Kết nối, chia sẻ dữ liệu góp phần phòng, chống tình trạng lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng trong lĩnh vực ngân hàng

Công nghệ & ngân hàng số
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ phát triển, Việt Nam hội nhập với kinh tế thế giới, ngành Ngân hàng đã tiên phong ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số để triển khai, cung cấp các dịch vụ ngân hàng trực tuyến phục vụ cho nhu cầu thanh toán, giao dịch tức thời của người dân, doanh nghiệp.
aa

Dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, dữ liệu ngày càng trở nên quan trọng trong việc phát triển các dịch vụ hướng đến Chính phủ số, xã hội số, nền kinh tế số. Việc chia sẻ dữ liệu là điều kiện quan trọng để cung cấp dịch vụ số, đơn giản hóa quy trình, đổi mới mô hình của các tổ chức.

Thời gian qua, hoạt động chuyển đổi số ngành Ngân hàng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Với mục tiêu lấy khách hàng làm trung tâm, ngành Ngân hàng đã kết nối, chia sẻ dữ liệu với các ngành, lĩnh vực khác để cung ứng các sản phẩm, dịch vụ đa dạng, tiện ích, mang lại những lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp. Ngành Ngân hàng cũng là một trong những ngành tiên phong trong triển khai ứng dụng dữ liệu dân cư quốc gia trong quá trình chuyển đổi số. Các giải pháp làm sạch dữ liệu, xác minh chính xác thông tin khách hàng và ứng dụng vào nghiệp vụ được triển khai đã góp phần bảo đảm an ninh, an toàn các hoạt động của ngân hàng cũng như gia tăng sự trải nghiệm khách hàng. Thời gian tới, ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục tăng cường triển khai kết nối, chia sẻ dữ liệu nhằm mở rộng hệ sinh thái số, cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho người dân một cách thông suốt, an toàn, góp phần phát triển bền vững nền kinh tế trong kỷ nguyên mới.

Hoạt động lừa đảo trên không gian mạng trong lĩnh vực ngân hàng diễn biến phức tạp

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ phát triển, Việt Nam hội nhập với kinh tế thế giới, ngành Ngân hàng đã tiên phong ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số để triển khai, cung cấp các dịch vụ ngân hàng trực tuyến phục vụ cho nhu cầu thanh toán, giao dịch tức thời của người dân, doanh nghiệp.

Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2024, hơn 87% người trưởng thành đã có tài khoản thanh toán tại ngân hàng và nhiều ngân hàng đã có trên 95% số lượng giao dịch được xử lý trên kênh số. Ngoài ra, số lượng giao dịch thanh toán qua thiết bị di động (Mobile) và QR Code cũng có sự tăng trưởng nhanh chóng trong thời gian qua. Cụ thể, trong 11 tháng đầu năm 2024, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt đạt 15,92 tỉ giao dịch với giá trị đạt 263,82 triệu tỉ đồng (tăng 56,94% về số lượng và 33,76% về giá trị so với cùng kỳ năm 2023); qua kênh Internet đạt 2,92 tỉ giao dịch với giá trị đạt 69,46 triệu tỉ đồng (tăng 50,67% về số lượng và 33% về giá trị so với cùng kỳ năm 2023); qua kênh điện thoại di động đạt 11,01 tỉ giao dịch với giá trị đạt 66,48 triệu tỉ đồng (tăng 54,62% về số lượng và 34,47% về giá trị so với cùng kỳ năm 2023), giao dịch qua QR Code đạt 271,58 triệu giao dịch với giá trị đạt 152,55 nghìn tỉ đồng (tăng 106,68% về số lượng và 84,77% về giá trị so với cùng kỳ năm 2023).

Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng điện tử, ngành Ngân hàng cũng phải đối mặt với những rủi ro, thách thức không nhỏ về an ninh, an toàn thông tin, đặc biệt là tình trạng sử dụng công nghệ cao để lừa đảo, chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng có xu hướng gia tăng với nhiều thủ đoạn tinh vi, phức tạp.

Liên quan đến hoạt động lừa đảo khách hàng trên không gian mạng, có thể chia thành 2 hình thức phổ biến: (i) Lợi dụng các kênh truyền thông liên lạc phổ biến như điện thoại, mạng xã hội, SMS… kẻ lừa đảo giả mạo các cơ quan, tổ chức hay người thân thực hiện tấn công vào tâm lý của khách hàng như đe dọa, lợi dụng lòng tham, tình cảm… để yêu cầu nạn nhân trực tiếp chuyển tiền cho tài khoản lừa đảo; (ii) Lừa đảo chiếm đoạt thông tin đăng nhập và xác thực giao dịch qua ứng dụng ngân hàng trực tuyến: Kẻ lừa đảo vẫn thông qua các kênh truyền thông phổ biến như mạng xã hội (Facebook, Zalo…), SMS, email, điện thoại… tìm cách để dẫn dụ khách hàng truy cập các đường link giả mạo, cung cấp thông tin bảo mật của ứng dụng ngân hàng trực tuyến (như: Tên đăng nhập, mật khẩu, mã OTP…); hoặc lừa đảo cài đặt phần mềm giả mạo có chứa mã độc hoặc có chức năng điều khiển từ xa điện thoại của khách hàng, từ đó truy cập trái phép vào ứng dụng ngân hàng điện tử, thực hiện các giao dịch bất hợp pháp nhằm chiếm đoạt tiền của khách hàng.

Có thể thấy rằng, hoạt động lừa đảo trên không gian mạng trong lĩnh vực ngân hàng gây ra những thiệt hại và hệ lụy không nhỏ cho người dân, làm ảnh hưởng đến thương hiệu, uy tín của nhiều tổ chức tài chính, ngân hàng và an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Để phòng, chống tình trạng sử dụng công nghệ cao với mục đích lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng trong lĩnh vực ngân hàng, thời gian qua, ngành Ngân hàng đã và đang tổ chức triển khai nhiều giải pháp mang tính tổng thể, đồng bộ. Một trong những giải pháp chính là kết nối, khai thác, chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị trong Ngành và giữa ngành Ngân hàng với các bộ, ngành liên quan.

Thực trạng về kết nối, khai thác, chia sẻ dữ liệu trong ngành Ngân hàng

Trong năm 2024, các đơn vị trong ngành Ngân hàng đã tổ chức triển khai toàn diện kết nối, khai thác dữ liệu quốc gia về dân cư để làm sạch dữ liệu khách hàng, ứng dụng vào việc xác thực khách hàng khi thực hiện các dịch vụ ngân hàng trực tuyến và các nghiệp vụ khác theo Kế hoạch của ngành Ngân hàng triển khai Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030), cụ thể:

- Về ứng dụng thẻ căn cước công dân gắn chíp: 64 tổ chức tín dụng đã và đang phối hợp với các doanh nghiệp được Bộ Công an cấp phép để triển khai ứng dụng thẻ căn cước công dân gắn chíp qua thiết bị tại quầy (trong đó 57 tổ chức tín dụng đã triển khai thực tế và 7 tổ chức tín dụng đang triển khai). 56 tổ chức tín dụng, 43 trung gian thanh toán đã và đang phối hợp với Bộ Công an để triển khai ứng dụng thẻ căn cước, đối chiếu thông tin sinh trắc học với căn cước công dân gắn chíp thông qua ứng dụng điện thoại (trong đó có 51 tổ chức tín dụng, 32 trung gian thanh toán đã triển khai thực tế và 5 tổ chức tín dụng, 11 trung gian thanh toán đang triển khai).

- Về ứng dụng tài khoản định danh và xác thực điện tử (VNeID): 32 tổ chức tín dụng và 15 trung gian thanh toán đang triển khai ứng dụng VNeID cho 3 luồng quy trình nghiệp vụ chính, gồm: Mở tài khoản thanh toán; xác thực giao dịch thanh toán; đối chiếu, xác thực thông tin khách hàng (trong đó có 8 tổ chức tín dụng và 3 trung gian thanh toán đã triển khai).

Đặc biệt, trong năm 2024, việc tích cực triển khai Quyết định số 2345/QĐ-NHNN ngày 18/12/2023 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng đã mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc góp phần phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng, số lượng vụ việc lừa đảo, chiếm đoạt tiền của khách hàng cá nhân và số lượng tài khoản khách hàng cá nhân có phát sinh nhận tiền lừa đảo ở các đơn vị đã giảm đáng kể. Với 87,6 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân được đối khớp thông tin sinh trắc học từ nguồn dữ liệu dân cư tính đến ngày 08/01/2025, số lượng vụ việc khách hàng bị lừa đảo mất tiền 6 tháng cuối năm 2024 giảm khoảng 68% so với số vụ việc trung bình 6 tháng đầu năm 2024; số lượng tài khoản nhận tiền lừa đảo 6 tháng cuối năm 2024 giảm khoảng 63% so với trung bình 6 tháng đầu năm 2024. Đặc biệt, tại một số tổ chức tín dụng đã không có phát sinh vụ việc trong thời gian vừa qua.

- Đến tháng 12/2024, Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam đã làm sạch được 57 triệu hồ sơ khách hàng vay; các tổ chức tín dụng và trung gian thanh toán đã làm sạch gần 83,6 triệu hồ sơ khách hàng (bao gồm làm sạch thông qua phương thức online và offline).

Về kết nối, chia sẻ thông tin giữa các đơn vị trong ngành Ngân hàng, trong năm 2024, NHNN đã xây dựng và triển khai thành công về mặt kỹ thuật hệ thống giám sát các tài khoản thanh toán, ví điện tử nghi ngờ gian lận, giả mạo (SIMO). Hệ thống SIMO cho phép các tổ chức thành viên tham gia thực hiện báo cáo thông tin về những tài khoản đáng ngờ khi phát hiện và chia sẻ thông tin tới các thành viên khác. Đến hết năm 2024, đã có 103 tổ chức tín dụng, trung gian thanh toán kết nối, gửi thông tin báo cáo tài khoản thanh toán, ví điện tử nghi ngờ gian lận, giả mạo về NHNN.

Ngoài những giải pháp kỹ thuật, ngành Ngân hàng đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông và các tổ chức liên quan trong công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin cũng như phòng, chống lừa đảo qua mạng trong ngành Ngân hàng, thông qua các công tác: (i) Phối hợp cung cấp thông tin trong điều tra, xử lý các vụ việc tội phạm lừa đảo liên quan đến khách hàng của ngân hàng, bảo đảm lợi ích chính đáng của khách hàng; (ii) Cung cấp, chia sẻ thông tin về các rủi ro, sự cố an toàn thông tin, các thủ đoạn của tội phạm công nghệ cao để kịp thời cảnh báo và triển khai các giải pháp phòng, chống kịp thời.

Có thể đánh giá, giải pháp kết nối, chia sẻ dữ liệu được triển khai trong thời gian vừa qua, cùng với các giải pháp toàn diện khác của ngành Ngân hàng và các đơn vị chức năng đã bước đầu mang lại hiệu quả tốt, góp phần phòng, chống tình trạng sử dụng công nghệ cao để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng trong lĩnh vực ngân hàng.

Một số giải pháp trong việc kết nối, chia sẻ dữ liệu góp phần phòng, chống tội phạm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng trong lĩnh vực ngân hàng

Để việc kết nối, chia sẻ dữ liệu mang lại những lợi ích thiết thực, bảo đảm an ninh, an toàn, phòng chống tội phạm công nghệ cao và phát huy sức mạnh, vai trò của dữ liệu trong phát triển hệ sinh thái số ngân hàng, thời gian tới các đơn vị trong ngành Ngân hàng quan tâm thực hiện một số công việc sau:

Một là, tích cực đẩy nhanh tiến trình kết nối, khai thác ứng dụng dữ liệu quốc gia về dân cư, đặc biệt cần nghiên cứu giải pháp kỹ thuật, quy trình nghiệp vụ để tích hợp, sử dụng VNeID vào các hoạt động định danh, xác thực khách hàng trực tuyến, làm sạch các dữ liệu khách hàng, cũng như trong các hoạt động nghiệp vụ khác của ngành Ngân hàng.

Hai là, triển khai mở rộng việc kết nối, khai thác hệ thống SIMO cũng như kết nối, khai thác nguồn dữ liệu về danh sách tài khoản đã tham gia vào quá trình luân chuyển dòng tiền lừa đảo được Bộ Công an thu thập, chia sẻ để cảnh báo đến khách hàng khi thực hiện các giao dịch thanh toán trực tuyến.

Ba là, xây dựng, ban hành tiêu chuẩn trao đổi dữ liệu bảo đảm khả năng kết nối giữa các đơn vị trong Ngành. Trong đó sớm xây dựng và công bố các cổng giao diện lập trình ứng dụng (API) mở nhằm tạo điều kiện cho việc kết nối, chia sẻ dữ liệu một cách an toàn, phù hợp với phạm vi, mục đích và đạt hiệu quả cao.

Bốn là, tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng của Bộ Công an và các bộ, ngành liên quan trong công tác chuyển đổi số, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng. Khai thác có hiệu quả nguồn thông tin cảnh báo về các phương thức, thủ đoạn của tội phạm mạng từ các đơn vị chức năng để triển khai kịp thời các giải pháp phòng, chống.

Năm là, đẩy mạnh hoạt động của Mạng lưới ứng cứu sự cố an ninh công nghệ thông tin ngành Ngân hàng, trong đó tăng cường hoạt động chia sẻ thông tin về các rủi ro, sự cố an toàn thông tin và hỗ trợ ứng cứu sự cố giữa các đơn vị trong ngành Ngân hàng.

Sáu là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về việc bảo vệ thông tin, dữ liệu cá nhân tới khách hàng và cán bộ, nhân viên ngân hàng, từ đó tạo cơ sở thay đổi thói quen, giúp khách hàng cảnh giác với các hành vi, thủ đoạn gian lận của tội phạm trên không gian mạng và lựa chọn, sử dụng dịch vụ an toàn trên môi trường số.

Lê Hoàng Chính Quang
Quyền Cục trưởng Cục CNTT, NHNN

Tin bài khác

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ sinh thái thanh toán số: Nền tảng cho phát triển thanh toán hiện đại và bền vững

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ sinh thái thanh toán số: Nền tảng cho phát triển thanh toán hiện đại và bền vững

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, dữ liệu đã trở thành một nguồn lực quan trọng của nền kinh tế. Đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng, đặc biệt là hoạt động thanh toán, dữ liệu không chỉ là yếu tố hỗ trợ vận hành hệ thống mà còn là nền tảng để phát triển các dịch vụ tài chính số hiện đại, tiện ích và an toàn.
Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và những tác động đối với lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và những tác động đối với lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân (Luật số 91/2025/QH15) đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ quyền riêng tư và quản trị dữ liệu tại Việt Nam. Với đặc thù xử lý khối lượng lớn dữ liệu khách hàng, lĩnh vực ngân hàng chịu tác động trực tiếp và sâu sắc từ các quy định mới. Bài viết phân tích những nội dung cốt lõi của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, đặc biệt về nguyên tắc xử lý dữ liệu, quyền của chủ thể dữ liệu và nghĩa vụ của tổ chức xử lý dữ liệu; đồng thời đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm giúp ngành Ngân hàng thích ứng hiệu quả với khung pháp lý mới, hướng tới phát triển an toàn và bền vững.
Khai thác dữ liệu đảm bảo tính riêng tư trong lĩnh vực ngân hàng: Phương pháp tiếp cận đáp ứng yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân

Khai thác dữ liệu đảm bảo tính riêng tư trong lĩnh vực ngân hàng: Phương pháp tiếp cận đáp ứng yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân

Trong kỷ nguyên của dữ liệu hiện nay, khai thác dữ liệu đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện ra tri thức và thông tin có giá trị tiềm ẩn trong các tập dữ liệu lớn hỗ trợ nhà quản trị đưa ra các quyết định đúng đắn. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác dữ liệu của một số ngành đặc thù như ngân hàng, những thông tin bí mật và nhạy cảm của khách hàng (như thông tin cá nhân, thu nhập, quan hệ tín dụng, dư nợ…) nếu không được bảo vệ an toàn sẽ trở thành lỗ hổng để tội phạm mạng lợi dụng thực hiện các hành vi độc hại. Bài viết này giới thiệu các nhóm giải pháp kỹ thuật điển hình về khai thác dữ liệu có đảm bảo tính riêng tư (PPDD) và phân tích khả năng áp dụng cho những bài toán khai thác dữ liệu ngân hàng trong bối cảnh yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân nghiêm ngặt hiện nay.
Xu hướng nghiên cứu toàn cầu về sự giao thoa giữa AI, tài chính xanh và lòng trung thành của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng

Xu hướng nghiên cứu toàn cầu về sự giao thoa giữa AI, tài chính xanh và lòng trung thành của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng

Bài viết phân tích xu hướng nghiên cứu toàn cầu tại giao điểm giữa tài chính xanh, trí tuệ nhân tạo (AI) và lòng trung thành của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng, qua đó làm rõ vai trò của AI như một động lực thúc đẩy phát triển bền vững và tăng cường gắn kết khách hàng, đồng thời đề xuất các hàm ý quản trị và chính sách liên quan.
Khung pháp lý về quản trị dữ liệu cá nhân trong ngân hàng: Giải pháp quản lý hiệu quả và đảm bảo quyền lợi khách hàng

Khung pháp lý về quản trị dữ liệu cá nhân trong ngân hàng: Giải pháp quản lý hiệu quả và đảm bảo quyền lợi khách hàng

Bài viết phân tích khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân và thực tiễn quản trị dữ liệu trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, trên cơ sở tham chiếu đến Quy định chung về bảo vệ dữ liệu cá nhân của Liên minh châu Âu từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực quản lý và tăng cường bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng đối với quá trình xử lý dữ liệu cá nhân nói chung trong lĩnh vực ngân hàng.
Quản lý và giám sát tài sản mã hóa: Kinh nghiệm Thái Lan và bài học đối với Việt Nam

Quản lý và giám sát tài sản mã hóa: Kinh nghiệm Thái Lan và bài học đối với Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quản lý tài sản mã hóa của Thái Lan, qua đó gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả giám sát thị trường tài sản số tại Việt Nam.
Tích hợp thanh toán không dùng tiền mặt và quản lý thuế thương mại điện tử tại Việt Nam: Khung phân tích và hàm ý chính sách

Tích hợp thanh toán không dùng tiền mặt và quản lý thuế thương mại điện tử tại Việt Nam: Khung phân tích và hàm ý chính sách

Bài viết xây dựng khung phân tích tích hợp để khảo sát mối quan hệ giữa thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) và quản lý thuế thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, từ đó đề xuất các trụ cột chính sách về dữ liệu số và cải cách thể chế nhằm hiện đại hóa hệ thống thuế trong kỷ nguyên kinh tế nền tảng.
Ứng dụng học tập liên kết trong chấm điểm tín dụng và an ninh tài chính tại Việt Nam

Ứng dụng học tập liên kết trong chấm điểm tín dụng và an ninh tài chính tại Việt Nam

Bài viết phân tích giải pháp Học tập liên kết như một hạ tầng công nghệ thiết yếu giúp ngành Ngân hàng tối ưu hóa việc chấm điểm tín dụng và phát hiện gian lận, đồng thời đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát tại Việt Nam.
Xem thêm
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành