháp đồng bộ:

Về phía NHNN: Tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy TTKDTM, chỉ đạo các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán/trung gian thanh toán nâng cấp hạ tầng công nghệ bảo mật; đồng thời xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật cho NAPAS, ngân hàng và trung gian thanh toán, định hướng kết nối liên thông trong nước và xuyên biên giới, giúp người Việt có thể dùng ứng dụng trong nước để quét QR thanh toán ở nước ngoài và ngược lại. Theo đó, hướng tới triển khai kết nối với các quốc gia khác như Hàn Quốc, Singapore, Ấn Độ, Đài Loan (Trung Quốc), Malaysia, ... để phục vụ tốt hơn các nhu cầu thanh toán cho khách hàng Việt Nam cũng như khách hàng quốc tế.

Về phía các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán/trung gian thanh toán: Cần tập trung chú trọng mở rộng mạng lưới đơn vị chấp nhận thanh toán để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân và doanh nghiệp; có biện pháp khuyến khích đơn vị chấp nhận thanh toán sử dụng QR Code thanh toán thay vì QR Code chuyển tiền.

Đồng thời, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán/trung gian thanh toán cần tăng cường truyền thông để khách hàng biết tới dịch vụ, tăng cường quảng bá dịch vụ tại những địa điểm mà khách du lịch hai nước thường xuyên lui tới, từ đó nâng cao mức độ nhận diện dịch vụ, thương hiệu mã QR thanh toán phục vụ cho kết nối thanh toán bán lẻ song phương giữa Việt Nam và các quốc gia hợp tác; song song đó, cần tăng cường đào tạo nhân viên tại đơn vị chấp nhận thanh toán để bảo đảm khách hàng có thể nhận diện và sử dụng đúng dịch vụ thanh toán bán lẻ song phương qua QR Code.

Các ngân hàng có nhiệm vụ mở rộng mạng lưới chấp nhận thanh toán QR và phục vụ khách hàng sử dụng dịch vụ; các trung gian thanh toán phát triển mạng lưới chấp nhận nội địa. NAPAS đóng vai trò cầu nối giữa các đơn vị, đồng thời là cổng kết nối mạng lưới QR của Việt Nam với các nước trong khu vực. Bên cạnh hạ tầng công nghệ, NAPAS tập trung đảm bảo an toàn, bảo mật cho thanh toán QR. Đơn vị đã kết nối hệ thống cảnh báo gian lận của NHNN (Simo), tiếp nhận danh sách cảnh báo từ Bộ Công an và đầu tư hệ thống Big Data, AI để phát hiện sớm tài khoản nghi ngờ, tự động cảnh báo các ngân hàng. NAPAS cũng phối hợp Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam xây dựng sổ tay hướng dẫn xử lý giao dịch gian lận.

Về lộ trình, thanh toán QR sẽ tiếp tục mở rộng trong nước và quốc tế. Ở nội địa, NAPAS cần tiếp tục phối hợp các ngân hàng và trung gian thanh toán chuyển đổi nhu cầu chuyển tiền P2P (peer to peer) sang P2M (payment to merchant) nhằm chuẩn hóa dịch vụ và hỗ trợ cơ quan quản lý thống kê giao dịch bán hàng. NAPAS nghiên cứu giải pháp liên thông với các trung gian thanh toán để người dùng ví điện tử cũng có thể sử dụng thống nhất dịch vụ thanh toán QR trên hạ tầng NAPAS.

Ngoài ra, để gia tăng tiện ích thanh toán cho khách hàng, cần có sự hợp tác liên thông thanh toán giữa các thương hiệu cung cấp QR Code khác nhau.

Về phía người sử dụng dịch vụ: Cần được trang bị các kỹ năng về an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu nhằm tránh các rủi ro bị lừa đảo mất tiền trong tài khoản.

Thực tế, do hình thức thanh toán qua mã QR đã trở thành phương thức thanh toán quen thuộc và tiện lợi trong cuộc sống hằng ngày nên các đối tượng lừa đảo cũng thay đổi hình thức lừa đảo từ gửi đường link độc hại truyền thống sang gửi mã QR tới khách hàng. Mã QR có thể chèn trực tiếp vào email, tin nhắn mà không bị các bộ lọc chặn lại như đường link.

Khi quét mã QR, khách hàng cần xác minh kỹ thông tin giao dịch như số tài khoản, tên chủ tài khoản tương ứng với thông tin của chủ cửa hàng thì mới thực hiện các bước chuyển tiền trực tuyến. Khi quét mã QR có thể dẫn tới đường link lạ, khách hàng cần phải kiểm tra kỹ mới quyết định thực hiện các thao tác tiếp theo. Đặc biệt, khi phát hiện bất thường liên quan đến tài khoản ngân hàng, khách hàng nên đến quầy giao dịch trực tiếp, không nên tin vào bất kỳ cá nhân nào để cung cấp mật khẩu, OTP...

Hà Anh
NHNN

Tin bài khác

Nền tảng số cho vay sinh viên: Cơ hội, thách thức và định hướng tương lai

Nền tảng số cho vay sinh viên: Cơ hội, thách thức và định hướng tương lai

Hoạt động của các nền tảng số chịu sự chi phối mạnh mẽ của hiệu ứng mạng lưới. Giá trị của một nền tảng tăng lên khi số lượng người dùng (cả người vay và người cho vay) tăng lên.
Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Bài viết này phân tích cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (gọi tắt là cơ chế thử nghiệm) trong lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) tại Việt Nam, chỉ ra các cơ hội và rủi ro tiềm ẩn khi triển khai cơ chế thử nghiệm nhằm thúc đẩy tài chính số, qua đó đề xuất định hướng chính sách minh bạch và bền vững.
Xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, minh bạch, bảo vệ quyền lợi và tài sản của khách hàng

Xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, minh bạch, bảo vệ quyền lợi và tài sản của khách hàng

Khẳng định quyết tâm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong việc xây dựng một hệ sinh thái tài chính số an toàn, minh bạch, bảo vệ tối đa quyền lợi và tài sản của khách hàng trước những thách thức về an ninh mạng, ngày 31/12/2025, Thống đốc NHNN đã ký ban hành Thông tư số 77/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN ngày 31/10/2024 quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng.
Hợp tác quốc tế trong phòng, chống rửa tiền: Vai trò của Việt Nam trong mạng lưới khu vực và toàn cầu

Hợp tác quốc tế trong phòng, chống rửa tiền: Vai trò của Việt Nam trong mạng lưới khu vực và toàn cầu

Trong bối cảnh hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố ngày càng được tăng cường, bài viết làm rõ vai trò chủ động của Việt Nam trong các cơ chế khu vực và toàn cầu, đồng thời phân tích thách thức và định hướng nâng cao vị thế, uy tín và hiệu quả đóng góp của Việt Nam trong hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền.
Phát triển dịch vụ Tiền di động: Góp phần phổ cập tài chính, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt

Phát triển dịch vụ Tiền di động: Góp phần phổ cập tài chính, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt

Nhằm tạo hành lang pháp lý chính thức cho việc triển khai dịch vụ Tiền di động, tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam, ngày 31/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 368/2025/NĐ-CP quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động.
Vai trò của bộ phận tuân thủ trong kỷ nguyên số: Từ chức năng kiểm soát đến trụ cột kiến tạo niềm tin

Vai trò của bộ phận tuân thủ trong kỷ nguyên số: Từ chức năng kiểm soát đến trụ cột kiến tạo niềm tin

Bài viết phân tích quá trình chuyển dịch vai trò của bộ phận tuân thủ trong kỷ nguyên số, từ chức năng kiểm soát mang tính tuân thủ pháp lý sang trụ cột chiến lược trong hệ thống quản trị doanh nghiệp, góp phần kiến tạo niềm tin, nâng cao năng lực quản trị rủi ro và thúc đẩy phát triển bền vững của các tổ chức tài chính - ngân hàng.
Chuyển đổi số ngân hàng năm 2025: Kết nối dữ liệu và giữ vững niềm tin số

Chuyển đổi số ngân hàng năm 2025: Kết nối dữ liệu và giữ vững niềm tin số

Với quan điểm, chủ trương nhất quán của Chính phủ: “Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể và là động lực chính của công cuộc chuyển đổi số ngành Ngân hàng”; “dữ liệu là nền tảng cốt lõi, tài sản quan trọng và nguồn lực chiến lược, quyết định hiệu quả chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo giá trị mới cho ngành Ngân hàng và nền kinh tế”, năm 2025 ngành Ngân hàng tiếp tục hoàn thành một năm chuyển mình mang tính chiến lược, khẳng định vai trò huyết mạch của nền kinh tế không chỉ qua dòng tiền mà còn ở sự kết nối dữ liệu và niềm tin số.
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc ban hành các văn bản pháp luật đã phần nào đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (viết tắt là cơ chế thử nghiệm), đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, để cơ chế thử nghiệm thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý tổng thể, thiết lập quy trình minh bạch, cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.
Xem thêm
Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Bài viết này phân tích cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (gọi tắt là cơ chế thử nghiệm) trong lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) tại Việt Nam, chỉ ra các cơ hội và rủi ro tiềm ẩn khi triển khai cơ chế thử nghiệm nhằm thúc đẩy tài chính số, qua đó đề xuất định hướng chính sách minh bạch và bền vững.
Phát triển tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp: Kết quả năm 2025 và hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng năm 2026

Phát triển tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp: Kết quả năm 2025 và hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng năm 2026

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn triển khai chuyển đổi xanh từ năm 2025, bài viết phân tích vai trò trung tâm của tài chính xanh trong nông nghiệp, với các ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vị trí chủ đạo nhằm ứng phó rủi ro khí hậu và thúc đẩy phát triển bền vững.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế nhiều biến động, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã phát huy vai trò trung tâm trong điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2023 - 2025, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững giai đoạn 2025 - 2030.
Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 (hai chuẩn mực báo cáo bền vững toàn cầu đầu tiên do Hội đồng Chuẩn mực Bền vững Quốc tế (ISSB) thuộc Tổ chức Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS Foundation) ban hành năm 2023, giúp doanh nghiệp công bố thông tin về rủi ro và cơ hội liên quan đến phát triển bền vững (S1) và khí hậu (S2) một cách nhất quán, minh bạch, hỗ trợ nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư, hướng tới một ngôn ngữ chung cho báo cáo bền vững trên toàn thế giới) đối với các ngân hàng tại Việt Nam và làm rõ vai trò của hai chuẩn mực báo cáo bền vững này như “ngôn ngữ chung” nhằm giúp hệ thống ngân hàng minh bạch hóa rủi ro cũng như cơ hội khí hậu, từng bước hội nhập sâu vào dòng chảy tài chính toàn cầu.
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Luật Thương mại điện tử năm 2025 ra đời trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ đã tạo ra những thay đổi quan trọng đối với hệ sinh thái thương mại điện tử, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm phát huy vai trò của hệ thống tài chính - ngân hàng và bảo đảm an toàn, ổn định cho nền kinh tế số Việt Nam.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng