Quan điểm Hồ Chí Minh về quản lý xã hội và sự vận dụng của Nhà nước trong kỷ nguyên mới

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Quản lý xã hội luôn là vấn đề quan trọng, cần thiết đối với mỗi quốc gia, dân tộc, nhà nước nào cũng phải quan tâm, chăm lo, thực hiện một cách hiệu quả. Bởi lẽ, có quản lý tốt xã hội thì nhà nước mới vận hành, phát triển một cách trật tự, ổn định và bền vững, giúp cho đất nước phát triển lành mạnh, ổn định, vững chắc, từ đó mới nâng cao được chất lượng đời sống của Nhân dân trên các mặt, các lĩnh vực. Theo Hồ Chí Minh, để quản lý xã hội - xã hội mới, chúng ta phải tiến hành nhiều nội dung, lĩnh vực khác nhau; tính chất quản lý phải toàn diện, rộng khắp trên tất cả các mặt của xã hội; yêu cầu quản lý thật chặt chẽ, hiệu quả, hiệu lực và hiệu năng; cách thức quản lý phải đa dạng, phong phú, linh hoạt.
aa

Tóm tắt: Theo quan điểm của V.I.Lênin, lãnh tụ của giai cấp công nhân đã khẳng định một chân lý rằng: “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền khó hơn”, tuy nhiên để giữ chính quyền cần phải quản lý tốt xã hội mới. Với tinh thần đó, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Để giữ nước, quản lý và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới, theo Hồ Chí Minh, cần thực hiện quản lý hiệu quả các lĩnh vực của Nhà nước như quản lý về tư tưởng, chính trị; về kinh tế; về văn hóa, xã hội; về giáo dục, đào tạo, quốc phòng, an ninh và lĩnh vực khác trong đời sống. Tư tưởng này của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn, tiếp tục là cơ sở, nền tảng vững chắc để đưa Nhà nước ta chuyển sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Từ khóa: Chủ tịch Hồ Chí Minh; các lĩnh vực quản lý của Nhà nước; kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

1. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về các lĩnh vực quản lý xã hội

1.1. Quản lý tư tưởng, chính trị

Quản lý tư tưởng, chính trị được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng và tiến hành ngay từ rất sớm, sau khi nước nhà giành được độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo Người, đây là lĩnh vực trực tiếp tác động vào tư tưởng, tình cảm, nhận thức, hành động và việc làm của mỗi con người Việt Nam, con người mới xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đang chăm lo, xây dựng. Con người mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh là con người thay đổi hoàn toàn về chất so với con người cũ của chế độ xã hội cũ để lại. Do đó, theo Hồ Chí Minh, để quản lý xã hội hiệu quả, cần phải quản lý tốt lĩnh vực tư tưởng, chính trị, qua đó từng bước tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân về chế độ xã hội mới. Bởi vậy, sau khi nước nhà vừa giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo: “Mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần Nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, Kiệm, Liêm, Chính,...” nhằm mục đích: “Giáo dục lại Nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”1.

Về nội dung quản lý xã hội trong lĩnh vực tư tưởng, chính trị, theo Hồ Chí Minh cần phải tiến hành tuyên truyền, giáo dục sâu sắc, toàn diện lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách và luật pháp của Nhà nước mới; giáo dục mục tiêu, lý tưởng, con đường cách mạng của Đảng, gắn với quản lý chặt chẽ các lĩnh vực, các mặt của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, kỹ thuật,... Người dạy: “Cán bộ văn hóa nói riêng cũng như tất cả các cán bộ ta nói chung phải rèn luyện tư tưởng, chính trị, ý chí phấn đấu và tinh thần trách nhiệm. Thí dụ đi lên vùng đồng bào Mèo, đồng bào Mán, thì trước hết phải có tinh thần, có lập trường chính trị”2. Làm cho các nội dung này luôn trở thành vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội của Nhân dân ta. Qua đó, góp phần quản lý và xây dựng niềm tin cách mạng vững chắc cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta về con đường cách mạng vô sản, về Nhà nước kiểu mới.

Hồ Chí Minh cho rằng, để quản lý tốt tư tưởng, chính trị của cán bộ, đảng viên và Nhân dân cần phải gắn chặt với công tác kế hoạch, xây phải gắn liền với chống, xây dựng đi đôi với bảo vệ, đấu tranh gắn liền với phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch đang ngày đêm xuyên tạc, chống phá tư tưởng, chính trị, lý luận và con đường cách mạng Việt Nam. Người chỉ rõ: “Công tác tư tưởng, chính trị phải kết hợp chặt chẽ với công tác kế hoạch. Tư tưởng thông, mọi người hăng hái thực hiện kế hoạch mới tốt”3. Bởi lẽ, theo Hồ Chí Minh, để hoàn thành tốt kế hoạch, điều quan trọng bậc nhất là phải tăng cường công tác bồi dưỡng tư tưởng, chính trị cho cán bộ và quần chúng Nhân dân thì mới thực hiện được thắng lợi mục tiêu, sự nghiệp cách mạng của Đảng đã đề ra. Phải làm cho mỗi người thấm nhuần tinh thần làm chủ tập thể, ý chí cần, kiệm xây dựng nước nhà. Đây là nhiệm vụ khó khăn, vất vả, cần phải tiến hành lâu dài trong suốt quá trình cách mạng, không bao giờ được phép chủ quan, hạ thấp, đơn giản và xem nhẹ.

Theo Hồ Chí Minh, quản lý tư tưởng, chính trị là quản lý tư tưởng của con người, quản lý những vấn đề liên quan đến nhận thức, sinh mệnh chính trị, lập trường, quan điểm, ý thức hệ của giai cấp, đến lý tưởng và đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Do đó, công tác quản lý xã hội trong lĩnh vực tư tưởng, chính trị cần phải được coi trọng, tiến hành thường xuyên, liên tục, bảo đảm tính ổn định, bền vững. Người dạy: “Các chú, các cô phải luôn luôn nâng cao tinh thần cảnh giác và chí khí chiến đấu, chớ chủ quan khinh địch. Phải luôn luôn ra sức rèn luyện chiến thuật, kỹ thuật và tư tưởng, chính trị. Phải có tinh thần tập thể lập công”4. Việc trang bị lý luận và quản lý tư tưởng, chính trị là những vấn đề cốt yếu, nền tảng vững chắc, là vấn đề thuộc về lý luận gốc của giai cấp công nhân và Nhân dân lao động, được các nhà kinh điển sáng lập, Hồ Chí Minh là người kế thừa vận dụng và phát triển sáng tạo, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đạo đức mới và con người mới ở Việt Nam. Hướng tới xây dựng một xã hội ngày càng dân chủ, công bằng và văn minh; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; con người có điều kiện phát triển toàn diện trên tất cả các mặt, từ đức, trí, thể, mỹ.

1.2. Quản lý kinh tế

Trong các nội dung quản lý xã hội, quản lý kinh tế cũng là một nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn được Người quan tâm, chăm lo và thực hiện, nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ngày càng lớn mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới. Người dạy: “Trong công cuộc xây dựng nước nhà, việc quản lý kinh tế tài chính là cực kỳ quan trọng. Nếu quản lý không chặt chẽ, thì cái gì thiếu không biết, cái gì thừa không hay, công việc sẽ bị bế tắc”5. Kinh tế được Hồ Chí Minh xem là xương sống, là trụ cột của đất nước, là vấn đề quan trọng hàng đầu trong công cuộc xây dựng xã hội mới; kinh tế có phát triển thì xã hội mới phát triển, ngược lại kinh tế kém phát triển thì đời sống Nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Do đó, theo Hồ Chí Minh, trong công tác quản lý kinh tế phải làm nghiêm túc, chặt chẽ, khoa học và phù hợp với quy luật khách quan, sát với thực tiễn; đồng thời phải dựa trên thực lực của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của xã hội để xác định cho phù hợp, tránh đơn giản, chủ quan, xem nhẹ. Hồ Chí Minh yêu cầu cần phải quản lý toàn diện về mọi mặt như: “Quản lý sản xuất, quản lý vật tư, quản lý lao động, quản lý kỹ thuật, quản lý tiền bạc,... Phải tăng cường việc quản lý từ Trung ương đến địa phương. Các xí nghiệp, công trường, nông trường,... đều phải thực hiện việc quản lý một cách nghiêm chỉnh”6.

Theo Hồ Chí Minh, muốn phát triển sản xuất thì phải cải tiến kỹ thuật, nghĩa là: Phải biết học tập để nắm vững kỹ thuật, sử dụng đầy đủ công suất máy móc, các trang thiết bị. Đồng thời phải tích cực tìm tòi sáng kiến để tổ chức lao động cho hợp lý, học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước tiên tiến. Phải cải tiến phương tiện, máy móc làm việc để đạt năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn, năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên, để quản lý kinh tế có hiệu quả, thì cần phải phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của Nhà nước, tăng cường kỷ luật lao động trong các công xưởng, nhà máy, xí nghiệp; đặc biệt cần phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, lãng phí, tham ô, quan liêu; đồng thời phải ra sức học tập, cải tiến để nâng cao trình độ chính trị, văn hóa và khoa học kỹ thuật; gắn với việc học tập kinh nghiệm thực tiễn phong phú của các nước, nhất là các nước anh em trong khu vực và trên thế giới.

Để quản lý xã hội trên lĩnh vực kinh tế, theo Hồ Chí Minh chúng ta cần phải đề cao cảnh giác, ngăn ngừa bọn phá hoại, gắn với việc chống đầu cơ, tích trữ lương thực thực phẩm, làm ảnh hưởng đến công tác sản xuất và tiêu dùng sản phẩm, nhằm mục đích ổn định thị trường, ổn định xã hội. Bên cạnh đó tăng cường lực lượng sản xuất, điều chỉnh chế độ tiền lương để cải thiện dân đời sống cho công nhân, cán bộ, bộ đội và nhân viên trong các nhà máy xí nghiệp. Người dạy: “Chúng ta cần nâng cao cảnh giác, ngăn ngừa bọn phá hoại, kiên quyết giữ vững trật tự an ninh; tiếp tục chống đầu cơ tích trữ, ổn định thị trường, ổn định tiền tệ”7.

Việc quản lý kinh tế, theo Hồ Chí Minh phải gắn chặt với vấn đề phát triển khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng sản xuất, tích cực học tập kinh nghiệm của quần chúng; đồng thời phải biết dựa vào quần chúng, học hỏi quần chúng, phát huy những sáng kiến của quần chúng để quản lý xã hội; tạo điều kiện thuận lợi cho quần chúng học tập những kinh nghiệm, hiểu biết về khoa học, kỹ thuật phục vụ cho mục đích kính tế nước nhà. Có như vậy, chúng ta mới xây dựng một xã hội ngày càng phát triển, phồn vinh và hạnh phúc.

Để quản lý kinh tế có hiệu quả, theo Hồ Chí Minh cần phải phát huy tốt vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đặc biệt là vai trò của các tỉnh ủy, các đảng ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên phụ trách ở các cơ quan xí nghiệp công trường và mậu dịch, nòng cốt là vai trò của các chi bộ Đảng. Đồng thời, cần phải phát động và tổ chức hiệu quả các cuộc vận động, nhằm quản lý hiệu quả hoạt động kinh tế của Nhà nước, như cuộc vận động: “Cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật, nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc”. Theo Người, muốn phát triển sản xuất thì phải cải tiến kỹ thuật, nghĩa là: Phải biết học tập để nắm vững kỹ thuật, sử dụng đầy đủ công suất máy móc; phải tìm tòi sáng kiến để tổ chức lao động cho hợp lý và hiệu quả; phải cải tiến phương tiện, máy móc làm việc để đạt năng suất cao, chất lượng tốt. Cuộc vận động “Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu” là cuộc vận động nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, nghĩa là làm cho mọi người hiểu rõ mình có trách nhiệm cần kiệm xây dựng nước nhà, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, để Nhà nước có thể vừa tích lũy thêm tiền vốn xây dựng, vừa cải thiện dần đời sống của Nhân dân. Các cuộc vận động thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược, góp phần đắc lực vào việc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa, Người cho rằng: Muốn xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, cần phải tiêu diệt những thói hư, tật xấu của xã hội cũ còn sót lại. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải bồi dưỡng con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ Nhân dân, phục vụ cách mạng.

Sở dĩ phải quản lý tốt kinh tế nước nhà là vì kinh tế sinh ra hiện tượng tham ô, lãng phí, quan liêu vẫn còn khá phổ biến trong đời sống xã hội, có ảnh hưởng và tác động tiêu cực không nhỏ đến sự phát triển của đất nước và niềm tin của Nhân dân. Theo Hồ Chí Minh: Tham ô là hành động xấu xa nhất, tội lỗi, đê tiện nhất trong xã hội. Tham ô là trộm cắp của công, chiếm của công làm của tư. Nó làm hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà; hại đến công việc cải thiện đời sống của Nhân dân; hại đến đạo đức cách mạng của người cán bộ và công nhân. Khi nói về lãng phí, Người khẳng định: Lãng phí tuy khác với tham ô ở chỗ người gây ra lãng phí không trực tiếp trộm cắp của công làm của riêng. Nhưng kết quả thì làm tổn hại rất nghiêm trọng cho Nhà nước, cho Nhân dân. Lãng phí có nhiều nguyên nhân: Hoặc vì lập kế hoạch không chu đáo; hoặc vì trong khi thực hiện kế hoạch tính toán không cẩn thận; hoặc vì bệnh hình thức, xa xỉ, phô trương; hoặc vì thiếu tinh thần bảo vệ của công. Nói tóm lại là vì thiếu ý thức trách nhiệm, thiếu ý thức quý trọng sức người, sức của Nhà nước và của Nhân dân. Đối với công việc thì không điều tra nghiên cứu kỹ lưỡng. Chỉ đạo thì đại khái, chung chung. Không lắng nghe ý kiến của quần chúng, tác phong không dân chủ dẫn đến lãng phí. Sợ phê bình và tự phê bình. Không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách,... Vì vậy, ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó có nạn tham ô, lãng phí sẽ có.

1.3. Quản lý văn hóa - xã hội

Quản lý văn hóa là sự tác động bằng nhiều hình thức, phương pháp của các chủ thể quản lý khác nhau như: Các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, tổ chức, cá nhân, nhằm bảo đảm cho văn hóa luôn trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân. Quản lý văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật của bộ máy, nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phát triển theo thang giá trị văn hóa, xã hội, với mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa mang tính dân tộc, khoa học và đại chúng, từng bước góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.

Theo quan điểm Hồ Chí Minh, văn hóa là lĩnh vực quan trọng, đặt ngang hàng với các lĩnh vực khác của xã hội. Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến, cùng phải coi trọng và đặt ngang nhau: Chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Theo đó, văn hóa không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế, chính trị và ngược lại, kinh tế, chính trị cũng phải mang giá trị, ý nghĩa văn hóa để cùng nhau tồn tại và phát triển, phục vụ cho nhu cầu, mục đích đời sống của con người. Từ đó, một trong những vấn đề cơ bản, hệ trọng đặt ra là phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các lĩnh vực văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội phải hài hòa với nhau. Do đó, việc quản lý văn hóa, xã hội là một trong những nội dung quan trọng, luôn được Hồ Chí Minh quan tâm và thực hiện một cách chặt chẽ, hiệu quả, nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới, nền văn hóa mới và con người mới. Để quản lý xã hội theo mục tiêu, lý tưởng của Đảng, Hồ Chí Minh cho rằng cần phải quản lý tốt lĩnh vực văn hóa, nhằm bảo đảm cho văn hóa luôn tồn tại và phát triển theo đúng định hướng, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước và lợi ích của Nhân dân, mang lại những giá trị tốt đẹp cho dân tộc Việt Nam. Qua đó từng bước hạn chế tối đa những thói hư, tật xấu, những phù hoa xa xỉ, những hoạt động phản văn hóa mang lại, nhằm cản trở sự phát triển, tiến bộ của xã hội mới.

Quản lý tốt lĩnh vực văn hóa, xã hội là làm cho văn hóa trở thành ngọn đuốc soi đường cho quốc dân đi đến thắng lợi hoàn toàn. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa có nội hàm rộng lớn, chứa đựng nhiều nội dung liên quan trực tiếp đến con người và xã hội loài người như: “Ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng”8. Phương châm quản lý văn hóa theo Hồ Chí Minh: “Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc. Đồng thời, phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng”9.

Hồ Chí Minh cho rằng, sở dĩ phải quản lý văn hóa, xã hội là bởi vì kẻ thù thường xuyên lợi dụng văn hóa phản động, văn hóa thực dân, tư sản để hủ hóa dân ta, từng bước làm cho văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và văn hóa cách mạng của giai cấp vô sản ngày càng bị mai một. Do đó, cần phải quản lý chặt chẽ nền văn hóa mới, phát huy tốt vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; các ban, bộ, ngành có liên quan, các thiết chế văn hóa và đội ngũ cán bộ văn hóa trong tuyên truyền, giáo dục, quản lý, làm cho các giá trị văn hóa tiêu biểu của giai cấp vô sản luôn tồn tại và phát triển trong đời sống tinh thần của cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, việc quản lý văn hóa, xã hội là một lĩnh vực quan trọng, xuất phát từ mối quan hệ mật thiết giữa kinh tế và chính trị, thể hiện tính biện chứng thống nhất với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và bổ sung cho nhau cùng phát triển. Người khẳng định: “Tinh thần có tác dụng ảnh hưởng lại vật chất; ý thức của xã hội có tác dụng ảnh hưởng lại sự sống còn của xã hội; chính trị, văn hóa có tác dụng ảnh hưởng lại nền tảng kinh tế”10. Sở dĩ chúng ta phải quản lý tốt văn hóa xã hội, bởi vì đã lâu, chúng ta sinh trưởng dưới chế độ nô lệ của thực dân và phong kiến, bị văn hóa giáo dục thực dân phong kiến thấm vào đã sâu. Nó đã làm cho nhiều người quên cả Nhân dân, quên cả Tổ quốc. Nó đã làm cho những bệnh thối nát hủ bại, như chủ nghĩa cá nhân, tự tư tự lợi, tham ô, lãng phí,... ăn sâu vào con người như những bệnh kinh niên.

Trong công tác quản lý văn hóa, xã hội, Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu: “Phải xây dựng một nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng. Phải nâng cao trình độ văn hóa của Nhân dân. Phải đề xướng đạo đức công dân tức là yêu Tổ quốc, yêu Nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, bảo vệ của công,... Phải chống văn hóa nô lệ của đế quốc và phong kiến,...”11. Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn yêu cầu phải thanh toán hết nạn mù chữ, đào tạo cán bộ để xây dựng nước nhà, giữ gìn sức khỏe của Nhân dân, phát triển thuần phong mỹ tục của dân tộc ngày càng phong phú; đồng thời phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau như anh em một nhà.

1.4. Quản lý giáo dục, đào tạo, quốc phòng, an ninh và một số lĩnh vực khác

Giáo dục, đào tạo là một lĩnh vực trọng yếu của xã hội, là vấn đề quốc sách hàng đầu của mỗi quốc gia dân tộc, góp phần xây dựng đội ngũ trí thức cách mạng ngày càng lớn mạnh, phục vụ cho công cuộc xây dựng xã hội mới; qua đó nhằm trang bị trí thức, nhận thức, thế giới quan, phương pháp luận và nhân cách cho mỗi con người Việt Nam phát triển toàn diện. Hoạt động giáo dục, đào tạo là hoạt động truyền thụ, truyền bá, giác ngộ, trang bị những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; những kiến thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cho con người. Do đó, theo Hồ Chí Minh, trong công tác quản lý xã hội, cần quản lý chặt chẽ hoạt động giáo dục, đào tạo, làm nền tảng cho sự phát triển các lĩnh vực khác của công cuộc xây dựng xã hội mới.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội, quản lý giáo dục, đào tạo thể hiện một tầm nhìn chiến lược, lâu dài, bao trùm, xuyên suốt, tiêu biểu là quan điểm giáo dục toàn dân, giáo dục của dân, do dân, vì dân, lấy người dân là mục tiêu cho sự phát triển, làm trung tâm và hướng đích để xây dựng và phát triển nền giáo dục mới của nước nhà. Người yêu cầu phải: “Quản lý giáo dục, đào tạo, quốc phòng, an ninh và một số lĩnh vực khác”12. Ngay sau khi đất nước giành được độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là một trong 6 nhiệm vụ lớn mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân cần phải tập trung để thực hiện cho bằng được. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về quản lý giáo dục, đào tạo thời kỳ này được thể hiện rất rõ qua việc ban hành nhiều Sắc lệnh liên quan đến giáo dục, đào tạo như: Sắc lệnh về việc thành lập Nha bình dân học vụ (ngày 8/9/1945), Sắc lệnh về việc thiết lập một Quỹ tự trị cho Trường Đại học Việt Nam (ngày 10/10/1945), Sắc lệnh về việc thành lập Hội đồng Cố vấn học chính (ngày 10/10/1945),...

Trong tác phẩm Đời sống mới, năm 1947, Hồ Chí Minh đã đề ra những việc cần làm ngay với giáo dục, đào tạo. Đó là xóa bỏ nền giáo dục thực dân, đồi bại, xảo trá, ngu muội và xây dựng nền giáo dục mới xã hội chủ nghĩa. Một nền giáo dục toàn dân, mọi người dân ai ai cũng được đi học, được đến trường; thực hiện dân chủ và bình đẳng trong giáo dục, đào tạo. Theo Hồ Chí Minh: “Cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước, thương nòi. Phải dạy cho họ có chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai”13. Ngay từ sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện tư tưởng giáo dục toàn dân, giáo dục toàn diện, giáo dục suốt đời. Đây có thể xem là 3 nội dung cơ bản bao quát toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, đào tạo, cũng là hướng đích của quản lý giáo dục nước nhà trong suốt những năm qua và đến nay vẫn còn nguyên về giá trị.

Giáo dục, đào tạo toàn dân là việc xây dựng nền giáo dục hướng tới mọi đối tượng, ai cũng được học tập, không chỉ tập trung vào một bộ phận, một giai cấp, tầng lớp nào trong xã hội, mà mọi người dân từ già, trẻ, gái trai, dân tộc, tôn giáo, giàu, nghèo,... đều được đến trường, đều được học tập. Giáo dục, đào tạo toàn diện là việc chỉ ra hướng đích của nền giáo dục, là phải đào tạo ra những con người toàn diện cả về tư cách, nhân phẩm, đạo đức, chứ không đơn thuần chỉ có tri thức và kiến thức. Theo Hồ Chí Minh, giáo dục toàn diện là phải giáo dục đồng thời cả tri thức và đạo đức cho người học, bởi theo Người, đạo đức đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển nhân cách, bên cạnh “tài” thì “đức” là một nhân tố quan trọng hình thành nên con người toàn diện. Quá trình giáo dục, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh dạy học là dạy kiến thức, nhưng các thầy, cô giáo cũng phải luôn quan tâm, giữ gìn sức khỏe của học sinh: “Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn. Phải đặc biệt chú ý giữ gìn sức khỏe của các cháu”. Để đạt mục tiêu giáo dục toàn diện, Người chỉ rõ, phải có sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội và cần giáo dục ngay trong từng mối quan hệ cụ thể từ trong gia đình ra ngoài xã hội mới mang lại giá trị đích thực. Giáo dục, đào tạo suốt đời. Đây được xem là tư tưởng tiến bộ vượt bậc của Hồ Chí Minh, bao hàm hai yếu tố học tập toàn dân và toàn diện. Chỉ khi xây dựng được nền giáo dục toàn dân và toàn diện thì sẽ bảo đảm được mục đích học tập suốt đời cho người học. Do vậy, trong suốt cuộc đời của mỗi người vẫn luôn phải học tập, tu dưỡng, rèn luyện, luôn phải tự trang bị các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho bản thân mình. Xây dựng một xã hội học tập, bảo đảm cho mọi người dân đều được học khi có nhu cầu là nền tảng quan trọng và bền vững cho sự phát triển của đất nước.

Quản lý xã hội về quốc phòng, an ninh là quá trình điều hành bằng pháp luật, chính sách, kế hoạch và các công cụ khác của Nhà nước trong các lĩnh vực, hoạt động xã hội, có quan hệ đến việc giữ gìn, bảo đảm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, do hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương tiến hành theo chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, quyền hạn của mỗi cơ quan, đơn vị. Theo quan điểm Hồ Chí Minh, quốc phòng, an ninh được thể hiện ở nhiều nội dung khác nhau; đồng thời cũng là lĩnh vực trực tiếp diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc với tính chất ngày càng quyết liệt, phức tạp. Bản thân quốc phòng, an ninh là lĩnh vực luôn mang bản chất chính trị, giai cấp sâu sắc. Vì vậy, quản lý Nhà nước về quốc phòng, an ninh cũng phải mang bản chất giai cấp sâu sắc của Nhà nước. Đó là bản chất của giai cấp công nhân, do Nhà nước quản lý điều hành, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quốc phòng, an ninh là một trong những lĩnh vực trọng yếu của xã hội, do đó cần phải quản lý chặt chẽ, nhằm bảo đảm sự vững mạnh, ổn định, phát triển, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bởi theo Hồ Chí Minh, quốc phòng có được giữ vững, tình hình an ninh chính trị được củng cố và tăng cường, đất nước và xã hội mới có điều kiện phát triển bền vững. Để quản lý hiệu quả lĩnh vực quốc phòng, an ninh của đất nước, cần phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước là nhân tố then chốt, nhân tố quan trọng hàng đầu trong quản lý xã hội; bên cạnh đó cần phát huy vai trò, sức mạnh của Bộ Quốc phòng và sự phối hợp của các cơ quan chức năng có liên quan; đồng thời phải có chủ trương, phương án, kế hoạch, lộ trình cụ thể trong công tác xây dựng và quản lý quốc phòng một cách khoa học và hiệu quả; cùng với đó là phát huy vai trò, sức mạnh, sự đoàn kết của Nhân dân và sự phối hợp, hợp tác của bạn bè quốc tế để quản lý lĩnh vực quốc phòng ngày càng hiệu quả, góp phần giữ vững sự ổn định đất nước và tình hình an ninh chính trị của quốc gia dân tộc. Người chỉ rõ: “Phải cố gắng học tập về mọi mặt chính trị, quân sự. Phải học tập chính trị: Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại. Quân đội ta là quân đội Nhân dân. Nhân dân có Đảng lãnh đạo, Đảng có chính cương, chính sách. Đã là quân đội Nhân dân thì phải học chính sách của Đảng”14. Sau này trong bài Bàn về mâu thuẫn, Người tiếp tục khẳng định: “Xây dựng quân đội cách mạng do Đảng lãnh đạo, tiến hành chiến tranh cách mạng chính là chuẩn bị điều kiện để tiêu diệt hết thảy chiến tranh”15

2. Sự vận dụng của Nhà nước ta hiện nay

Quan điểm Hồ Chí Minh về quản lý xã hội là cơ sở, nền tảng tư tưởng quan trọng để Đảng, Nhà nước ta xây dựng, quản lý và phát triển một Nhà nước ngày càng hùng cường, thịnh vượng với các mục tiêu cụ thể, phấn đấu đến: “Năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triến, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao” (trích Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng).

Để thực hiện có hiệu quả mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, ngay từ rất sớm, nhất là trong điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, Đảng ta đã chủ động đề ra đường lối đổi mới, xác định các mô hình tăng trưởng kinh tế phù hợp, đề ra kế hoạch 5 năm cho từng giai đoạn cách mạng, phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước ngày càng hiệu quả. Đặc biệt thời kỳ từ năm 2016 đến nay, Đảng ta đề ra phương châm: Quản lý phát triển xã hội phải hướng tới xây dựng xã hội ngày càng bền vững, lấy con người làm trung tâm. Xác định con người luôn giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định: “1. Nhận thức sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của phát triển xã hội bền vững và quản lý phát triển xã hội đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; 2. Xây dựng, thực hiện các chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội; 3. Có các giải pháp quản lý hiệu quả để giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, ngăn chặn, giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc, những mâu thuẫn có thể dẫn đến xung đột xã hội”16. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng đã thể hiện quan điểm: “Quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người. Triển khai đồng bộ, toàn diện các mục tiêu kinh tế, tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường, trên cơ sở đó, đổi mới phân bổ nguồn lực hợp lý để nâng cao hiệu quả phát triển xã hội”17.

Trong thời gian tới, Đảng, Nhà nước ta xác định: Quản lý xã hội phải theo hướng nhân văn, lấy con người làm trung tâm, phát triển con người vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển đất nước. Bên cạnh đó cần phải bảo đảm yếu tố hài hòa về an sinh xã hội, an ninh con người, thực hiện quan điểm tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Quản lý xã hội phải theo chủ trương, phát triển bền vững, hợp lý; lấy yếu tố công bằng, dân chủ làm đầu giữa các vùng miền, dân tộc, tôn giáo khác nhau, thực hiện quan điểm đại đoàn kết dân tộc. Bên cạnh đó, Nhà nước cần được tăng cường đổi mới về cơ chế, chính sách, tích cực tinh giản biên chế, bảo đảm hài hòa, hợp lý; đồng thời tích cực cắt giảm các bước, các khâu trung gian về mặt hành chính nhà nước; góp phần quản lý xã hội ngày càng chặt chẽ, hiệu lực, hiệu năng và hiệu quả.

Tích cực vận dụng sáng tạo những quan điểm Hồ Chí Minh về quản lý xã hội trên các mặt, các lĩnh vực của đời sống, bảo đảm hài hòa, hợp lý và hiệu quả. Coi trọng công tác quản lý tư tưởng, chính trị của mọi cán bộ, đảng viên và Nhân dân trước những diễn biến phức tạp của thời cuộc, kịp thời định hướng tư tưởng trong các lực lượng trong xã hội, tuyệt đối không để những tình huống bất ngờ xảy ra, tạo khoảng trống cho các thế lực thù địch xuyên tạc chống phá; tăng cường quản lý kinh tế Nhà nước ngày càng hiệu quả, bảo đảm chặt chẽ, không để thất thoát, lãng phí tiền của Nhân dân, tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; quản lý chặt chẽ vai trò của văn hóa, xã hội, trong mọi hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, đặt yếu tố văn hóa lên lần đầu, xem văn hóa là yếu tố sức mạnh nội sinh, thể hiện sức mạnh trường tồn của dân tộc; bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần được quản lý chặt chẽ yếu tố giáo dục, đào tạo, quốc phòng, an ninh và một số lĩnh vực khác trong xã hội. Tuyệt đối không có tư tưởng xem nhẹ, hạ thấp trong công tác quản lý xã hội, dẫn đến những sai lầm đáng tiếc xảy ra.

3. Kết luận

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, quản lý xã hội là lĩnh vực quan trọng hàng đầu của đất nước, góp phần to lớn trong công tác xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa; một xã hội của dân, do dân và vì dân; lấy người dân làm trung tâm, lực lượng và động lực của sự phát triển. Tư tưởng này đến nay vẫn còn nguyên giá trị về mặt lý luận và thực tiễn, tiếp tục là cơ sở, nền tảng quan trọng để Đảng, Nhà nước ta vận dụng vào công tác quản lý xã hội trên các lĩnh vực hiện nay.

1,11 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, trang, 25, 34.

2,7 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, trang 558, 391.

3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, trang 25.

4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 15, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, trang 134.

5,6 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 14, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, trang 140.

8 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, trang 458.

9, 13, 14 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, trang 40, 455, 589, 214, 592.

10 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, trang 265-266.

12 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, trang 120, 449-450.

15 Xem: Ngô Thắng Lợi: “Quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam (Phần 1)”, Trang thông tin điện tử Hội đồng lý luận Trung ương, https://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/quan-ly-phat-trien-xa-hoi-o-viet-nam-phan-1.html, ngày 20/8/2020.

16 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập I, trang 147-148.

ThS. Nguyễn Huy Đại
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Tin bài khác

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: Bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ trọng tâm

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: Bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ trọng tâm

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Đây là lần đầu tiên, bảo vệ môi trường được xác định là trụ cột, điều kiện, động lực của mô hình phát triển nhanh, bền vững, phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa xanh và cam kết Net Zero 2050 của Việt Nam.
Tư duy đột phá của Đảng ta trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tư duy đột phá của Đảng ta trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Nhìn tổng thể, Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới, một Đảng kiên định, đổi mới và hành động vì hạnh phúc của nhân dân, vì một Việt Nam phồn vinh, hùng cường và thịnh vượng.
Từ “thế trận lòng dân” đến “thế trận số” - Sức mạnh mới của Đảng trong kỷ nguyên số hiện nay (Kỳ 3)

Từ “thế trận lòng dân” đến “thế trận số” - Sức mạnh mới của Đảng trong kỷ nguyên số hiện nay (Kỳ 3)

Trong bối cảnh không gian mạng trở thành phần tất yếu của đời sống xã hội, việc xây dựng “thế trận số” vững chắc và chủ động làm chủ truyền thông số là yêu cầu chiến lược để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và lan tỏa các giá trị đúng đắn, tích cực trong xã hội.
Giữ vững niềm tin trước “bão” thông tin sai lệch (Kỳ 2)

Giữ vững niềm tin trước “bão” thông tin sai lệch (Kỳ 2)

Trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển bùng nổ của công nghệ, vấn đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đang đối diện với thách thức chưa từng có từ những “cơn bão” thông tin sai lệch, xuyên tạc trên môi trường số.
Không gian số - Mặt trận mới trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng (Kỳ 1)

Không gian số - Mặt trận mới trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng (Kỳ 1)

Trong kỷ nguyên số, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở nên cấp thiết và mang tính chiến lược hơn, đòi hỏi tư duy đổi mới, cách tiếp cận hệ thống, gắn kết giữa “xây” và “chống”, giữa “thế trận lòng dân” và “thế trận số”.
Xây dựng nhân lực quốc gia trong kỷ nguyên số: Từ thách thức đến bứt phá (Kỳ 5)

Xây dựng nhân lực quốc gia trong kỷ nguyên số: Từ thách thức đến bứt phá (Kỳ 5)

Bài toán về nguồn nhân lực số không chỉ là thách thức cấp bách đối với ngành giáo dục, mà còn là mối trăn trở của các nhà hoạch định chính sách trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra nóng bỏng từng ngày. Để giải được bài toán này, chúng ta cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược và tổng thể: Quy hoạch nguồn nhân lực, thúc đẩy hợp tác quốc tế, cải cách giáo dục, đổi mới khu vực công, biến doanh nghiệp thành “trường học” và vun đắp văn hóa học tập suốt đời.
Xây dựng nhân lực quốc gia trong kỷ nguyên số: Từ thách thức đến bứt phá (Kỳ 4)

Xây dựng nhân lực quốc gia trong kỷ nguyên số: Từ thách thức đến bứt phá (Kỳ 4)

Từ việc xác định đào tạo là khâu đột phá chiến lược, lồng ghép vào quy hoạch phát triển từng ngành, từng địa phương đến việc xây dựng mô hình tổ chức Đảng gắn với nhiệm vụ phát triển nhân lực; từ công tác giám sát chặt chẽ, chống bệnh hình thức đến việc kết hợp hài hòa giữa giáo dục đạo đức, tư tưởng và đào tạo chuyên môn - tất cả tạo nên một cơ chế đồng bộ, hướng tới mục tiêu chung: Xây dựng con người Việt Nam toàn diện cho kỷ nguyên số!
Vận dụng quan điểm khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Vận dụng quan điểm khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Quan điểm khách quan trong triết học Mác - Lênin không chỉ là yêu cầu nhận thức đúng về thế giới hiện thực, mà còn là nguyên tắc phương pháp luận định hướng hành động thực tiễn. Vận dụng quan điểm này trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ngân hàng giúp bảo đảm cho các chính sách, quy định pháp luật phản ánh trung thực thực tế khách quan, phù hợp với quy luật vận động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời nâng cao tính khoa học, tính khả thi và tính ổn định của hệ thống pháp luật ngân hàng.
Xem thêm
Phân loại xanh và định hướng dòng vốn xanh vào xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam

Phân loại xanh và định hướng dòng vốn xanh vào xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam

Quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đang trở thành một trong những vấn đề môi trường cấp bách nhất tại Việt Nam khi lượng rác phát sinh không ngừng tăng cùng tốc độ đô thị hóa nhanh. Những hạn chế cố hữu của chôn lấp, kỹ thuật xử lý... đặt ra yêu cầu phải chuyển dịch sang các công nghệ xử lý hiện đại như đốt rác phát điện, tái chế, thu hồi vật liệu theo hướng tuần hoàn.
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo -  Động lực thể chế thúc đẩy chuyển đổi số ngân hàng

Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - Động lực thể chế thúc đẩy chuyển đổi số ngân hàng

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành xu thế tất yếu của phát triển kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, việc Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chính thức có hiệu lực thi hành đã khẳng định vai trò nền tảng của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời mở đường cho quá trình chuyển đổi số toàn diện.
Tác động của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025 đến lĩnh vực tài chính - ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số

Tác động của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025 đến lĩnh vực tài chính - ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số

Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025 được thiết kế với nhiều đột phá về cấu trúc thuế suất, phạm vi đối tượng chịu thuế và chính sách ưu đãi, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đồng thời đảm bảo công bằng giữa các loại hình doanh nghiệp và hài hòa với các chuẩn mực thuế quốc tế.
Xu hướng phát triển ngân hàng xanh thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam

Xu hướng phát triển ngân hàng xanh thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu đang đối mặt với biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và yêu cầu tăng trưởng kinh tế bền vững, ngân hàng xanh (green banking) ngày càng trở thành một xu hướng quan trọng trong hệ thống tài chính - ngân hàng. Ngân hàng xanh không chỉ thực hiện mục tiêu tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh mà còn tập trung vào việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ và hoạt động thân thiện với môi trường, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Tăng cường an toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam thông qua cơ chế xếp hạng theo Thông tư số 21/2025/TT-NHNN

Tăng cường an toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam thông qua cơ chế xếp hạng theo Thông tư số 21/2025/TT-NHNN

Thông tư số 21/2025/TT-NHNN đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa khuôn khổ giám sát ngân hàng tại Việt Nam, thể hiện rõ định hướng chuyển đổi từ mô hình giám sát tuân thủ sang giám sát dựa trên rủi ro, phù hợp với thông lệ quốc tế và yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn sau tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Việc triển khai hiệu quả Thông tư số 21/2025/TT-NHNN không chỉ giúp nâng cao an toàn, ổn định và khả năng chống chịu của hệ thống tài chính - ngân hàng mà còn hỗ trợ thúc đẩy tính minh bạch, kỷ luật thị trường và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam trong môi trường hội nhập sâu rộng.
Thị trường hàng hóa: Thực tế và kỳ vọng

Thị trường hàng hóa: Thực tế và kỳ vọng

Ngày 29/10/2025, Ngân hàng Thế giới (WB) công bố báo cáo định kỳ hai lần trong một năm với phân tích cụ thể liên quan đến các nhóm hàng hóa chủ chốt, bao gồm năng lượng, nông nghiệp, kim loại.
Rủi ro mới nổi của ngân hàng trung ương

Rủi ro mới nổi của ngân hàng trung ương

Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu, các ngân hàng trung ương (NHTW) đang phải đối mặt với nhiều rủi ro phức tạp như lạm phát dai dẳng, áp lực tài khóa, rủi ro từ khu vực phi ngân hàng, an ninh mạng và biến đổi khí hậu. Sự tương tác giữa các rủi ro có thể làm suy giảm niềm tin công chúng và xóa nhòa ranh giới chính sách. Bài viết đề xuất những chiến lược cho các NHTW nhằm hạn chế rủi ro, bao gồm nâng cấp giám sát, tăng khả năng chống chịu hệ thống, đổi mới truyền thông và đẩy mạnh phối hợp liên ngành, xuyên biên giới.
Sự tái định hình của hệ thống tiền tệ toàn cầu: Từ chu kỳ suy yếu của đô la Mỹ đến tương lai “đa cực hạn chế”

Sự tái định hình của hệ thống tiền tệ toàn cầu: Từ chu kỳ suy yếu của đô la Mỹ đến tương lai “đa cực hạn chế”

Chu kỳ suy yếu hiện nay của USD không chỉ mang tính ngắn hạn do chênh lệch lãi suất hay thương mại, mà phản ánh những thay đổi mang tính cấu trúc của nền kinh tế và hệ thống tài chính toàn cầu. Trong bối cảnh thế giới nhiều khả năng bước vào giai đoạn “đa cực hạn chế”, chiến lược thích ứng của các nền kinh tế đang phát triển cần cân bằng giữa ổn định vĩ mô và đa dạng hóa hợp lý...
Hiện đại hóa dịch vụ giao dịch ngoại tệ tại Ngân hàng Ngoại thương Lào trong bối cảnh chuyển đổi số

Hiện đại hóa dịch vụ giao dịch ngoại tệ tại Ngân hàng Ngoại thương Lào trong bối cảnh chuyển đổi số

Bài viết phân tích quá trình hiện đại hóa dịch vụ giao dịch ngoại tệ tại Ngân hàng Ngoại thương Lào trong bối cảnh chuyển đổi số. Thông qua việc tích hợp sâu rộng dịch vụ ngoại tệ vào nền tảng số BCEL One và đa dạng hóa các sản phẩm, ngân hàng này đã đạt được những kết quả ấn tượng, được phản ánh rõ nét qua sự tăng trưởng vượt bậc về số lượng khách hàng, khối lượng giao dịch và doanh thu từ kênh số.
Nghiên cứu quy định về thư tín dụng trong Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ

Nghiên cứu quy định về thư tín dụng trong Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ

Trong bối cảnh hội nhập pháp lý quốc tế ngày càng sâu rộng và yêu cầu chuẩn hóa các chuẩn mực nghiệp vụ ngân hàng theo thông lệ quốc tế, việc ban hành Thông tư số 21/2024/TT-NHNN đã thể hiện nỗ lực đáng ghi nhận của NHNN trong việc xây dựng hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho nghiệp vụ thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng.

Thông tư số 27/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền

Thông tư số 25/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 17/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 quy định việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

Thông tư số 26/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 62/2024/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ, thủ tục chấp thuận việc tổ chức lại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 24/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 63/2024/TT-NHNN quy định về hồ sơ, thủ tục thu hồi Giấy phép và thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; hồ sơ, thủ tục thu hồi Giấy phép văn phòng đại diện tại Việt Nam của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng

Quyết định số 2977/QĐ-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 1158/QĐ-NHNN ngày 29 tháng 5 năm 2018 về tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 23/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 30/2019/TT-NHNN ngày 27 tháng 12 năm 2019 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về thực hiện dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 22/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2023/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về giám sát tiêu hủy tiền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 20/2025/TT-NHNN hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 19/2025/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 18/2025/TT-NHNN quy định về thu thập, khai thác, chia sẻ thông tin, báo cáo của Hệ thống thông tin phục vụ công tác giám sát hoạt động quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô