Xây dựng mô hình liên kết 5 “nhà” góp phần phát triển chuỗi giá trị nông sản chủ lực tỉnh Bến Tre

Hoạt động ngân hàng
Thời gian qua, tỉnh Bến Tre đã rất quan tâm xây dựng các chính sách phát triển và hoàn thiện chuỗi giá trị trên các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, qua đó nhằm tăng cường phát triển các thế mạnh kinh tế của tỉnh. Đồng hành với các chủ trương này, hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bến Tre đã tích cực tham gia, có nhiều chính sách ưu tiên về vốn cho sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết chuỗi và bước đầu hình thành một số chuỗi liên kết hoạt động hiệu quả.
aa

Thời gian qua, tỉnh Bến Tre đã quan tâm xây dựng các chính sách phát triển và hoàn thiện chuỗi giá trị trên các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, qua đó nhằm tăng cường phát triển các thế mạnh kinh tế của tỉnh. Đồng hành với các chủ trương này, hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bến Tre đã tích cực tham gia, có nhiều chính sách ưu tiên về vốn cho sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết chuỗi và bước đầu hình thành một số chuỗi liên kết hoạt động hiệu quả.

Sau 30 năm đổi mới, với các chính sách, cơ chế phù hợp đã thúc đẩy nông nghiệp tỉnh Bến Tre phát triển tương đối toàn diện với tốc độ nhanh hơn. Để phát huy thế mạnh của tỉnh, cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững, nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp, ngày 05/8/2016, Tỉnh ủy Bến Tre đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU về xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2025, với 8 sản phẩm chủ lực (dừa, bưởi da xanh, chôm chôm, nhãn, hoa kiểng, heo, bò và tôm biển). Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, Tỉnh ủy Bến Tre tiếp tục ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 29/01/2021 về xây dựng vùng sản xuất tập trung, gắn phát triển chuỗi giá trị nông sản chủ lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020 - 2025 và định hướng đến năm 2030.

Sau 7 năm thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TU và 2 năm triển khai Nghị quyết số 07-NQ/TU của Tỉnh ủy Bến Tre, đến nay, toàn tỉnh Bến Tre có khoảng 78.195 ha diện tích đất trồng dừa, sản lượng gần 700 triệu trái/năm; 25.105 ha cây ăn trái, sản lượng 310.015 tấn/năm; 45.946 ha nuôi trồng thủy sản, sản lượng 298.048 tấn. Tỉnh Bến Tre đã hình thành một số chuỗi giá trị nông sản chủ lực khá rõ nét là dừa, bưởi da xanh và chôm chôm. Trong đó, chuỗi dừa thể hiện đầy đủ đặc điểm của một chuỗi sản phẩm, có hiệu quả và tạo ra giá trị gia tăng khá lớn cho ngành dừa của tỉnh. Toàn tỉnh có 67 tổ hợp tác, 67 hợp tác xã tham gia vào chuỗi giá trị; 24.246,6 ha sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ, GAP và tương đương; 28 vùng trồng được gắn 59 mã số với diện tích 550,18 ha; 06 chỉ dẫn địa lí (dừa xiêm xanh, bưởi da xanh, sầu riêng, tôm càng xanh, xoài tứ quý và cua biển), 09 nhãn hiệu chứng nhận (bò Ba Tri, heo Mỏ Cày Nam, xoài Tứ quý Thạnh Phú, tôm biển, tôm càng xanh, cua biển, chôm chôm, gà nòi lai tàu), 31 nhãn hiệu tập thể.

Đồng hành với các chủ trương, chính sách của tỉnh, thời gian qua, hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bến Tre đã hướng dòng vốn tín dụng với nhiều giải pháp tích cực vào phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, góp phần xây dựng vùng sản xuất tập trung, ưu tiên cho các nhu cầu tăng trưởng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh. Theo đó, tổng số tiền cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn từ năm 2000 đến năm 2022 đạt 344.565 tỉ đồng, chiếm 84,5% tổng dư nợ cho vay. Dư nợ cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
đến cuối tháng 5/2023 đạt 41.900 tỉ đồng, chiếm 72% dư nợ; trong đó dư nợ cho vay liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị đạt gần 2.000 tỉ đồng (gồm 16 chuỗi liên kết ngang, liên kết dọc các sản phẩm: dừa, tôm, bò, lúa, gạo, nghêu, heo), qua đó góp phần tích cực trong xây dựng vùng sản xuất tập trung gắn chuỗi sản phẩm nông nghiệp, hỗ trợ tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị và thu nhập, cải thiện đời sống người dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh vẫn đang phải đối mặt với nhiều hạn chế, bất cập, đó là tiến độ xây dựng và hoàn thiện các chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực của tỉnh còn chậm. Một số sản phẩm (tôm biển, nhãn, lợn, bò và hoa cảnh) chỉ đạt mức độ chuỗi cung ứng ngắn, liên kết đầu vào, đầu ra chưa bền vững. Quy mô diện tích, sản lượng tham gia chuỗi các sản phẩm chủ lực còn nhỏ so với yêu cầu, chưa đạt mục tiêu đề ra. Nguyên nhân của những bất cập trên là kinh tế tập thể còn chậm phát triển, chưa đảm nhận tốt vai trò tổ chức lại sản xuất hàng hóa quy mô lớn, sản xuất sạch và liên kết tiêu thụ sản phẩm. Doanh nghiệp tham gia liên kết chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tỉnh nên hạn chế năng lực đầu tư và chế biến sâu; việc thu hút, kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực này còn gặp nhiều khó khăn… Mối liên kết tiêu thụ sản phẩm giữa nông dân và doanh nghiệp chưa bền vững.

Trước những hạn chế, thách thức nêu trên, để góp phần cùng các cấp, các ngành địa phương khắc phục tồn tại, NHNN Chi nhánh tỉnh Bến Tre đã ký kết Quy chế phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, chỉ đạo các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng trên địa bàn tham gia sâu vào mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Theo đó, ngân hàng làm cầu nối, soạn thảo hợp đồng liên kết các doanh nghiệp trong lĩnh vực chế biến nông sản; chọn doanh nghiệp có đủ kinh nghiệm, năng lực và có thị trường tiêu thụ tốt làm doanh nghiệp dẫn dắt ký kết thỏa thuận liên kết ngang với các doanh nghiệp liên quan trong cùng ngành hàng, xây dựng vùng nguyên liệu thông qua vận động các hộ nông dân tham gia vào chuỗi liên kết dọc với doanh nghiệp dẫn dắt.


Hội nghị Sơ kết 01 năm thực hiện Quy chế phối hợp giữa NHNN Chi nhánh tỉnh Bến Tre và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre


Mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị có sự tham gia của ngân hàng bắt đầu được hình thành, các bên gắn kết chặt chẽ bằng hợp đồng kinh tế với lợi ích hài hòa, đồng thời các bên tham gia đều phải mở tài khoản tại ngân hàng. Ngân hàng cho doanh nghiệp dẫn dắt và các doanh nghiệp trong chuỗi liên kết ngang vay vốn, các doanh nghiệp ứng vốn cho nông dân, cung ứng vật tư, hỗ trợ kĩ thuật sản xuất hữu cơ, sản xuất sạch, năng suất chất lượng nông sản tăng cao, doanh nghiệp cam kết bao tiêu nông sản, nông dân bán được sản phẩm trực tiếp cho doanh nghiệp mà không qua thương lái, giá cả nông sản ổn định và cao hơn so với hộ sản xuất không tham gia chuỗi liên kết. Đồng thời, ngân hàng có thể cấp hạn mức tín dụng dưới hình thức cho vay thấu chi qua tài khoản để nông dân có thể giải quyết vấn đề vốn theo thời vụ; ngân hàng kiểm soát được dòng tiền trong chuỗi khép kín, đánh giá được tình hình tài chính và hiệu quả sử dụng vốn, từ đó có thể xem xét, tăng cường cho vay không có tài sản bảo đảm đối với các bên tham gia chuỗi theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Thông qua mô hình sản xuất của chuỗi liên kết này, nhiều hộ dân thấy được lợi ích kinh tế, dần dần quy mô và số lượng hộ nông dân tham gia chuỗi phát triển ngày càng lớn, theo nhu cầu và điều kiện thực tế đòi hỏi hình thành hợp tác xã dịch vụ, làm đầu mối liên kết giữa các hộ dân và doanh nghiệp trong chuỗi giá trị, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ trung gian như vật tư, phân bón, cây và con giống, đào tạo, hướng dẫn kĩ thuật sản xuất cho nông dân thông qua các hợp tác xã dịch vụ. Hợp tác xã thu gom, sơ chế nông sản và bán cho doanh nghiệp; qua đó, doanh nghiệp và nông dân cũng giảm được chi phí vận chuyển, sơ chế ban đầu.

Kết quả đánh giá áp dụng mô hình liên kết chuỗi khép kín có sự tham gia của ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong thời gian qua cho thấy, bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần phát triển vùng sản xuất tập trung, hoàn thiện một số chuỗi giá trị nông sản chủ lực của tỉnh, đồng thời hỗ trợ phát triển một số doanh nghiệp dẫn dắt trong lĩnh vực chế biến, nhất là các doanh nghiệp chế biến dừa, xuất khẩu trái cây trên địa bàn tỉnh, mô hình này cũng tạo điều kiện thúc đẩy thành lập các hợp tác xã theo yêu cầu thực tế, hoạt động hiệu quả, thực chất.



Lễ ký kết chuỗi liên kết ngang ngành dừa giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Bến Tre, Công ty Cổ phần đầu tư dừa Bến Tre và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Minh Tâm


Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Chi nhánh tỉnh Bến Tre ký thỏa thuận hợp tác toàn diện với Công ty Chế biến dừa Lương Quới, doanh nghiệp dẫn dắt hình thành chuỗi dừa


Từ kinh nghiệm thực tiễn đã đạt được, để tiếp tục phát huy vai trò tích cực của hệ thống ngân hàng trong việc đẩy mạnh xây dựng vùng sản xuất tập trung, gắn phát triển chuỗi giá trị nông sản chủ lực tỉnh Bến Tre theo tinh thần Nghị quyết số 07-NQ/TU của Tỉnh ủy Bến Tre đề ra, trong thời gian tới, NHNN Chi nhánh tỉnh Bến Tre đã đề ra giải pháp và đề xuất một số nội dung trọng tâm cần thực hiện như sau:

Thứ nhất, hệ thống ngân hàng tỉnh Bến Tre giữ vai trò kết nối, dẫn dắt tiếp tục xây dựng mô hình liên kết mới nhằm mở rộng vùng sản xuất tập trung gắn với hoàn thiện chuỗi giá trị nông sản chủ lực, đó là liên kết 5 “nhà”: Nhà nước - doanh nghiệp - nhà nông - nhà khoa học - ngân hàng. Trong đó, Nhà nước là nhân tố quan trọng nhất, Nhà nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi để 4 “nhà” còn lại liên kết tốt được với nhau, tạo cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển liên kết. Doanh nghiệp dẫn dắt giữ vai trò liên kết ngang với các doanh nghiệp liên quan trong chuỗi liên kết, có thể ứng vốn, cung ứng vật tư, phối hợp với nhà khoa học nghiên cứu kĩ thuật, con giống, phương pháp sản xuất cho nhà nông, thu mua nông sản sơ chế từ hợp tác xã hoặc thu mua nông sản trực tiếp từ nhà nông, hợp tác xã cung cấp dịch vụ, trang thiết bị, vật tư đầu vào cho sản xuất, thu mua, sơ chế sản phẩm nông sản; nhà khoa học phổ biến kĩ thuật chăm sóc, nuôi trồng, xử lí các vấn đề môi trường. Ngân hàng giữ vai trò kết nối, liên kết chặt chẽ giữa nhà nông - nhà khoa học và doanh nghiệp, cho vay doanh nghiệp đầu mối, các thành viên tham gia chuỗi và cung cấp các dịch vụ thanh toán để xây dựng chuỗi khép kín, kiểm tra, kiểm soát dòng tiền bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn và lợi ích hài hòa giữa các bên tham gia chuỗi, qua đó tăng cường cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, áp dụng hiệu quả các chính sách ưu đãi về tín dụng, dịch vụ thanh toán cho các thành viên chuỗi giá trị.

Thứ hai, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre cần có cơ chế, tạo điều kiện để ngân hàng tham gia xây dựng mô hình liên kết 5 “nhà”, trong đó quan tâm phát triển doanh nghiệp dẫn dắt trong lĩnh vực chế biến nông sản và thu hút đầu tư của các doanh nghiệp chế biến, đủ tiềm lực, đủ mạnh và có thị trường tiêu thụ ổn định để dẫn dắt hình thành vùng sản xuất tập trung gắn với phát triển sản xuất theo mô hình liên kết trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Thứ ba, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre cần chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh phối hợp đồng bộ với NHNN Chi nhánh tỉnh để xây dựng mô hình liên kết mới, trong đó giao cho NHNN Chi nhánh tỉnh làm đầu mối, gắn kết các tổ chức tín dụng trên địa bàn đồng thuận hưởng ứng chủ trương của tỉnh, quyết liệt và chủ động tham gia xây dựng, hoàn thiện mô hình sản xuất nông nghiệp theo chuỗi liên kết. Tạo điều kiện để ngân hàng vận động khách hàng vay, doanh nghiệp dẫn dắt ký kết thỏa thuận hợp tác ngang, dọc giữa khách hàng - doanh nghiệp, hợp tác xã và ngân hàng.

Thứ tư, các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh cần thay đổi tư duy, phương thức cho vay theo truyền thống, chuyển đổi mạnh mẽ cho vay phục vụ sản xuất theo mô hình liên kết chuỗi, phát huy lợi thế về nguồn lực tài chính, hình thành các sản phẩm tín dụng ưu đãi, khuyến mại các dịch vụ thanh toán để thu hút khách hàng tham gia, giữ vai trò đầu tàu, chủ động trong xây dựng hợp đồng, thỏa thuận hợp tác, liên kết 5 “nhà” chặt chẽ, qua đó cho vay, cung ứng dịch vụ ngân hàng, hướng tới sự phát triển an toàn, bền vững, bảo đảm chất lượng và hiệu quả tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển doanh nghiệp chế biến, hợp tác xã nông nghiệp thông qua mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.

Thứ năm, các ngành, các cấp đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền để người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã nâng cao nhận thức về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong xây dựng vùng sản xuất tập trung gắn với phát triển chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực, lợi ích và tính tất yếu của việc chuyển đổi sang mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa, quy mô lớn, hiện đại và sạch gắn với xây dựng chuỗi giá trị nông nghiệp; các chương trình, sản phẩm tín dụng ưu đãi đối với sản xuất theo mô hình liên kết chuỗi.

Thứ sáu, Ủy ban nhân dân huyện, thành phố, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị ở địa phương cần tăng cường trách nhiệm, vận động người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh, phối hợp với các ngành các cấp, xây dựng mô hình điểm và nhân rộng mô hình liên kết 5 “nhà” trong toàn tỉnh.

Tài liệu tham khảo:

1. Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ.
3. Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 05/8/2016 của Tỉnh ủy Bến Tre về xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2025.
4. Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 29/01/2021 của Tỉnh ủy Bến Tre về xây dựng vùng sản xuất tập trung, gắn phát triển chuỗi giá trị nông sản chủ lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020 - 2025 và định hướng đến năm 2030.
5. Báo cáo Sơ kết nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025.

ThS. Lê Công Thành (Giám đốc NHNN Chi nhánh tỉnh Bến Tre)
ThS. Bùi Thị Thúy Hằng (Phó Giám đốc NHNN Chi nhánh tỉnh Bến Tre)
https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Bài viết phân tích yêu cầu về khả năng thanh toán - điều kiện cốt lõi trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp (Emergency Liquidity Assistance - ELA) của ngân hàng trung ương (NHTW), thông qua việc so sánh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xử lý các cuộc khủng hoảng ngân hàng gần đây, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện khuôn khổ hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp tại Việt Nam theo hướng linh hoạt, dựa trên đánh giá triển vọng và tăng cường phối hợp chính sách giữa các cơ quan liên quan.
Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành ngày càng được áp dụng rộng rãi, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng lộ trình áp dụng IFRS phù hợp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhằm nâng cao minh bạch tài chính, năng lực quản trị và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ vai trò của các yếu tố công nghệ, tâm lý và tài chính cá nhân trong việc hình thành hành vi chấp nhận dịch vụ của khách hàng.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Xem thêm
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng