Nâng cao tiện ích và trải nghiệm cho khách hàng thanh toán qua QR Code

Công nghệ & ngân hàng số
Trong hoạt động thanh toán xuyên biên giới, dự án hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua QR Code giữa Việt Nam với một số nước đã đi vào hoạt động không chỉ mang đến trải nghiệm thanh toán liền mạch, tiện lợi cho người dân hai nước, mà còn góp phần tăng cường kết nối tài chính, phát triển thương mại, du lịch cũng như hợp tác kinh tế rộng hơn giữa hai quốc gia.
aa
Nâng cao tiện ích và trải nghiệm cho khách hàng thanh toán qua QR Code
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Giao dịch qua QR Code tăng trên 150% về giá trị

Việc sử dụng mã QR trong hoạt động thanh toán đã góp phần thúc đẩy thói quen thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) và cung ứng các giải pháp thanh toán tiên tiến, hiện đại cho hoạt động thanh toán tại Việt Nam. Theo Vụ Thanh toán Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trong 9 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm 2024, giao dịch TTKDTM tăng 43,32% về số lượng và 24,23% về giá trị; qua kênh Internet tăng 51,20% về số lượng và 37,17% về giá; qua kênh điện thoại di động tăng 37,37% về số lượng và 21,79% về giá trị; giao dịch qua QR Code tăng 61,63% về số lượng và 150,67% về giá trị.

Theo ghi nhận từ Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), tính đến tháng 10/2025 đã có gần 90 triệu tài khoản sử dụng Mobile Banking để quét mã VietQR thực hiện chuyển tiền hằng ngày. Giao dịch chuyển tiền qua mã VietQR được ghi nhận tại hệ thống NAPAS đạt 3,6 tỉ giao dịch với 9,2 triệu tỉ đồng.

Trong hoạt động thanh toán xuyên biên giới, dự án hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua QR Code với Thái Lan, Lào, Campuchia đã đi vào hoạt động và cung ứng dịch vụ hai chiều tới khách hàng Việt Nam và các quốc gia đang hợp tác. Đáng chú ý, đầu tháng 12/2025, NAPAS đã phối hợp với UnionPay International (UPI), Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC), Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) tổ chức Lễ công bố kết nối thanh toán bán lẻ song phương qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc.

Trong giai đoạn đầu triển khai, du khách Trung Quốc có thể quét mã VIETQRGlobal để thanh toán tại các điểm chấp nhận thanh toán, gồm các trung tâm thương mại, khu mua sắm, điểm du lịch, nhà hàng và cửa hàng bán lẻ tại Việt Nam. Theo kế hoạch, đầu năm 2026, NAPAS và UPI sẽ tiếp tục hoàn tất kết nối chiều thanh toán ngược lại, cho phép người dùng Việt Nam quét mã QR bằng ứng dụng thanh toán của các tổ chức thành viên NAPAS để thanh toán tại các đơn vị chấp nhận thanh toán thuộc mạng lưới của UnionPay tại Trung Quốc.

Việc kết nối dịch vụ thanh toán song phương qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam thu hút lượng lớn khách Trung Quốc, đồng thời mang đến trải nghiệm thanh toán nhanh, tiện lợi và an toàn cho du khách. Dịch vụ này không chỉ mang đến trải nghiệm thanh toán liền mạch, tiện lợi cho người dân hai nước, mà còn góp phần tăng cường kết nối tài chính, thúc đẩy sử dụng đồng bản tệ trong thanh toán xuyên biên giới và phát triển thương mại, du lịch cũng như hợp tác kinh tế rộng hơn giữa hai quốc gia.

Mặc dù thanh toán qua QR Code với nhiều tiện ích, tuy nhiên trên thực tế cũng có những tồn tại nhất định. Tại Việt Nam, các đơn vị phát hành thương hiệu QR Code chưa thực sự hợp tác chặt chẽ với nhau để thực hiện mục đích liên thông trong thanh toán qua QR Code dẫn đến bất tiện cho khách hàng trong quá trình sử dụng dịch vụ thanh toán qua mã QR. Bên cạnh đó là sự thiếu nhất quán trong nhận diện thương hiệu tại điểm chấp nhận thanh toán, đặc biệt là thanh toán QR; các mã QR tại cửa hàng thường lẫn lộn giữa mã cá nhân, mã VietQR nội địa, và mã QR song phương; cả người bán và khách du lịch đều bối rối không biết liệu ứng dụng của mình có tương thích hay không; đối tượng yếu thế là các tiểu thương, hộ kinh doanh, đơn vị bán hàng nhỏ lẻ gặp rào cản trong việc chấp nhận thanh toán, khó tiếp cận với các phương thức thanh toán, chi phí đầu tư cao…

Một số đơn vị chấp nhận thanh toán có thói quen sử dụng mã QR cá nhân để nhận tiền thanh toán hàng hóa, dịch vụ từ khách hàng do những ưu điểm của hình thức thanh toán này mang lại (tiện lợi, nhanh chóng, không mất phí, không cần ký kết hợp đồng…). Ngoài ra, dịch vụ thanh toán xuyên biên giới tuy đã hợp tác triển khai với một số quốc gia, tuy nhiên số lượng giao dịch chưa nhiều, chưa tương xứng với nhu cầu của thị trường.

Tiếp tục mở rộng thanh toán qua QR Code trong nước và quốc tế

Thời gian tới, để thúc đẩy thanh toán xuyên biên giới qua mã QR, cần có những giải pháp đồng bộ:

Về phía NHNN: Tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy TTKDTM, chỉ đạo các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán/trung gian thanh toán nâng cấp hạ tầng công nghệ bảo mật; đồng thời xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật cho NAPAS, ngân hàng và trung gian thanh toán, định hướng kết nối liên thông trong nước và xuyên biên giới, giúp người Việt có thể dùng ứng dụng trong nước để quét QR thanh toán ở nước ngoài và ngược lại. Theo đó, hướng tới triển khai kết nối với các quốc gia khác như Hàn Quốc, Singapore, Ấn Độ, Đài Loan (Trung Quốc), Malaysia, ... để phục vụ tốt hơn các nhu cầu thanh toán cho khách hàng Việt Nam cũng như khách hàng quốc tế.

Về phía các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán/trung gian thanh toán: Cần tập trung chú trọng mở rộng mạng lưới đơn vị chấp nhận thanh toán để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân và doanh nghiệp; có biện pháp khuyến khích đơn vị chấp nhận thanh toán sử dụng QR Code thanh toán thay vì QR Code chuyển tiền.

Đồng thời, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán/trung gian thanh toán cần tăng cường truyền thông để khách hàng biết tới dịch vụ, tăng cường quảng bá dịch vụ tại những địa điểm mà khách du lịch hai nước thường xuyên lui tới, từ đó nâng cao mức độ nhận diện dịch vụ, thương hiệu mã QR thanh toán phục vụ cho kết nối thanh toán bán lẻ song phương giữa Việt Nam và các quốc gia hợp tác; song song đó, cần tăng cường đào tạo nhân viên tại đơn vị chấp nhận thanh toán để bảo đảm khách hàng có thể nhận diện và sử dụng đúng dịch vụ thanh toán bán lẻ song phương qua QR Code.

Các ngân hàng có nhiệm vụ mở rộng mạng lưới chấp nhận thanh toán QR và phục vụ khách hàng sử dụng dịch vụ; các trung gian thanh toán phát triển mạng lưới chấp nhận nội địa. NAPAS đóng vai trò cầu nối giữa các đơn vị, đồng thời là cổng kết nối mạng lưới QR của Việt Nam với các nước trong khu vực. Bên cạnh hạ tầng công nghệ, NAPAS tập trung đảm bảo an toàn, bảo mật cho thanh toán QR. Đơn vị đã kết nối hệ thống cảnh báo gian lận của NHNN (Simo), tiếp nhận danh sách cảnh báo từ Bộ Công an và đầu tư hệ thống Big Data, AI để phát hiện sớm tài khoản nghi ngờ, tự động cảnh báo các ngân hàng. NAPAS cũng phối hợp Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam xây dựng sổ tay hướng dẫn xử lý giao dịch gian lận.

Về lộ trình, thanh toán QR sẽ tiếp tục mở rộng trong nước và quốc tế. Ở nội địa, NAPAS cần tiếp tục phối hợp các ngân hàng và trung gian thanh toán chuyển đổi nhu cầu chuyển tiền P2P (peer to peer) sang P2M (payment to merchant) nhằm chuẩn hóa dịch vụ và hỗ trợ cơ quan quản lý thống kê giao dịch bán hàng. NAPAS nghiên cứu giải pháp liên thông với các trung gian thanh toán để người dùng ví điện tử cũng có thể sử dụng thống nhất dịch vụ thanh toán QR trên hạ tầng NAPAS.

Ngoài ra, để gia tăng tiện ích thanh toán cho khách hàng, cần có sự hợp tác liên thông thanh toán giữa các thương hiệu cung cấp QR Code khác nhau.

Về phía người sử dụng dịch vụ: Cần được trang bị các kỹ năng về an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu nhằm tránh các rủi ro bị lừa đảo mất tiền trong tài khoản.

Thực tế, do hình thức thanh toán qua mã QR đã trở thành phương thức thanh toán quen thuộc và tiện lợi trong cuộc sống hằng ngày nên các đối tượng lừa đảo cũng thay đổi hình thức lừa đảo từ gửi đường link độc hại truyền thống sang gửi mã QR tới khách hàng. Mã QR có thể chèn trực tiếp vào email, tin nhắn mà không bị các bộ lọc chặn lại như đường link.

Khi quét mã QR, khách hàng cần xác minh kỹ thông tin giao dịch như số tài khoản, tên chủ tài khoản tương ứng với thông tin của chủ cửa hàng thì mới thực hiện các bước chuyển tiền trực tuyến. Khi quét mã QR có thể dẫn tới đường link lạ, khách hàng cần phải kiểm tra kỹ mới quyết định thực hiện các thao tác tiếp theo. Đặc biệt, khi phát hiện bất thường liên quan đến tài khoản ngân hàng, khách hàng nên đến quầy giao dịch trực tiếp, không nên tin vào bất kỳ cá nhân nào để cung cấp mật khẩu, OTP...

Hà Anh
NHNN

Tin bài khác

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Vai trò kiến tạo của hạ tầng thanh toán xuyên biên giới

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Vai trò kiến tạo của hạ tầng thanh toán xuyên biên giới

Bài viết nghiên cứu vai trò then chốt của hệ thống thanh toán xuyên biên giới trong lộ trình hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính, tổng hợp và phân tích dữ liệu thứ cấp kết hợp so sánh điển cứu quốc tế, nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù thị trường công nghệ tài chính (Fintech) Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, hạ tầng thanh toán vẫn còn khoảng cách về chuẩn hóa kỹ thuật (ISO 20022) và năng lực bán buôn so với chuẩn IFC toàn cầu. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc nâng cấp hạ tầng mềm và hoàn thiện khung pháp lý thử nghiệm (Sandbox) là điều kiện tiên quyết để thu hút dòng vốn quốc tế. Từ đó, bài viết đề xuất các hàm ý chính sách trọng tâm về khung pháp lý, chuẩn hóa dữ liệu, thí điểm công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và gia nhập các mạng lưới thanh toán đa phương nhằm tối ưu hóa năng lực cạnh tranh cho IFC tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại

Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại

Trong bối cảnh chuyển đổi số, bài viết đề xuất mô hình kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa nhằm tối ưu phễu chuyển đổi khách hàng (mô hình mô phỏng hành trình của một khách hàng từ lúc lần đầu biết đến thương hiệu cho đến khi thực hiện hành động mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ) tại ngân hàng thương mại, qua đó giảm chi phí thu hút, rút ngắn thời gian ra quyết định tín dụng và cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng.
Xây dựng năng lực tự bảo vệ trước rủi ro tâm lý và công nghệ cho thế hệ Z trong bối cảnh thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Xây dựng năng lực tự bảo vệ trước rủi ro tâm lý và công nghệ cho thế hệ Z trong bối cảnh thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam đang được triển khai thí điểm, thế hệ Z với lợi thế về khả năng tiếp cận công nghệ lại đứng trước nhiều rủi ro đan xen, đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực tài chính số và xây dựng cơ chế bảo vệ khi tham gia thị trường.
Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong thúc đẩy kinh tế xanh và thực hiện chiến lược Net-Zero, qua đó, đề xuất bài học và giải pháp giúp doanh nghiệp Việt Nam kết hợp chuyển đổi số với chuyển đổi xanh, hướng đến phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Hệ khuyến nghị học liên kết: Xu hướng phát triển trong kỷ nguyên dữ liệu phân tán

Hệ khuyến nghị học liên kết: Xu hướng phát triển trong kỷ nguyên dữ liệu phân tán

Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng phân tán và yêu cầu nghiêm ngặt về bảo vệ quyền riêng tư, hệ khuyến nghị học liên kết (Federated Recommender Systems - FRS) nổi lên như một hướng tiếp cận tiềm năng, cho phép khai thác dữ liệu từ nhiều nguồn mà không cần chia sẻ dữ liệu gốc, qua đó mở rộng khả năng ứng dụng trong ngân hàng, thương mại điện tử, y tế và giáo dục.
Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngày 18 - 19/8/2026, sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo (AI)” đã chính thức diễn ra tại Hà Nội.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong tăng cường bảo mật dữ liệu và quản trị rủi ro an ninh mạng đối với chuỗi cung ứng tài chính (Financial Supply Chain - FSC) trong ngành Ngân hàng, qua đó làm rõ những lợi ích, thách thức và hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng AI trong bối cảnh chuyển đổi số.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối