Nuôi dưỡng khát khao làm giàu trên quê hương của các đối tượng chính sách

Hoạt động ngân hàng
Không cam chịu cảnh bán mặt cho đất, bán lưng cho trời với thu nhập bấp bênh, nhiều người dân đã mạnh dạn vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), biến những ước mơ làm giàu trên quê hương thành hiện thực. Nhờ vậy, nhiều gia đình đã thoát nghèo, vươn lên làm giàu, góp phần xây dựng nông thôn mới ngày càng khang trang, giàu đẹp.
aa

Không cam chịu cảnh "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" với thu nhập bấp bênh, nhiều người dân đã mạnh dạn vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), biến những ước mơ làm giàu trên quê hương thành hiện thực. Nhờ vậy, nhiều gia đình đã thoát nghèo, vươn lên làm giàu, góp phần xây dựng nông thôn mới ngày càng khang trang, giàu đẹp.

Những giấc mơ đã thành hiện thực

Khát khao làm giàu trên chính mảnh đất quê hương luôn cháy bỏng trong tim mỗi người con đất Việt, tuy nhiên, con đường lập thân, lập nghiệp, vươn lên thoát nghèo không bao giờ trải đầy hoa hồng. Bên cạnh nghị lực, ý chí và sự nỗ lực của bản thân, người dân rất cần sự tiếp sức, hỗ trợ để biến ước mơ thành hiện thực. Trong hành trình ấy, nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ NHCSXH đóng vai trò như "chìa khóa vàng" mở ra cánh cửa hy vọng cho người nghèo và các đối tượng chính sách. Những khoản vay kịp thời với lãi suất "mềm" đã giúp họ tháo gỡ khó khăn về vốn, mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, từng bước hiện thực hóa giấc mơ thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu …


Vốn tín dụng chính sách đã giúp nhiều hộ nghèo và các đối tượng chính sách vươn lên làm giàu
trên mảnh đất quê hương


Theo dấu chân của các cán bộ tín dụng chính sách NHCSXH, giữa đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ, nơi những nếp nhà sàn đơn sơ nép mình bên những rẫy cà phê xanh ngát, chúng tôi gặp chị Rmah H’Nhơn ở thôn Plei Du, xã Chư Răng, huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai. Với dáng người nhỏ nhắn, luôn vượt lên những khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số, chị Rmah H’Nhơn ấp ủ trong mình khát vọng phát triển kinh tế, vun đắp cho quê hương thêm giàu đẹp. Hành trình ấy của chị khởi đầu bằng những bước đi chập chững, tự mày mò học hỏi kinh nghiệm nuôi bò sinh sản. Giữa mênh mông kiến thức, chị Rmah H’Nhơn như người lữ khách lạc lối, từng bước khám phá bí quyết chăn nuôi, chăm sóc đàn bò. Kinh nghiệm đã có nhưng vốn liếng ít ỏi, con đường lập nghiệp của chị tưởng chừng như khép lại trước những vô vàn khó khăn về tài sản bảo đảm, lãi suất từ các ngân hàng thương mại. Nhưng rồi, tia sáng hy vọng đến khi chị được tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi từ NHCSXH để đầu tư nuôi bò sinh sản. Đàn bò ban đầu chỉ có vài con nay đã đông đúc hơn. Năm con bò mẹ khỏe mạnh, hằng năm cho ra đời năm chú bê con. Nhờ số tiền bán bê con, gia đình chị Rmah H’Nhơn có được cuộc sống ổn định, con cái được đến trường, nếp nhà sàn cũng được sửa sang khang trang hơn.

Câu chuyện của chị Rmah H’Nhơn là một trong nhiều hoàn cảnh của các hộ vay vốn do Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Chư Răng, huyện Ia Pa quản lý dư nợ. Hiện nay, Hội đang quản lý dư nợ tín dụng chính sách trên 14 tỉ đồng với 270 hộ còn dư nợ. Để có được hiệu quả trên, cùng với sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị, sự tận tâm, trách nhiệm của cán bộ NHCSXH phụ trách địa bàn, Hội cũng đã tích cực tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các chính sách tín dụng ưu đãi đến mọi người dân; thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong công tác quản lý và sử dụng vốn vay... Nhờ đó, phát huy hiệu quả nguồn vốn, không để phát sinh nợ quá hạn; trở thành cầu nối hiệu quả, đưa những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giảm nghèo, tạo việc làm, an sinh xã hội... đi vào cuộc sống, góp phần thay đổi diện mạo đời sống; hỗ trợ hộ nghèo và các đối tượng chính sách trên địa bàn xã Chư Răng vươn lên phát triển sản xuất, kinh doanh, ổn định cuộc sống.


Chị Nguyễn Thị Hà - chủ cơ sở sản xuất giò Hiền đang chuẩn bị nguyên liệu làm giò, chả


Không chỉ riêng tại Gia Lai, chúng tôi về thôn Trung Tiến, xã Công Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, hỏi thăm cơ sở sản xuất giò Hiền, ai ai cũng tấm tắc khen ngợi. Đó là cơ ngơi của gia đình chị Nguyễn Thị Hà, người phụ nữ nhỏ bé nhưng đầy nghị lực, đã biến nghề làm giò truyền thống thành con đường thoát nghèo, làm giàu cho gia đình. Bước vào cơ sở sản xuất, không khí lao động hăng say, khẩn trương khiến chúng tôi không thể rời mắt. Ngoài hai vợ chồng chị Hà, còn có bốn nhân công là người địa phương đang cần mẫn làm việc tại cơ sở sản xuất. Mỗi ngày, cơ sở của chị Hà cung cấp ra thị trường gần 200kg giò, mang hương vị quê hương đến với mọi nhà, đem lại lợi nhuận khoảng 45 - 50 triệu đồng/tháng. Thế nhưng ít ai biết rằng, chỉ vài năm trước đây, gia đình chị Hà còn thuộc diện khó khăn trong xã.

Từ những câu chuyện mộc mạc mà đầy sức sống, bằng nghị lực, vượt lên hoàn cảnh cho thấy rõ khát vọng làm giàu trên chính mảnh đất quê hương của những người con đất Việt chưa bao giờ nguội tắt. Dù ở vùng núi cao hay miền đồng bằng, dù là người dân tộc thiểu số hay người kinh, đều mang trong mình ngọn lửa đam mê, mong muốn xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, khát vọng ấy cần được vun đắp, nuôi dưỡng bằng những chính sách hỗ trợ thiết thực, kịp thời. Trong đó, nguồn vốn ưu đãi được ủy thác qua NHCSXH như “dòng nước mát lành”, tưới tắm cho những mầm xanh hy vọng. Chính những khoản vay kịp thời với lãi suất ưu đãi đã tiếp sức cho người dân vượt qua khó khăn, tháo gỡ nút thắt về vốn, mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, từng bước hiện thực hóa giấc mơ làm giàu.

Nhằm hiện thực hóa khát vọng thoát nghèo của các đối tượng chính sách, NHCSXH đã và đang nỗ lực không ngừng trong việc triển khai các chính sách tín dụng ưu đãi. Trong 9 tháng năm 2024, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, sự hỗ trợ của các bộ, ban, ngành, cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, sự chỉ đạo quyết liệt, sát sao của Hội đồng quản trị, NHCSXH đã chủ động bám sát Nghị quyết của Chính phủ, Chỉ thị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Nghị quyết của Hội đồng quản trị NHCSXH tập trung chỉ đạo toàn diện các mặt hoạt động, kịp thời giải ngân, đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh của hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, tiếp tục khẳng định vai trò tín dụng chính sách xã hội góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh, bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển kinh tế - xã hội.

Tính đến ngày 30/9/2024, tổng nguồn vốn chính sách đạt trên 375,7 nghìn tỉ đồng, tăng 29.286 tỉ đồng so với năm 2023; trong đó, nguồn vốn nhận ủy thác từ địa phương đạt 48.527 tỉ đồng. Tổng dư nợ đạt 357,2 nghìn tỉ đồng, tăng 16.506 tỉ đồng (+5,6%) so với năm 2023, với hơn 6,8 triệu hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác đang còn dư nợ; trong đó, dư nợ các chương trình tín dụng theo kế hoạch tăng trưởng được Thủ tướng Chính phủ giao đạt 261,8 nghìn tỉ đồng, tăng gần 17 nghìn tỉ đồng so với năm 2023, hoàn thành 86,3% kế hoạch tăng trưởng được giao. Bên cạnh đó, NHCSXH còn tích cực đẩy mạnh giải ngân nguồn vốn tín dụng tập trung chủ yếu ở các chương trình cho vay đối với hộ nghèo, hộ mới thoát nghèo, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, hộ sản xuất, kinh doanh vùng khó khăn phục vụ sinh kế, tạo việc làm và chính sách đối với người chấp hành xong án phạt tù theo Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ…

Người dân làm thủ tục vay vốn tại NHCSXH để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh,
nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống


Bổ sung thêm nguồn lực hỗ trợ NHCSXH thực hiện mục tiêu

Bên cạnh những kết quả đạt được, một số chuyên gia nhận định, công tác triển khai chính sách tín dụng ưu đãi vẫn còn một số hạn chế cần được khắc phục. Nhiều người dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, chưa hiểu hết về các chương trình tín dụng, thủ tục vay vốn, dẫn đến việc chưa tiếp cận và tận dụng được các cơ hội hỗ trợ từ ngân hàng. Thêm vào đó, việc cập nhật và sử dụng công nghệ thông tin còn hạn chế, khiến người dân khó tiếp cận thông tin về tín dụng chính sách và các mô hình kinh tế mới. Người dân gặp khó khăn trong việc tìm hiểu thông tin, học hỏi kinh nghiệm, do đó hiệu quả sử dụng vốn vay chưa cao, dẫn đến một bộ phận người dân chưa thoát nghèo bền vững. Chưa kể, việc luân chuyển cán bộ cùng với nhiệm vụ kiêm nhiệm cũng ít nhiều ảnh hưởng đến quá trình bám sát địa bàn, cập nhật các chính sách, chương trình tín dụng mới để hỗ trợ người dân một cách hiệu quả nhất.

Để tiếp tục nuôi dưỡng nhiều hơn khát vọng thoát nghèo trên mảnh đất quê hương, TS. Nguyễn Lâm Thành, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội cho rằng, cần cơ cấu lại hệ thống chính sách tín dụng theo hướng tích hợp, tăng định mức chính sách và bảo đảm phù hợp vùng, miền; tăng cường chính sách hỗ trợ tín dụng đối với các hoạt động sản xuất theo chuỗi, liên kết hợp tác nhằm thay đổi phương thức sản xuất. Trong đó, chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức kinh tế hợp tác, hộ làm kinh tế khá, giỏi làm nòng cốt với quan điểm lấy người khá để hỗ trợ người nghèo, thay đổi quan điểm chỉ có tín dụng hộ nghèo.

Để tạo nguồn lực hiện thực hóa mục tiêu của NHCSXH, TS. Nguyễn Lâm Thành cho rằng, trong công tác điều hành, quản lý cần kịp thời phân bổ, chuyển nguồn vốn vay của Trung ương về các địa phương; chỉ đạo lồng ghép các chính sách trên cùng một địa bàn, giải ngân kịp thời nhất là giữa vốn nhà nước cấp với vốn vay hoặc giữa vốn vay với vốn hỗ trợ của các chương trình, dự án khác (nhất là tín dụng cho các hoạt động sản xuất), bảo đảm tính đồng bộ, tạo thuận lợi cho người dân thực hiện. Tăng cường phối hợp giữa các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ của các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp và các tổ chức Hội, đoàn thể với hoạt động tín dụng chính sách của NHCSXH để việc sử dụng vốn của người vay hiệu quả, thoát nghèo bền vững. Tăng cường trách nhiệm quản lý và phối hợp giữa NHCSXH với Ban Dân tộc, các sở, ngành chuyên môn, các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể xã hội trong công tác vận động tuyên truyền, tổ chức thực hiện chính sách tín dụng trên địa bàn; quan tâm chỉ đạo làm tốt công tác thống kê, rà soát, cập nhật các tiêu chí và bình xét hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo trong thực hiện chính sách.

Bên cạnh đó, các chuyên gia cho rằng, cùng với việc xây dựng kế hoạch vốn hằng năm, phải cân đối các nguồn ngân sách thống nhất từ Trung ương đến địa phương cho hoạt động tín dụng chính sách xã hội; NHCSXH cần tiếp tục tham mưu cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp thực hiện tốt chủ trương huy động các nguồn lực cho tín dụng chính sách xã hội, quan tâm bổ sung tăng nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác sang NHCSXH để đầu tư cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn. Phối hợp với các sở, ban, ngành địa phương tích cực tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng Đề án chuyển nguồn vốn ủy thác địa phương sang để cho vay phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có hiệu quả, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho hộ dân giúp giảm nghèo bền vững.


Hương Giang

NHNN
https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân: Cơ hội và triển vọng phát triển

Hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân: Cơ hội và triển vọng phát triển

Trong thời gian qua, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) đã cơ bản duy trì hoạt động ổn định, an toàn, phát huy tốt vai trò là kênh cung ứng vốn hiệu quả cho khu vực kinh tế hộ gia đình, cá nhân và sản xuất - kinh doanh quy mô nhỏ tại địa phương. Thông qua việc bám sát địa bàn, phục vụ linh hoạt và lấy thành viên làm trung tâm, QTDND đã góp phần tích cực hỗ trợ phát triển kinh tế cơ sở, thúc đẩy tài chính toàn diện và ổn định an sinh xã hội địa phương.
Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh lực lượng lao động suy giảm và dư địa tăng trưởng theo chiều rộng ngày càng thu hẹp, bài viết phân tích các điều kiện vĩ mô để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng cao giai đoạn 2026 - 2030, nhấn mạnh yêu cầu chuyển sang mô hình dựa trên tích lũy vốn và đổi mới công nghệ, với hệ thống ngân hàng tiếp tục giữ vai trò kênh dẫn vốn chủ đạo.
Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Nghiên cứu này làm rõ tác động của tiền gửi khách hàng và nguồn vốn phi tiền gửi đến khả năng sinh lời của ngân hàng, đồng thời chỉ ra vai trò điều tiết quan trọng của vốn chủ sở hữu trong mối quan hệ này. Kết quả thực nghiệm cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc tối ưu hóa cấu trúc nguồn vốn và định hướng chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Bài viết phân tích vai trò của tín dụng xanh trong bối cảnh các quốc gia ASEAN đối mặt với thách thức biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, qua đó làm rõ tác động tích cực của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần, đồng thời xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong mối quan hệ này.
Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý: Các ngân hàng cần định hình và vận dụng khẩu vị rủi ro như một chiếc la bàn xuyên suốt quá trình quản trị; đồng thời, cần chủ động trích lập dự phòng dựa trên các dự báo và kịch bản kinh tế vĩ mô, tăng cường giám sát sớm để phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu một cách dứt khoát nhằm tránh hiệu ứng tích tụ rủi ro.
Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng trong bối cảnh ngân hàng số Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm mới cho bối cảnh Việt Nam, đồng thời củng cố các lý thuyết trước đó về niềm tin trong môi trường ngân hàng số.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh và định vị của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong giai đoạn tới. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, tác giả đề xuất khung sản phẩm, dịch vụ tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam dựa trên bốn yếu tố tích hợp về thể chế, hạ tầng, nhân lực và hợp tác quốc tế.
Áp lực công việc và sự hài lòng, trung thành với tổ chức của nhân viên ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Áp lực công việc và sự hài lòng, trung thành với tổ chức của nhân viên ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Bài viết nhằm làm rõ các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi của nhân viên, qua đó đề xuất các giải pháp thiết thực giúp ngân hàng tăng cường sự gắn bó, ổn định nguồn lực nhân sự và nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh mới.
Xem thêm
Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Bài viết này phân tích cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (gọi tắt là cơ chế thử nghiệm) trong lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) tại Việt Nam, chỉ ra các cơ hội và rủi ro tiềm ẩn khi triển khai cơ chế thử nghiệm nhằm thúc đẩy tài chính số, qua đó đề xuất định hướng chính sách minh bạch và bền vững.
Phát triển tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp: Kết quả năm 2025 và hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng năm 2026

Phát triển tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp: Kết quả năm 2025 và hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng năm 2026

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn triển khai chuyển đổi xanh từ năm 2025, bài viết phân tích vai trò trung tâm của tài chính xanh trong nông nghiệp, với các ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vị trí chủ đạo nhằm ứng phó rủi ro khí hậu và thúc đẩy phát triển bền vững.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế nhiều biến động, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã phát huy vai trò trung tâm trong điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2023 - 2025, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững giai đoạn 2025 - 2030.
Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 (hai chuẩn mực báo cáo bền vững toàn cầu đầu tiên do Hội đồng Chuẩn mực Bền vững Quốc tế (ISSB) thuộc Tổ chức Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS Foundation) ban hành năm 2023, giúp doanh nghiệp công bố thông tin về rủi ro và cơ hội liên quan đến phát triển bền vững (S1) và khí hậu (S2) một cách nhất quán, minh bạch, hỗ trợ nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư, hướng tới một ngôn ngữ chung cho báo cáo bền vững trên toàn thế giới) đối với các ngân hàng tại Việt Nam và làm rõ vai trò của hai chuẩn mực báo cáo bền vững này như “ngôn ngữ chung” nhằm giúp hệ thống ngân hàng minh bạch hóa rủi ro cũng như cơ hội khí hậu, từng bước hội nhập sâu vào dòng chảy tài chính toàn cầu.
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Luật Thương mại điện tử năm 2025 ra đời trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ đã tạo ra những thay đổi quan trọng đối với hệ sinh thái thương mại điện tử, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm phát huy vai trò của hệ thống tài chính - ngân hàng và bảo đảm an toàn, ổn định cho nền kinh tế số Việt Nam.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng