Sử dụng mô hình nhị thức để định giá trái phiếu có kèm các quyền chọn

Thị trường tài chính
Ngày 28/02/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 242/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025”, theo đó vạch rõ 8 giải pháp cơ cấu lại thị trường chứng khoán, trong đó đa dạng hóa các sản phẩm trái phiếu, phát hành các sản phẩm trái phiếu mới (trái phiếu có lãi suất thả nổi, trái phiếu có gốc, lãi được giao dịch tách biệt, trái phiếu gắn với chỉ số lạm phát, cơ cấu lại danh mục nợ trái phiếu Chính phủ thông qua các nghiệp vụ mua lại, hoán đổi…) là một trong các giải pháp quan trọng.
aa

1. Giới thiệu

Ngày 28/02/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 242/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025”, theo đó vạch rõ 8 giải pháp cơ cấu lại thị trường chứng khoán, trong đó đa dạng hóa các sản phẩm trái phiếu, phát hành các sản phẩm trái phiếu mới (trái phiếu có lãi suất thả nổi, trái phiếu có gốc, lãi được giao dịch tách biệt, trái phiếu gắn với chỉ số lạm phát, cơ cấu lại danh mục nợ trái phiếu Chính phủ thông qua các nghiệp vụ mua lại, hoán đổi…) là một trong các giải pháp quan trọng.

Với vai trò ngày càng gia tăng của các ngân hàng thương mại trên thị trường vốn nói chung và thị trường trái phiếu nói riêng, việc nghiên cứu mô hình nhị thức để định giá các trái phiếu có kèm các quyền chọn mua, quyền chọn bán… nhằm quản trị rủi ro lãi suất, tận dụng lợi thế khi đối mặt với sự biến động của lãi suất cũng là một nhiệm vụ quan trọng của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn hiện nay.

Trong bài nghiên cứu “Định giá trái phiếu bằng mô hình nhị thức” đăng trên Tạp chí Ngân hàng số 01, tháng 01/2022, khung phân tích trái phiếu có quyền chọn, các kỹ thuật xây dựng và hiệu chỉnh cây lãi suất nhị thức đã được trình bày khá chi tiết. Như phần thứ hai của bài nghiên cứu trên, bài viết này tiếp tục bàn về các kỹ thuật định giá trái phiếu không có quyền chọn1 (trái phiếu thông thường), định giá trái phiếu có quyền chọn mua, định giá trái phiếu có quyền chọn bán bằng cây lãi suất nhị thức2.

2. Định giá trái phiếu không có quyền chọn bằng cây lãi suất

Để minh họa cách sử dụng cây lãi suất nhị thức, xét một trái phiếu công ty giản đơn (không có quyền chọn), còn 4 năm nữa mới đáo hạn, trả lãi định kỳ 6,5%/năm.

Giả định rằng một nhà phân tích thu thập được số liệu về lợi suất như sau:


Từ các số liệu này, nhà phân tích xác định lãi suất giao ngay và lãi suất kỳ hạn 1 năm như sau:

Với dữ liệu của lãi suất giao ngay, từ phương trình3:

Có thể tính được lãi suất kỳ hạn 1 năm như sau:

Giá trái phiếu này có thể tính bằng một trong ba cách, cả ba cách đều cho ra cùng một kết quả.


Cách thứ nhất: Chiết khấu các dòng tiền của trái phiếu theo lãi suất giao ngay


Cách thứ hai: Chiết khấu các dòng tiền của trái phiếu theo lãi suất kỳ hạn 1 năm:

Cách thứ ba: Sử dụng cây lãi suất nhị thức:

Bảng 1: Cây lãi suất định giá trái phiếu không quyền chọn,

đáo hạn sau 4 năm, trả lãi định kỳ 6,5%/năm


Bảng 1 trình bày cây lãi suất nhị thức hợp lý để định giá trái phiếu không quyền chọn, trả lãi định kỳ 6,5%.

Bảng 2: Định giá trái phiếu không quyền chọn, đáo hạn sau 4 năm,

trả lãi định kỳ 6,5%/năm (độ biến động giả định 10%)


Bảng 2 hiển thị các giá trị khác nhau trong quá trình chiết khấu bằng cách sử dụng mắt lưới lãi suất nhị thức trong Bảng 1. Gốc của cây lãi suất nhị thức cho thấy giá trị trái phiếu là 120,649. Đây cũng chính là giá trị được tìm thấy bằng cách chiết khấu dòng tiền theo lãi suất giao ngay hoặc lãi suất kỳ hạn một năm.

Kết quả nhất quán giữa 3 mô hình định giá chứng tỏ rằng, bên cạnh mô hình định giá chuẩn cho trái phiếu không có quyền chọn, mô hình định giá bằng cây lãi suất nhị thức là mô hình đáng tin cậy.

3. Định giá trái phiếu có quyền chọn mua (có thể mua lại)

Về cơ bản, việc sử dụng cây lãi suất nhị phân để định giá trái phiếu có kèm quyền chọn được thực hiện giống như trong trường hợp trái phiếu không có quyền chọn. Khác biệt duy nhất ở đây là định giá trái phiếu có kèm quyền chọn đòi hỏi phải điều chỉnh dòng tiền trên cây cho phù hợp với cấu trúc của quyền chọn. Quyết định mua lại hoặc bán lại phải được thực hiện tại các nút trên cây nơi quyền chọn đủ điều kiện để thực hiện.

Trong trường hợp quyền chọn mua, quyết định thực hiện quyền chọn mua được thực hiện bởi nhà phát hành. Là người đi vay tiền, nhà phát hành sẽ thực hiện quyền chọn mua khi giá trị hiện tại (Present Value - PV) của dòng tiền trong tương lai của trái phiếu lớn hơn giá mua lại (giá thực hiện) vì để nó lại đắt hơn nhiều so với chuộc lại (mua lại) nó.

Bảng 3: Định giá trái phiếu có thể mua lại, đáo hạn sau 4 năm, trả lãi định kỳ 6,5%/năm,

có thể mua lại sau năm đầu tiên ở giá 100 nghìn đồng (độ biến động giả định là 10%)


Ví dụ, xét một trái phiếu trả lãi định kỳ hằng năm 6,5% với thời gian đáo hạn còn lại 4 năm, có thể được mua lại trong 1 năm ở mức giá 100 nghìn đồng. Nhà phân tích sẽ định giá trái phiếu này bằng cách sử dụng cây nhị thức ở Bảng 1. Bảng 3 cho thấy các giá trị tại mỗi nút của cây nhị thức. Quy trình chiết khấu tương tự như quy trình được trình bày trong Bảng 1.

Sau khi thực hiện chiết khấu dòng tiền tại các nút, bước tiếp theo là xác định các quyền chọn không đủ điều kiện để thực hiện mua lại. Để ý rằng, trong năm thứ hai và năm thứ ba, PV tại tất cả các nút đều không nhỏ hơn giá thực hiện (giá mua lại) nên không có quyền chọn nào được thực hiện (xem Bảng 4).

Bảng 4: Định vị các nút có quyền chọn không được thực hiện

trong năm thứ hai và năm thứ ba cho trái phiếu có thể mua lại


Do tất cả các PV trong Bảng 3 đều lớn hơn giá thực hiện (giá mua lại) nên quyền chọn sẽ được thực hiện (xem Bảng 5).

Bảng 5: Định vị các nút có quyền chọn sẽ được thực hiện

trong năm thứ hai và năm thứ ba cho trái phiếu có thể mua lại


Sau khi đã định vị được giá trị của các nút hội đủ điều kiện mua lại, bước kế tiếp là thực hiện thay đổi dòng tiền tại mỗi nút để xác định giá trị của trái phiếu có thể mua lại.

Cần lưu ý phương pháp thay đổi dòng tiền trong quá trình định giá trái phiếu có thể mua lại. Trong năm thứ ba, ví dụ, tại nút NHHL, quá trình định giá lặp lại tạo ra PV là 104,733. Với quy tắc mua lại, trái phiếu sẽ được nhà phát hành mua lại. Do đó, 100 sẽ được hiển thị là giá trị thứ hai (giá trị thay thế) tại nút và chính giá trị này sau đó được sử dụng khi quá trình định giá tiếp tục. Tiếp tục thay thế giá trị các nút tại các nút đủ điều kiện mua lại (NH, NL của năm thứ nhất, NHL của năm thứ hai) vào bảng tính MS Excel, giá trị cuối cùng của trái phiếu có thể mua lại này là 120,649 nghìn đồng (Bảng 5).


Theo công thức (2):

PCB=PS-PC

Giá trị của quyền chọn mua được tính là sự chênh lệch giữa giá trị của trái phiếu không có quyền chọn và giá trị của trái phiếu có quyền chọn mua lại. Với giá trị của trái phiếu không có quyền chọn là 120,649 (PS), giá trị của trái phiếu có quyền chọn mua lại là 105,960 (PCB), giá trị của quyền chọn mua (PC) là 14,689 (= 120,649 - 105,960).

4. Định giá trái phiếu có quyền chọn bán (có thể bán lại)

Trong trường hợp trái phiếu có thể bán lại, quyết định thực hiện quyền chọn bán được thực hiện bởi các nhà đầu tư. Là người đi vay tiền, nhà đầu tư sẽ thực hiện quyền chọn bán khi giá trị của dòng tiền trong tương lai của trái phiếu thấp hơn giá bán (giá thực hiện).

Tương tự với Bảng 3, Bảng 6 chỉ ra cây nhị thức có các giá trị ở mỗi nút mà nhà đầu tư có thực hiện quyền chọn bán hay không. Để ý rằng, trong năm thứ hai và năm thứ ba, PV tại các nút NHH, NHHH và NHHL đều không nhỏ hơn giá thực hiện (giá mua lại) nên không có quyền chọn bán nào sẽ được nhà đầu tư thực hiện.

Bảng 7 cho thấy, không có nút nào có giá trị thấp hơn giá thực hiện để nhà đầu tư phải thực hiện quyền chọn. Tuy nhiên, trong các trường hợp khác, khi giá trị tại một nút nhỏ hơn giá thực hiện và nhà đầu tư thực hiện quyền chọn bán, giá trị của trái phiếu tại các nút đủ điều kiện bán lại phải được thay đổi để phản ánh giá trị cao hơn nếu quyền chọn được thực hiện. Thủ tục thay thế dòng tiền được thực hiện tương tự Bảng 6.

Bảng 6: Định giá các trái phiếu có thể bán lại, đáo hạn sau 4 năm,

lãi suất định kỳ 6,5%/năm, có thể bán lại sau năm đầu tiên

ở mức giá 100 nghìn đồng (độ biến động giả định 10%)


Giá trị cuối cùng của trái phiếu có thể bán lại này là 120,649 nghìn đồng (Bảng 7).

Bảng 7: Định giá trái phiếu có quyền chọn bán, đáo hạn sau 4 năm,

trả lãi định kỳ 6,5%/năm và có thể bán lại sau năm đầu tiên

ở mức giá 100 nghìn đồng (độ biến động giả định 10%)


Từ công thức (3):


PPB=PS+PP

Với PS (trái phiếu không có quyền chọn) là 120,649, PPB (trái phiếu có thể bán lại) là 120,649), giá trị của quyền chọn bán (PP) là được mua bởi nhà đầu tư là 0.

5. Kết luận

Sự phức tạp trong việc xây dựng mô hình định giá trái phiếu có các quyền chọn và các chứng khoán phái sinh thuộc loại quyền chọn4 là dòng tiền sẽ phụ thuộc vào lãi suất trong tương lai. Để nắm bắt sự biến động ngẫu nhiên của lãi suất nhằm quản trị rủi ro lãi suất, trong thực tế, nhiều mô hình khác nhau đã được xây dựng và áp dụng. Một trong các mô hình đơn giản nhất trong các mô hình nói trên là mô hình mắc lưới lãi suất5. Với giả định chỉ có thể có hai mức lãi suất trong kỳ tiếp theo với mức lãi suất hiện tại, mô hình mắc lưới lãi suất được gọi là mô hình nhị thức6. Tuy chỉ khảo sát hai khả năng tăng hoặc giảm trong tương lai của lãi suất khi dịch chuyển từ một thời kỳ sang thời kỳ kế tiếp, phương pháp luận mắc lưới của mô hình nhị thức lại có nhiều ứng dụng trong thực tiễn vì không những nó được sử dụng để định giá trái phiếu có các quyền chọn mà nó còn có thể được sử dụng để định giá chứng khoán có lãi suất thả nổi với các chứng khoán phái sinh thuộc loại quyền chọn, quyền chọn trái phiếu7, quyền chọn lãi suất trần (cho trái phiếu có lãi suất thả nổi)8, quyền chọn lãi suất sàn (cho trái phiếu có lãi suất thả nổi)9, quyền chọn các hợp đồng hoán đổi10 và hoán đổi kỳ hạn11.

Với nhiều ứng dụng trong thực tiễn như đã đề cập ở trên, việc tìm hiểu và nắm vững phương pháp luận cùng với các kỹ thuật định giá trái phiếu theo mô hình nhị thức là điều kiện cần để các nhà đầu tư, các nhà phát hành, các ngân hàng thương mại thích nghi nhanh với sự phát triển sâu, rộng của thị trường một khi Chính phủ triển khai mạnh mẽ, đồng bộ các giải pháp cơ cấu toàn diện lại thị trường trái phiếu vốn tồn tại nhiều bất cập trong thời gian qua ở nước ta như đa dạng hóa các sản phẩm trái phiếu, phát hành các sản phẩm trái phiếu có lãi suất thả nổi, trái phiếu có gốc và lãi được giao dịch tách biệt, trái phiếu gắn với chỉ số lạm phát, các trái phiếu phái sinh thuộc loại quyền chọn, sử dụng các hợp đồng quyền chọn, các hợp đồng hoán đổi, các nghiệp vụ mua lại để cơ cấu lại danh mục nợ trái phiếu Chính phủ trong thời gian tới.


1 Option-free bond
2 Binomial interest-rate tree
3 Xem Bodie, Z., Kane, A., Marcus, A. (2014, trang 493)
4 Option-type derivatives
5 Interest-rate lattice
6 Binomial model
7 Options on bonds
8 Caps. Quyền chọn này tạo lợi thế cho nhà phát hành trái phiếu nếu lãi suất tăng.
9 Floors. Quyền chọn này tạo lợi thế cho nhà đầu tư trái phiếu nếu lãi suất giảm.
10 Swaptions
11 Forward-start swaps


Tài liệu tham khảo:

1. Adams, J. F., & Smith, D. J. (2019). Fixed income analysis (4th ed). New Jersey: Wiley.

2. CFA Institute (2017). CFA Program curriculum, Level 1, Volume 5. New Jersey: Wiley.

3. Choudhry, M., Moskovie, D., & Wong, M. (2014). Fixed income markets (2nd ed). Hoboken, New Jersey: Wiley.

4. Bodie, Z., Kane, A., & Marcus, A. (2014). Investments (10th ed). New York: McGraw-Hill.


TS. Hồ Công Hưởng
Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Phát triển sàn giao dịch các-bon: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho hệ thống ngân hàng Việt Nam

Phát triển sàn giao dịch các-bon: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho hệ thống ngân hàng Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, làm rõ cơ hội và thách thức trong quá trình hình thành, vận hành sàn giao dịch các-bon tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng trong tham gia thanh toán, quản lý dòng tiền, hỗ trợ doanh nghiệp và phát triển các sản phẩm tài chính gắn với các-bon.
Phát triển thị trường công cụ phái sinh: Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và đề xuất cho Việt Nam

Phát triển thị trường công cụ phái sinh: Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và đề xuất cho Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế ngày càng sâu rộng, thị trường công cụ phái sinh đang từng bước khẳng định vai trò then chốt trong việc quản trị rủi ro, đồng thời nâng cao hiệu quả phân bổ dòng vốn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững.
Huy động nguồn lực tư nhân cho đầu tư xanh: Thực tiễn triển khai và hàm ý chính sách

Huy động nguồn lực tư nhân cho đầu tư xanh: Thực tiễn triển khai và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích khung pháp lý, thực trạng các kênh huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khó khăn, thách thức và đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường thu hút nguồn lực tư nhân phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh.
Kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: Vai trò dẫn dắt của ngành Ngân hàng

Kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: Vai trò dẫn dắt của ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ nhu cầu vốn rất lớn của khu vực kinh tế tư nhân giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời phân tích vai trò trung tâm của hệ thống ngân hàng, dưới sự điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong dẫn vốn, ổn định vĩ mô và đồng hành chiến lược với phát triển bền vững của kinh tế tư nhân.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Thị trường tài chính toàn cầu: Một số thách thức và triển vọng

Thị trường tài chính toàn cầu: Một số thách thức và triển vọng

Bài viết phân tích những thách thức lớn của thị trường tài chính toàn cầu năm 2025, từ gánh nặng nợ công gia tăng, khủng hoảng bất động sản tại các nền kinh tế chủ chốt đến rủi ro địa chính trị và an ninh tài chính, đồng thời đánh giá triển vọng và hàm ý chính sách trong bối cảnh mới.
Phân mảnh kinh tế toàn cầu: Hàm ý đối với Việt Nam khi hướng đến thịnh vượng và Net-Zero

Phân mảnh kinh tế toàn cầu: Hàm ý đối với Việt Nam khi hướng đến thịnh vượng và Net-Zero

Bài viết phân tích tác động của phân mảnh kinh tế toàn cầu đối với Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu nâng cấp ngoại thương theo hướng xanh và bền vững, hiện đại hóa hệ thống ngân hàng như hạ tầng chiến lược và đặt phát triển con người ở vị trí lõi để vừa củng cố năng lực cạnh tranh, vừa hiện thực hóa mục tiêu Net-Zero vào năm 2050.
Dấu ấn thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2025 và giải pháp trọng tâm năm 2026

Dấu ấn thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2025 và giải pháp trọng tâm năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2025 với dấu ấn phục hồi mạnh mẽ, cải thiện chất lượng thể chế và bước tiến nâng hạng, đồng thời phân tích bối cảnh, cơ hội, thách thức và các giải pháp trọng tâm nhằm hướng tới giai đoạn phát triển minh bạch, bền vững và hội nhập sâu hơn trong năm 2026.
Xem thêm
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành