Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị

Thị trường tài chính
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu khám phá và giải thích chính xác mối quan hệ giữa tính cách nhà đầu tư và hiệu quả đầu tư cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2020 - 2022. Đặc biệt, nghiên cứu còn hướng đến trả lời câu hỏi: Liệu trong bối cảnh thị trường giảm điểm mạnh và liên tục thì tất cả các nhà đầu tư có phải đều chịu thua lỗ, hay vẫn tồn tại cơ hội sinh lợi dựa trên tính cách và nhận thức khác biệt của mỗi nhà đầu tư, ngay cả trong điều kiện thị trường đầy thách thức này?
aa

Tóm tắt: Mô hình Big Five dựa trên khoa học hành vi và xếp các hành vi đó vào một tính cách nhất định. Mô hình Big Five đo lường 5 yếu tố chính của tính cách con người, mỗi một yếu tố đại diện cho một nhóm tính cách khác nhau, bao gồm: Tính cởi mở (OPE); tính tận tâm (CON); tính hướng ngoại (EXT); tính dễ chịu (COM); tính nhạy cảm (SEN). Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của 5 tính cách của nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu. Phương pháp tiếp cận khảo sát đã được sử dụng, dựa trên dữ liệu hợp lệ từ 250 nhà đầu tư cá nhân, và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính bằng kỹ thuật bình phương tối thiểu (PLS-SEM). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, các tính cách như tính tận tâm, tính dễ chịu và tính nhạy cảm có tác động tích cực đến kết quả đầu tư (RES) của các nhà đầu tư cá nhân, thông qua các yếu tố trung gian là: Nhận thức rủi ro (RIS) và nhận thức sự không chắc chắn (UNC). Hơn nữa, nghiên cứu còn cho thấy hai tính cách còn lại trong mô hình Big Five, tính cởi mở sẵn sàng trải nghiệm và tính hướng ngoại, không ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Từ khóa: Big Five, nhận thức rủi ro, nhận thức sự không chắc chắn, hiệu quả đầu tư.

THE IMPACT OF INDIVIDUAL INVESTOR PERSONALITY ON STOCK INVESTMENT PERFORMANCE AND SOME RECOMMENDATIONS

Abstract: The Big-Five model is based on behavioral science and classifies these behaviors into certain personality types. The Big-Five model measures 5 main factors of human personality, each factor representing a different personality group, including: Openness, Conscientiousness, Extraversion, Agreeableness, and Neuroticism. This study aims to explore the influence of individual investors' five personality traits on stock investment performance. A survey approach was employed, based on valid responses from 250 individual investors, and structural equation modeling (SEM) with the Partial Least Squares (PLS) technique was used for analysis. The results indicate that personality traits such as conscientiousness, agreeableness, and neuroticism positively affect investment performance through the mediating factors of risk perception and uncertainty perception. Furthermore, the study also reveals that the other two traits in the Big-Five model, openness to experience and extraversion, do not have a significant impact on the investment performance of investors in the Vietnamese stock market.

Keywords: Big Five, risk perception, uncertainty perception, investment performance.

1. Đặt vấn đề

Giai đoạn từ năm 2020 đến đầu năm 2022, thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển mạnh mẽ, với VN-Index đạt đỉnh 1.530 điểm vào tháng 01/2022. Tuy nhiên, vào tháng 11/2022 thị trường gặp nhiều thách thức khi VN-Index giảm sâu xuống mức 874 điểm, tương đương giảm 42% (Trí, 2022). Tâm lý nhà đầu tư chịu ảnh hưởng từ yếu tố kinh tế vĩ mô và biến động chính sách, dẫn đến thanh khoản giảm và áp lực bán tháo gia tăng (Qi và cộng sự, 2021). Trong bối cảnh thị trường chứng khoán gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm cơ hội sinh lợi và đạt hiệu quả đầu tư từ cổ phiếu, câu hỏi đặt ra là: Liệu tính cách khác nhau của nhà đầu tư có ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu của họ? Nói cách khác, liệu có sự khác biệt giữa các đặc điểm tính cách và hiệu quả đầu tư cổ phiếu mà nhà đầu tư nhận được hay không? Đồng thời, các tính cách khác nhau có dẫn đến sự khác biệt trong nhận thức đầu tư hay không?

Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy có nhiều công trình nghiên cứu về quyết định, ý định đầu tư cũng như hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư trên các thị trường (Trí, 2022; Thọ và Quân, 2020; Saivasan và Lokhande, 2022). Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng và vai trò của các yếu tố trung gian về nhận thức, vẫn còn rất hạn chế. Những yếu tố này chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ để giải thích mối quan hệ tác động trong bối cảnh này. Do đó, việc xây dựng các khái niệm và làm rõ mối quan hệ giữa các khái niệm trong nghiên cứu về hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư chứng khoán, đặc biệt trong bối cảnh thị trường khó khăn, thông qua các yếu tố trung gian vẫn còn nhiều khoảng trống cần được nghiên cứu và làm sáng tỏ.

2. Tổng quan về cơ sở lý thuyết

2.1. Khung lý thuyết nghiên cứu

Mô hình 5 tính cách (Big Five Personality Traits) không được đề xuất bởi một tác giả cụ thể, mà là kết quả của quá trình nghiên cứu tích lũy từ nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực tâm lý học. Tuy nhiên, đóng góp quan trọng trong việc phát triển mô hình này có thể được ghi nhận từ Costa và McCrae (1992), những người đã đề xuất mô hình này để mô tả 5 đặc điểm tâm lý chính của mỗi người: Tính cởi mở sẵn sàng trải nghiệm, tính tận tâm, tính hướng ngoại, tính dễ chịu, và tính nhạy cảm. Trên toàn cầu, mô hình này đã được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực kinh doanh, giáo dục, đầu tư tài chính, cũng như trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lý và hành vi, quyết định của cá nhân (Komarraju và Karau, 2005; Akhtar và Das, 2020; Brooks và Williams, 2021).

Nhận thức của nhà đầu tư về rủi ro và sự không chắc chắn đã được xem như một yếu tố dự báo hành vi chấp nhận rủi ro trong đầu tư chứng khoán (Barber và Odean, 2013). Đã có nhiều lý thuyết khác nhau liên quan đến nhận thức rủi ro và nhận thức sự không chắc chắn trong lĩnh vực tài chính hành vi, một hiện tượng đã và đang tiếp tục phát triển (Simon, 1972; Wilde, 1998). Lý thuyết hợp lý bị giới hạn, được Simon (1972) đề xuất, nêu rằng tính hợp lý của cá nhân bị giới hạn bởi thông tin có sẵn. Những hạn chế quan trọng khác là khả năng nhận thức của cá nhân và thời gian phản ứng khi ra quyết định. Thêm vào đó, lý thuyết cân bằng rủi ro của Wilde (1998) cho rằng thái độ rủi ro không chỉ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế vĩ mô mà còn bởi các yếu tố xã hội, văn hóa và tâm lý. Một cá nhân có khả năng chấp nhận rủi ro cao hơn nếu họ cảm thấy an toàn hơn. Điều này có thể giải thích lý do tại sao một cá nhân đã lập kế hoạch đầy đủ cho các mục tiêu tài chính của mình sẽ sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao hơn trong các khoản đầu tư mà không cần phải bám sát các cột mốc tài chính của mình.

Nhận thức rủi ro và nhận thức sự không chắc chắn đều liên quan đến các kết quả không biết trước trong tương lai, nhưng trong khi rủi ro đề cập đến các tình huống mà người ra quyết định có thể dự đoán khả năng xảy ra, thì sự không chắc chắn lại là những tình huống mà họ không thể dự đoán được khả năng xảy ra. Nhận thức của nhà đầu tư về rủi ro và sự không chắc chắn đã được xem như một yếu tố dự báo hành vi chấp nhận rủi ro trong đầu tư chứng khoán (Barber và Odean, 2013). Theo Cadotte và cộng sự (1987), kết quả đầu tư đề cập đến lợi ích của việc đầu tư, và ở khía cạnh tài chính, đo lường kết quả đầu tư dựa trên sự kết hợp giữa mức độ hài lòng của nhà đầu tư với các quyết định đầu tư trước đó, tỉ lệ hoàn vốn đầu tư, so sánh giữa kết quả thực tế và kết quả mong đợi.

2.2. Mối quan hệ giữa đặc điểm 5 tính cách với nhận thức của nhà đầu tư

2.2.1. Tính cởi mở sẵn sàng trải nghiệm

Các cá nhân có tính cởi mở sẵn sàng trải nghiệm là người có trí tưởng tượng, sáng tạo, để ý và khôn khéo. Họ là những người suy nghĩ sâu sắc, có khuynh hướng chấp nhận rủi ro cao và ít có khả năng đa dạng hóa danh mục đầu tư (Durand và cộng sự, 2013). Do đó, có thể thấy rằng, nhà đầu tư có tính càng cởi mở, sẵn sàng trải nghiệm thì họ sẽ nhận thức sự rủi ro càng tốt và ngược lại. Do đó, tác giả đặt các giả thuyết:

H1a: Nhà đầu tư càng cởi mở sẵn sàng trải nghiệm thì nhận thức sự rủi ro càng cao;

H1b: Nhà đầu tư càng cởi mở sẵn sàng trải nghiệm thì nhận thức sự không chắc chắn càng cao.

2.2.2. Tính tận tâm

Người có tính tận tâm là người có kỷ luật, trách nhiệm, họ thường có cách tiếp cận theo mục tiêu và tích cực trong việc quản lý cuộc sống. Những người có tính tận tâm cao thường ít chấp nhận rủi ro vì họ tập trung vào kiểm soát, có tính kỷ luật bản thân. Theo Durand và cộng sự (2013) thì những cá nhân có tính tận tâm cao, họ thể hiện trách nhiệm trong đầu tư và thường bỏ qua các cơ hội gia tăng lợi ích, thông qua việc nắm giữ các khoản đầu tư thua lỗ quá lâu và bán các khoản đầu tư có lời quá sớm. Như vậy, có thể thấy rằng nhóm người thuộc tính cách này có khuynh hướng duy trì danh mục đầu tư trong thời gian dài và ít bị tác động bởi những thông tin cũng như ít nhạy cảm với xu hướng của thị trường. Do đó, tác giả đề xuất giả thuyết rằng:

H2a: Nhà đầu tư càng tận tâm thì nhận thức sự rủi ro càng cao;

H2b: Nhà đầu tư càng tận tâm thì nhận thức sự không chắc chắn càng cao.

2.2.3. Tính hướng ngoại

Nhà đầu tư có tính hướng ngoại là nhóm những người năng động, hòa đồng, nhiệt tình, thích phiêu lưu và quyết đoán. Những người có tính hướng ngoại cao có xu hướng mạo hiểm càng cao. Hơn nữa, những người hướng ngoại thường quá tự tin và ít phản ứng thái quá với thông tin tốt hoặc xấu (Durand và cộng sự, 2013). Do vậy, hai giả thuyết sau được đề xuất:

H3a: Nhà đầu tư càng hướng ngoại thì nhận thức rủi ro càng cao;

H3b: Nhà đầu tư càng hướng ngoại thì nhận thức sự không chắc chắn càng cao.

2.2.4. Tính dễ chịu

Những nhà đầu tư có tính dễ chịu thường là người lịch sự, thân thiện và đáng tin cậy. Họ cũng ngại rủi ro, không quá tự tin hay phản ứng thái quá ảnh hưởng đến hành vi trong đầu tư chứng khoán (Durand và cộng sự, 2013). Do vậy, tác giả đề nghị các giả thuyết:

H4a: Nhà đầu tư càng dễ chịu thì nhận thức rủi ro càng cao;

H4b: Nhà đầu tư càng dễ chịu thì nhận thức sự không chắc chắn càng cao.

2.2.5. Tính nhạy cảm

Nhà đầu tư có tính nhạy cảm thường hay lo lắng, giận dữ, sợ hãi và trầm cảm. Theo Durand và cộng sự (2013) những người nhạy cảm thường đầu tư danh mục rủi ro, vì thế họ thường chấp nhận rủi ro và nhận thức rủi ro thấp khi đầu tư cổ phiếu. Có thể tình hình chung của thị trường mà nhà đầu tư có tính cách này sẽ gia tăng hoặc thua lỗ theo xu hướng chung của thị trường. Do vậy, nghiên cứu đề xuất hai giả thuyết:

H5a: Nhà đầu tư càng nhạy cảm thì nhận thức rủi ro càng thấp;

H5b: Nhà đầu tư càng nhạy cảm thì nhận thức sự không chắc chắn càng thấp.

2.3. Nhận thức rủi ro, nhận thức sự không chắc chắn và kết quả đầu tư

Những nhà đầu tư cổ phiếu trên thị trường chứng khoán ngại rủi ro thường ít giao dịch đầu tư cổ phiếu trên thị trường hoặc họ sẽ giao dịch khi những nhận định của họ được xem là chắc chắn. Các nhà đầu tư quá tự tin thường đầu tư xu hướng có lợi nhuận thấp (Barber và Odean, 2013). Các nhà đầu tư nhận thấy các khoản đầu tư vào danh mục có rủi ro sẽ đem lại kết quả đầu tư cao. Những người nhận thấy rủi ro và sự không chắc chắn trong đầu tư cao thì họ có xu hướng chọn đầu tư cổ phiếu an toàn với sinh lãi tương đối thấp, ổn định và khuynh hướng an toàn nhất. Đồng thời, các nhà đầu tư có thiên hướng đầu tư theo thông tin mang tính mới, nhạy cảm thì sẽ có khả năng sẽ bỏ qua các phân tích rủi ro trong các quyết định đầu tư của họ. Với cơ sở này, tác giả xem xét các mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro, nhận thức sự không chắc chắn với kết quả đầu tư là mối quan hệ tác động tích cực lẫn nhau. Tác giả đề nghị các giả thuyết:

H6: Nhà đầu tư càng nhận thức rủi ro thì mức độ thỏa mãn với kết quả đầu tư càng cao;

H7: Nhà đầu tư càng nhận thức sự không chắc chắn thì mức độ thỏa mãn với kết quả đầu tư càng cao.

2.4. Mô hình nghiên cứu đề xuất

Dựa trên sự kết hợp của Mô hình Big Five và những luận điểm tổng quan về các lý thuyết, cũng như lược khảo các nghiên cứu trước đây đã trình bày, mô hình nghiên cứu tác giả đề xuất như trong Hình 1:

Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
Nguồn: Tác giả đề xuất

3. Phương pháp nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu tác giả đưa ra gồm 8 khái niệm và 12 giả thuyết được tác giả kế thừa các nghiên cứu trước đây để đưa ra thang đo lường cho các cấu trúc khái niệm này. Các mục hỏi được đo lường trên thang đo Likert 5 điểm với: 1 - Hoàn toàn không đồng ý, 3 - Trung lập và 5 - Hoàn toàn đồng ý. Cụ thể, kế thừa từ thang đo của Trí (2022), Thọ và Quân (2020).

Tác giả sử dụng thuật toán ước lượng PLS - SEM là một trình tự lặp của phương pháp bình phương tối thiểu nhỏ nhất (Wold và Bertholet, 1982) để phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính. Về cỡ mẫu trong phân tích PLS - SEM thì chưa có tiêu chuẩn về cỡ mẫu tối thiểu. Tuy nhiên, theo Hui và Wold (1982), cỡ mẫu càng cao thì càng tăng tính chính xác của ước lượng và với cỡ mẫu trên 200 thì đã đáp ứng yêu cầu.

Phương pháp tiếp cận khảo sát với 250 nhà đầu tư cá nhân bằng chọn mẫu phi xác xuất theo kỹ thuật thuận tiện thông qua hình thức gửi trực tuyến bằng các ứng dụng mạng xã hội và danh sách các nhà đầu tư được tác giả tìm kiếm thông qua hai phần mềm ứng dụng thông tin đầu tư là FireAnt và 24Hmoney đến các nhà đầu tư có thực hiện đầu tư, giao dịch cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Việt Nam trên 3 Sở giao dịch chứng khoán: HOSE, HNX và UpCom, trong thời gian 3 năm, từ năm 2020 đến hết năm 2022.

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Kiểm định mô hình đo lường

Bảng 1. Xây dựng Độ tin cậy và tính hợp lệ (Construct Reliability and Validity)

Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả

Kiểm định độ tin cậy của thang đo: Qua kiểm định Cronbach’s Alpha kết quả phân tích tại Bảng 1, cho thấy tất cả các nhân tố đều đạt độ tin cậy với hệ số Cronbach’s Alpha > 0,7. Ngoài ra, kết quả hệ số độ tin cậy Composite Reliability cho mỗi cấu trúc > 0,8. Đồng thời, hệ số tải của các biến đều > 0,7 (Bảng 2). Do đó, độ tin cậy thang đo của tất cả các biến phù hợp.

Bảng 2. Hệ số tải ngoài và tính đa cộng tuyến (Outer Loadings and Collinearity Statistics - VIF)

Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả

Đánh giá giá trị hội tụ của thang đo: Kết quả cho thấy, hệ số tổng phương sai trích (AVE) của các yếu tố đều > 0,5 đạt yêu cầu kiểm định. Như vậy, mỗi cấu trúc thể hiện giá trị hội tụ tốt.

Đánh giá giá trị phân biệt: Nghiên cứu được ước lượng qua việc sử dụng phương pháp chỉ số Heterotrait - Monotrait, kết quả chỉ ra rằng các chỉ số HTMT đối với tất cả các cặp biến nghiên cứu của yếu tố bậc 1 là < 0,9, thỏa mãn điều kiện chuẩn (Bảng 3).

Bảng 3. Phương pháp hệ số Heterotrait-Monotrait Ratio (HTMT)

Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả

Từ các kết quả phân tích, tác giả có thể kết luận rằng các thang đo được sử dụng trong mô hình nghiên cứu đã đạt được độ tin cậy và tính giá trị.

4.2. Kiểm định mô hình cấu trúc

Kiểm tra vấn đề về đa cộng tuyến: Kết quả phân tích Bảng 2 cho thấy kết quả của VIF đều dưới ngưỡng 5 và > 0,2 cho thấy các biến tiềm ẩn không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.

Kiểm định sự phù hợp của mô hình: Sự phù hợp của mô hình được kiểm định bằng giá trị R2. Kết quả phân tích cho thấy R2 hiệu chỉnh của mô hình nhận thức rủi ro, nhận thức sự không chắc chắn và kết quả đầu tư đạt tiêu chuẩn thống kê về độ phù hợp của mô hình, nên mô hình được giải thích vừa phải. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng chỉ số kích thước ảnh hưởng của Cohen (1988), được gọi là hệ số tác động f2, thể hiện trong Bảng 4. Ngoài ra, theo Hair và cộng sự (2017) chất lượng của mô hình còn được đo bằng chỉ số mức độ phù hợp GoF, giá trị GoF bằng 0,71 đã chỉ ra độ phù hợp của mô hình ảnh hưởng ở mức vừa phải; Các giá trị Q2 đều lớn hơn ngưỡng giá trị 0 với giá trị nhỏ nhất là 0,23 và SRMR = 0,09 < 0,1. Từ tất cả các kết quả trên, nghiên cứu này đã chứng minh rằng mô hình PLS-SEM được xác nhận mô hình phù hợp với dữ liệu thị trường.

4.3. Kiểm định mô hình nghiên cứu và giả thuyết

Bảng 4. Kết quả ước lượng qua mô hình PLS – SEM

Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả

Hình 2: Kết quả ước lượng mô hình cấu trúc tuyến tính (PLS-SEM)

Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả

5. Thảo luận kết quả nghiên cứu và hàm ý quản trị

5.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu

Các giả thuyết nghiên cứu đưa ra có 7 giả thuyết được chấp nhận gồm: H2a, H2b, H4a, H4b, H5a, H5b, H6 và H7 ở độ tin cậy 95%, các giả thuyết H1a, H1b, H3a và H3b đều bị bác bỏ, hay nói cách khác là chưa có bằng chứng cho thấy, tính cởi mở sẵn sàng trải nghiệm và tính hướng ngoại có tác động đến hiệu quả đầu tư thông qua nhận thức rủi ro và nhận thức không chắc chắn. Ngoài ra, kết quả cho thấy ở 3 đặc điểm tính cách như: Tính tận tâm, tính dễ chịu và tính nhạy cảm có ảnh hưởng đến kết quả đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ 2020 - 2022. Đồng thời, xem xét vai trò trung gian của nhận thức, thông qua sự rủi ro và sự không chắc chắc, kết quả nghiên cứu này có sự tương đồng với các nghiên cứu trước đó của: Trí (2022), Thọ và Quân (2020), Saivasan và Lokhande (2022). Đồng thời, kết quả nghiên cứu đã tìm thấy một sự thú vị đáng chú ý, đó là hai tính cách của nhà đầu tư gồm tính cởi mở sẵn sàng trải nghiệm và tính hướng ngoại được cho rằng không có ảnh hưởng đến kết quả đầu tư của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân tại thị trường Việt Nam.

Có thể giải thích rằng, nhà đầu tư có tính tận tâm luôn có khuynh hướng đầu tư rõ ràng, đáng tin cậy, có trách nhiệm, kỷ luật và định hướng mục tiêu cụ thể; nhà đầu tư có tính dễ chịu thường luôn đồng cảm và dễ hợp tác trong các quyết định của mình; nhà đầu tư có tính cách nhạy cảm thường dễ lo lắng, không ổn định cảm xúc và dễ bị căng thẳng dẫn đến quyết định an toàn và phù hợp với bối cảnh thị trường khó khăn, liên tục giảm điểm.

5.2. Hàm ý quản trị

Một thực tế có thể thấy, nhà đầu tư cá nhân chiếm phần đông trên thị trường đầu tư cổ phiếu, với mong muốn tìm kiếm lãi khi đầu tư. Tuy nhiên, nếu tham gia thị trường nhưng không nắm vững nguyên lý vận hành và xu hướng vận động của thị trường, cũng như không hiểu rõ đặc điểm tính cách của bản thân thì rất khó mang lại thành công trong đầu tư. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả khuyến nghị một số hàm ý quản trị nhằm giúp các nhà đầu tư cá nhân hiểu rõ hơn về đặc điểm của 5 tính cách và tối ưu hơn trong việc thực hiện giao dịch đầu tư như sau:

Thứ nhất, nhà đầu tư chứng khoán có tính tận tâm thường thận trọng, kỷ luật và có tổ chức, giúp họ quản lý rủi ro hiệu quả, xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn và duy trì sự kiên định trước biến động thị trường. Họ tập trung vào việc phân tích kỹ lưỡng, theo dõi sát sao các thông tin tài chính và tránh các cơ hội đầu tư mạo hiểm. Tuy nhiên, sự thận trọng quá mức đôi khi có thể khiến họ bỏ lỡ cơ hội tốt, do đó cần cân bằng giữa tính an toàn và khả năng chấp nhận rủi ro phù hợp.

Thứ hai, nhà đầu tư chứng khoán có tính dễ chịu thường thân thiện, đồng cảm và dễ hợp tác, giúp họ xây dựng mối quan hệ tốt với các đối tác, cố vấn và cộng đồng đầu tư. Tuy nhiên, họ có thể dễ bị ảnh hưởng bởi ý kiến của người khác hoặc khó đưa ra quyết định trái ngược với đám đông, dẫn đến việc đầu tư thiếu khách quan. Do đó, để thành công, họ cần kết hợp khả năng lắng nghe với tư duy độc lập, đồng thời đặt ra các nguyên tắc rõ ràng để tránh bị chi phối bởi cảm xúc hay áp lực xã hội. Khi thị trường có rất nhiều thông tin liên quan đầu tư, đặc biệt với nhiều luồng thông tin trái chiều nhau, khi đó nhà đầu tư có tính cách dễ chịu dễ bị thao túng với thông tin, nếu không quản trị tốt rủi ro có thể dễ dẫn đến tình trạng thua lỗ.

Thứ ba, nhà đầu tư chứng khoán có tính nhạy cảm dễ lo lắng và phản ứng mạnh với biến động thị trường, dẫn đến các quyết định đầu tư cảm tính, thiếu ổn định. Để quản trị tốt, họ cần xây dựng kế hoạch đầu tư rõ ràng, tuân thủ kỷ luật và giảm thiểu sự phụ thuộc vào cảm xúc nhất thời. Việc sử dụng cố vấn tài chính hoặc công cụ phân tích khách quan có thể giúp họ đưa ra quyết định sáng suốt hơn, đồng thời cần tập trung vào mục tiêu dài hạn thay vì lo lắng trước những biến động ngắn hạn.

Tài liệu tham khảo:

1. Akhtar, F. and Das, N. (2020). Investor personality and investment performance: from the perspective of psychological traits. Qualitative Research in Financial Markets, 12 (3), pages 333-352.

2. Barber, B. M., and Odean, T. (2013). The behavior of individual investors. In Handbook of the Economics of Finance, 2, pages 1533 - 1570.

3. Brooks, C., and Williams, L. (2021). The impact of personality traits on attitude to financial risk. Research in International Business and Finance, 58, 101501.

4. Cadotte, E. R., Woodruff, R. B., and Jenkins, R. L. (1987). Expectations and norms in models of consumer satisfaction. Journal of Marketing Research, pages 305 - 314.

5. Cohen, J. (1988). Statistical power analysis for the behavioral sciences, New York: Routledge Academic.

6. Costa Jr, P. T., and McCrae, R. R. (1992). Four ways five factors are basic. Personality and individual differences, 13(6), pages 653-665.

7. Durand, R. B., Newby, R., Peggs, L., & Siekierka, M. (2013). Personality. Journal of Behavioral Finance, 14(2), pages 116 - 133.

8. Hair, J.F., Hult, G.T M., Ringle, C.M. and Sarstedt, M. (2017). A primer on partial least squares structural equation modeling (2nd Ed.), Thousand Oaks, CA: Sage.

9. Hui, B. S., and Wold, H. (1982). Consistency and consistency at large of partial least squares estimates. Systems under indirect observation, part II, pages 119-130.

10. Komarraju, M., and Karau, S. J. (2005). The relationship between the big five personality traits and academic motivation. Personality and individual differences, 39(3), pages 557-567.

11. Nguyễn Minh Trí (2022). Nghiên cứu thực nghiệm hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư chứng khoán bằng mô hình 5 tính cách. Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ, Số 15 (600), trang 40-44.

12. Qi, XZ., Ning, Z. and Qin, M (2022). Economic policy uncertainty, investor sentiment and financial stability—an empirical study based on the time varying parameter-vector autoregression model. Journal of Economic Interaction and Coordination, 17, pages 779–799.

13. Saivasan, R., and Lokhande, M. (2022). Influence of risk propensity, behavioural biases and demographic factors on equity investors' risk perception. Asian Journal of Economics and Banking, 6(3), pages 373-403.

14. Simon, B. (1972). Quadratic form techniques and the Balslev-Combes theorem. Communications in Mathematical Physics, 27, pages 1-9.

15. Thọ, N. H., và Quân, T. H. M. (2020). Các đặc trưng tính cách cá nhân ảnh hưởng tới ý định đầu tư chứng khoán thông qua nhận thức rủi ro, nhận thức sự không chắc chắn và đánh giá kết quả đầu tư.

16. Wilde, O. (1998). The importance of being earnest and other plays. Oxford University Press, USA.

17. Wold, H. and Bertholet, J.L. (1982). The PLS (Partial Least Squares) approach to multidimensional contingency tables. METRON, 40(1-2), pages 303-326.

ThS. Nguyễn Minh Trí
Khoa Kinh tế - Quản trị, Trường Đại học Văn Hiến

Tin bài khác

Phát huy vai trò của tổ chức tài chính vi mô trong nâng cao kỹ năng quản lý tài chính cá nhân cho phụ nữ

Phát huy vai trò của tổ chức tài chính vi mô trong nâng cao kỹ năng quản lý tài chính cá nhân cho phụ nữ

Tại Việt Nam, tài chính vi mô (TCVM) đã phát triển mạnh mẽ trong hai thập kỷ qua với sự tham gia của nhiều tổ chức tài chính, cả chính thức lẫn phi chính thức đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tài chính cho phụ nữ nghèo và các nhóm yếu thế. Tuy nhiên, việc nâng cao kỹ năng quản lý tài chính cá nhân cho phụ nữ vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức. Điều này xuất phát từ các yếu tố như mức độ hiểu biết tài chính còn hạn chế, khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng số chưa cao và các rào cản văn hóa - xã hội khác.
Vai trò kinh tế học hành vi trong nâng cao hiểu biết tài chính

Vai trò kinh tế học hành vi trong nâng cao hiểu biết tài chính

Kinh tế học hành vi có thể được sử dụng để khuyến khích hành vi tài chính lành mạnh thông qua việc thay đổi điều kiện ra quyết định của con người - bao gồm các hình thức như “thúc đẩy nhẹ” đến hành vi mong muốn, quản lý và cải thiện môi trường thông tin...
Phát triển tài chính vi mô để đẩy lùi tín dụng đen

Phát triển tài chính vi mô để đẩy lùi tín dụng đen

Các tổ chức tài chính vi mô thường thiết kế sản phẩm tín dụng vi mô phù hợp với đặc thù từng địa phương, từ đó giảm bớt rào cản về thủ tục, tài sản thế chấp, và tạo điều kiện cho những người chưa từng tham gia hệ thống tài chính chính thức tiếp cận dịch vụ. Việc triển khai tín dụng vi mô còn gắn liền với mạng lưới hỗ trợ cộng đồng, tư vấn sử dụng vốn và đồng hành cùng người vay trong suốt quá trình kinh doanh, giúp giảm thiểu rủi ro vỡ nợ và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Xu hướng bất động sản Việt Nam cuối năm 2025: Cơ hội, thách thức và một số khuyến nghị

Xu hướng bất động sản Việt Nam cuối năm 2025: Cơ hội, thách thức và một số khuyến nghị

Thị trường bất động sản Việt Nam năm 2025 mang đến nhiều cơ hội đầu tư hấp dẫn, đặc biệt trong các phân khúc bất động sản xanh, nhà ở giá rẻ và bất động sản nghỉ dưỡng. Các khu vực hưởng lợi từ hạ tầng như tỉnh Đồng Nai và tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh) cũng là điểm đến tiềm năng cho các nhà đầu tư. Để thành công trong lĩnh vực này, các nhà đầu tư cần phải có kiến thức sâu rộng và chiến lược đầu tư thông minh. Việc nắm rõ các yếu tố pháp lý, tài chính, cạnh tranh, thị trường, cơ sở hạ tầng, công nghệ, và quản lý rủi ro sẽ giúp nhà đầu tư đạt được thành công và tối ưu hóa lợi nhuận trong lĩnh vực bất động sản. Điều này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của thị trường bất động sản Việt Nam.
Triển vọng kinh tế Việt Nam đến năm 2030: Động lực tăng trưởng từ phía cầu

Triển vọng kinh tế Việt Nam đến năm 2030: Động lực tăng trưởng từ phía cầu

Trên cơ sở bối cảnh kinh tế quốc tế và trong nước có thể tác động đến triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam cũng như mục tiêu hướng tới đảm bảo Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao đến năm 2045, bài viết đã xây dựng kịch bản tăng trưởng căn cứ vào Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 05/02/2025 của Chính phủ; Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 28/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ cũng như các định hướng, kế hoạch, chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030 nhằm hướng tới Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao đến năm 2045.
Chứng khoán hóa tài sản trí tuệ - Giải pháp mới trong thương mại hóa và huy động vốn

Chứng khoán hóa tài sản trí tuệ - Giải pháp mới trong thương mại hóa và huy động vốn

Xuất hiện tại thị trường Mỹ vào những năm cuối thế kỷ 20, chứng khoán hóa tài sản trí tuệ sớm thu hút được nhiều sự quan tâm của truyền thông và giới nghiên cứu, hứa hẹn sẽ bùng nổ như một phương án huy động vốn thay thế tiềm năng, mở khóa tính thanh khoản cho một tài sản vô hình còn nhiều dư địa để phát triển.
Cơ chế, chính sách quản lý thị trường vàng: Hướng đến thị trường hóa và phát triển bền vững

Cơ chế, chính sách quản lý thị trường vàng: Hướng đến thị trường hóa và phát triển bền vững

Cơ chế quản lý thị trường vàng trong thời gian qua đã bộc lộ một số điểm chưa thật sự phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, người dân vẫn duy trì xu hướng tích trữ vàng như một hình thức bảo toàn tài sản thụ động, thay vì chuyển hóa thành nguồn vốn đầu tư cho sản xuất, phát triển kinh tế, khiến một nguồn lực khổng lồ bị đóng băng trong xã hội, không được chuyển dịch vào đầu tư, sản xuất hay tiêu dùng. Điều này cho thấy cần có những điều chỉnh chính sách phù hợp hơn, nhằm thúc đẩy thị trường vàng phát triển theo hướng minh bạch, ổn định, qua đó góp phần khơi thông nguồn lực trong nền kinh tế.
Giải pháp "tích hợp mô hình D-SMART" dành cho doanh nghiệp ngành logistics tại Việt Nam và một số khuyến nghị

Giải pháp "tích hợp mô hình D-SMART" dành cho doanh nghiệp ngành logistics tại Việt Nam và một số khuyến nghị

Mô hình D-SMART là giải pháp toàn diện và phù hợp cho ngành logistics tại Việt Nam, tích hợp các bài học từ những quốc gia thành công. Mô hình không chỉ giúp doanh nghiệp tăng cường hiệu quả vận hành mà còn đóng góp vào sự phát triển logistics bền vững và hiện đại hóa ngành logistics tại Việt Nam. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại Việt Nam có vai trò quan trọng trong thúc đẩy chuyển đổi số ngành logistics, đặc biệt trong việc hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp. Một số giải pháp tài chính như khoản vay ưu đãi, tín dụng xanh và tài trợ dựa trên hiệu suất giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, giảm thiểu chi phí đầu tư và thúc đẩy phát triển bền vững. Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác công - tư và sự đổi mới trong dịch vụ tài chính, qua đó, tạo động lực mạnh mẽ cho ngành logistics Việt Nam hướng tới mục tiêu giảm chi phí logistics xuống còn 15 - 18% GDP vào năm 2030.
Xem thêm
Chính thức bãi bỏ quy định nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng

Chính thức bãi bỏ quy định nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng

Ngày 26/8/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 232/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, trong đó có một số quy định đáng chú ý như: Bãi bỏ quy định nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cấp hạn mức hàng năm và Giấy phép từng lần cho doanh nghiệp, ngân hàng thương mại để xuất khẩu, nhập khẩu vàng miếng; việc thanh toán mua, bán vàng có giá trị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng và tài khoản thanh toán của doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài…
Quản lý tín dụng bất động sản: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Quản lý tín dụng bất động sản: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Tại Việt Nam, tín dụng bất động sản không chỉ đóng vai trò hỗ trợ hoạt động đầu tư, xây dựng, mà còn là công cụ tài chính quan trọng giúp triển khai các mục tiêu phát triển nhà ở, cải thiện chất lượng sống và cấu trúc đô thị.
Huy động vốn cho vay đối tượng yếu thế: Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở hoàn thiện pháp luật cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam

Huy động vốn cho vay đối tượng yếu thế: Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở hoàn thiện pháp luật cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam

Huy động vốn để thực hiện hoạt động cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (NHCSXH) là một nhiệm vụ quan trọng, trọng tâm của tổ chức này. Đây là nguồn lực cơ bản, quyết định đến quy mô, hiệu quả và tính bền vững trong việc thực hiện các chương trình tín dụng chính sách của Chính phủ, nhằm hỗ trợ người nghèo, các đối tượng chính sách và hộ gia đình khó khăn có điều kiện phát triển sản xuất, cải thiện đời sống.
Khai thác giá trị kinh tế từ ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam trong kỷ nguyên số

Khai thác giá trị kinh tế từ ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam trong kỷ nguyên số

Trước những cơ hội rộng mở nhưng cũng đầy thách thức trong kỷ nguyên số, việc khai thác tối đa giá trị kinh tế từ ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam đòi hỏi những định hướng chiến lược và giải pháp đồng bộ. Các giải pháp này không chỉ nhằm tháo gỡ những rào cản về pháp lý, hạ tầng, công nghệ và nhân lực, mà còn hướng tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường và gia tăng giá trị sản phẩm âm nhạc.
Thủ tướng: Có chính sách ưu tiên, nguồn lực ưu tiên, tín dụng ưu tiên với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Thủ tướng: Có chính sách ưu tiên, nguồn lực ưu tiên, tín dụng ưu tiên với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Nhấn mạnh yêu cầu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, năm sau phải cao hơn năm trước, nhiệm kỳ sau cao hơn nhiệm kỳ trước, đặc biệt là tạo được phong trào, xu thế của người dân tự lực, tự cường thoát nghèo, làm giàu, Thủ tướng Phạm Minh Chính định hướng bố trí khoảng 160.000 tỉ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn tới.
Hệ thống tiền tệ quốc tế trong thế giới đang thay đổi

Hệ thống tiền tệ quốc tế trong thế giới đang thay đổi

Ngày 22/7/2025, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố Báo cáo về giám sát hệ thống tiền tệ quốc tế (IMS), đây là báo cáo định kỳ đầu tiên nhằm đánh giá xu hướng thay đổi liên quan đến hệ thống này. Theo đó, trong những thập niên gần đây, IMS vẫn ổn định về cơ bản và tập trung vào USD, mặc dù các động lượng đang thay đổi trên toàn cầu.
Rủi ro thanh khoản, hàm lượng vốn chủ sở hữu và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại khu vực Đông Nam Á

Rủi ro thanh khoản, hàm lượng vốn chủ sở hữu và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại khu vực Đông Nam Á

Bài nghiên cứu này sẽ tập trung vào nhóm 4 nước là Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Campuchia. Nhóm tác giả sử dụng phương pháp hồi quy ngưỡng và dữ liệu bảng để tìm ra một ngưỡng tổng tài sản của các ngân hàng tại 4 quốc gia này, đánh giá việc các ngân hàng có mức tổng tài sản trên và dưới ngưỡng này tạo ra khả năng sinh lời dương hay âm. Nghiên cứu dựa trên 2 yếu tố chính để đánh giá đó chính là tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và tỉ lệ các khoản vay so với các khoản tiền gửi.
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trước ngã rẽ quyết định về lãi suất

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trước ngã rẽ quyết định về lãi suất

Áp lực chính trị trong năm 2025 gia tăng đáng kể khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) được kêu gọi hạ lãi suất nhanh và mạnh nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh GDP có dấu hiệu chậm lại và thị trường lao động xuất hiện tín hiệu suy yếu.
Vị thế của đô la Mỹ trên thị trường tài chính toàn cầu

Vị thế của đô la Mỹ trên thị trường tài chính toàn cầu

Tháng 4/2025 chứng kiến cuộc khủng hoảng niềm tin nghiêm trọng đối với đồng USD, bất chấp lợi suất trái phiếu Mỹ tăng. Bài viết phân tích những bất thường trên thị trường tài chính toàn cầu sau các biện pháp thuế quan gây tranh cãi của Mỹ, đồng thời chỉ ra nguyên nhân từ sự thay đổi cấu trúc tài chính, phi toàn cầu hóa và biến động địa chính trị. Nếu xu hướng này tiếp diễn, USD có nguy cơ mất dần vị thế, đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính thế giới.
Kinh nghiệm quốc tế về áp dụng Hiệp ước vốn Basel III  trong hoạt động ngân hàng và khuyến nghị cho Việt Nam

Kinh nghiệm quốc tế về áp dụng Hiệp ước vốn Basel III trong hoạt động ngân hàng và khuyến nghị cho Việt Nam

Hiệp ước vốn Basel III là khuôn khổ nâng cao với sự sửa đổi và củng cố cả ba trụ cột của Basel II, đây là công cụ hỗ trợ đắc lực để nâng cao chất lượng quản trị rủi ro và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng. Bài viết phân tích tình hình áp dụng các Hiệp ước vốn Basel của hệ thống ngân hàng trên thế giới, cùng với kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam trong việc áp dụng Hiệp ước vốn Basel III, tác giả đưa ra một số đề xuất giải pháp chính sách cho hệ thống ngân hàng...

Thông tư số 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 10/2025/TT-NHNN quy định về tổ chức lại, thu hồi Giấy phép và thanh lý tài sản của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 07/2025/TT-NHNN Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2024/TT-NHNN ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 08/2025/TT-NHNN Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 43/2015/TT-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về tổ chức và hoạt động của phòng giao dịch bưu điện trực thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt, Thông tư số 29/2024/TT-NHNN ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về quỹ tín dụng nhân dân và Thông tư số 32/2024/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2024 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nướ

Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng

Nghị định số 26/2025/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/02/2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 59/2024/TT-NHNN ngày 31/12/2024 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2021/TT-NHNN ngày 30 tháng 7 của 2021 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua, bán kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác phát hành trong nước

Thông tư số 60/2024/TT-NHNN ngày 31/12/2024 Quy định về dịch vụ ngân quỹ cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 61/2024/TT-NHNN ngày 31/12/2024 Quy định về bảo lãnh ngân hàng

Thông tư số 62/2024/TT-NHNN ngày 31/12/2024 Quy định điều kiện, hồ sơ, thủ tục chấp thuận việc tổ chức lại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng