Ngân hàng với những chính sách vì người dân, doanh nghiệp

Hoạt động ngân hàng
Trong năm 2025, với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự linh hoạt, chủ động, quyết liệt của NHNN trong điều hành và những nỗ lực, trách nhiệm cao của hệ thống ngân hàng sẽ từng bước hóa giải những thách thức để đạt các mục tiêu.
aa

“Năm 2024, thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận vốn ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế. Không những thế, trước ảnh hưởng nặng nề của cơn bão số 3 (Yagi), với tinh thần tương thân tương ái, đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã chủ động, kịp thời chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) với tinh thần trách nhiệm cao nhất triển khai các chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng”. Đó là những chia sẻ của Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú về những chính sách, giải pháp điều hành tín dụng của NHNN năm 2024 nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp.

Phó Thống đốc thường trực NHNN Đào Minh Tú trả lời phỏng vấn. (Nguồn ảnh: SBV)

Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú (Nguồn ảnh: SBV)

Phóng viên: Thưa Phó Thống đốc, như ông từng nói ngân hàng và doanh nghiệp có mối quan hệ cộng sinh, ngân hàng luôn đồng hành cùng doanh nghiệp, vì thế trong năm 2024, ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều chính sách, giải pháp nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận vốn, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế. Ông có thể chia sẻ thêm về điều này?

Phó Thống đốc Đào Minh Tú: Năm 2024, NHNN và ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận vốn ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế.

Thứ nhất, về điều hành lãi suất, sau khi điều chỉnh giảm mạnh lãi suất vào năm 2023, NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành ở mức thấp để định hướng thị trường giảm lãi suất cho vay, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Đây là bước đi thể hiện sự chủ động của NHNN, trong khi lãi suất thế giới vẫn neo ở mức cao và chỉ đến cuối năm mới điều chỉnh giảm, góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với kiểm soát lạm phát. Mặt bằng lãi suất cho vay đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại (NHTM) đã giảm 0,48% so với năm 2023 (riêng 4 NHTM có vốn Nhà nước gồm Vietcombank, Agribank, BIDV, VietinBank, lãi suất cho vay đã giảm gần 1%).

Thứ hai, về điều hành tín dụng, để tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD cung ứng nguồn vốn tín dụng cho nền kinh tế, ngày 31/12/2023, NHNN đã giao hết toàn bộ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 cho các TCTD và thông báo công khai nguyên tắc xác định để TCTD chủ động thực hiện tăng trưởng tín dụng. Trong điều kiện lạm phát được kiểm soát tốt dưới mức mục tiêu, năm 2024 NHNN đã chủ động hai lần điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng (vào ngày 28/8/2024 và ngày 28/11/2024) mà không cần đề nghị từ phía các TCTD để kịp thời đáp ứng vốn cho nền kinh tế, hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh; đồng thời, tiếp tục triển khai chủ trương của Quốc hội, Chính phủ về nghiên cứu dỡ bỏ dần biện pháp giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

Thứ ba, NHNN đã tập trung hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong hoạt động cấp tín dụng với 16 văn bản được ban hành trong khoảng thời gian ngắn, trong đó có nhiều quy định mới nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động của các TCTD, cũng như nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của người dân, doanh nghiệp, như khách hàng có thể thực hiện vay vốn trên môi trường số mà không cần trực tiếp đến ngân hàng (cho vay bằng phương tiện điện tử), đơn giản hóa thủ tục vay vốn đối với các khoản cho vay có mức giá trị nhỏ bao gồm cả việc cấp tín dụng qua thẻ...

Thứ tư, NHNN cũng đã tổ chức các Hội nghị trực tuyến toàn Ngành; làm việc trực tiếp tại một số địa phương về công tác tín dụng; triển khai mạnh mẽ, sâu rộng chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp... để đối thoại trực tiếp nhằm nắm bắt các khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc tiếp cận vốn vay ngân hàng, kịp thời xử lý, tháo gỡ.

Bên cạnh đó, NHNN đã có nhiều chỉ đạo, yêu cầu các TCTD thực hiện tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, lành mạnh; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tiếp tục duy trì ổn định mặt bằng lãi suất tiền gửi và nỗ lực hơn nữa để giảm mặt bằng lãi suất cho vay thông qua tiết giảm chi phí, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.

Đồng thời, ngành Ngân hàng đã đẩy mạnh triển khai các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trong đó một số chương trình triển khai hiệu quả và nhiều lần được nâng quy mô như chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm, thủy sản; chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng đồng bằng sông Cửu Long; chương trình 120 nghìn tỉ đồng cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư (hiện số vốn đăng ký đã trên 145 nghìn tỉ đồng). Đặc biệt, ngành Ngân hàng đã khẩn trương, kịp thời thực hiện các giải pháp hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi bão số 3.

Việc triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp trên đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế. Đến ngày 31/12/2024, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 15,08% so với cuối năm 2023.

Phóng viên: Năm 2024 cũng chứng kiến những hậu quả nặng nề của thiên tai, đặc biệt là cơn bão số 3. Với tinh thần tương thân tương ái, đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp, ngành Ngân hàng đã triển khai các chính sách, giải pháp nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn do ảnh hưởng bởi bão số 3 ra sao, thưa Phó Thống đốc?

Phó Thống đốc Đào Minh Tú: Bão số 3 vừa qua đã ảnh hưởng nặng nề đến đời sống kinh tế - xã hội của nhiều địa phương. Theo thống kê của 26 NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố, có khoảng 124 nghìn khách hàng bị ảnh hưởng với dư nợ là khoảng 192 nghìn tỉ đồng, chiếm 3,1% tổng dư nợ trên địa bàn. Với tinh thần tương thân tương ái, đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp, ngành Ngân hàng đã chủ động triển khai quyết liệt, kịp thời với tinh thần trách nhiệm cao nhất các giải pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng.

Về phía NHNN, NHNN đã ban hành 4 văn bản và tổ chức Hội nghị trực tuyến với UBND 26 tỉnh, thành phố bị ảnh hưởng bởi bão số 3 để chỉ đạo và triển khai các giải pháp của ngành Ngân hàng hỗ trợ tháo khó khăn giúp người dân doanh nghiệp như: (i) Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xem xét miễn giảm lãi vay, tiếp tục cho vay mới khôi phục sản xuất kinh doanh sau bão; (ii) Thực hiện xử lý nợ đối với khách hàng bị thiệt hại về vốn vay theo quy định hiện hành; (iii) Xây dựng các chương trình, các gói tín dụng mới với lãi suất phù hợp, khẩn trương xét duyệt cho vay mới và tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho người vay nhất là vấn đề tài sản bảo đảm, hạn mức tín dụng nhằm giúp khách hàng khắc phục khó khăn, ổn định sản xuất, kinh doanh sau bão.

Về phía các TCTD, trên cơ sở chỉ đạo của NHNN và với tinh thần đồng hành, chia sẻ cùng khách hàng, các TCTD đã tích cực và khẩn trương ban hành, công bố công khai các chương trình, các gói tín dụng nhằm kịp thời hỗ trợ, khắc phục thiệt hại do bão lũ gây ra, tạo điều kiện để khách hàng khôi phục và thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đến ngày 30/11/2024, các NHTM đã cho vay mới theo các chương trình ưu đãi với doanh số lũy kế là khoảng 43 nghìn tỉ đồng; đồng thời, đã hạ lãi suất cho những khoản vay hiện hữu đối với dư nợ khoảng 102 nghìn tỉ đồng.

Đồng thời, thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 143/NQ-CP ngày 17/9/2024 của Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để khẩn trương khắc phục hậu quả bão số 3 (Yagi) nhanh chóng ổn định tình hình Nhân dân, đẩy nhanh khôi phục sản xuất kinh doanh, tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát tốt lạm phát, NHNN đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1510/QĐ-TTg ngày 04/12/2024 về phân loại tài sản có, mức trích lập dự phòng rủi ro, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro đối với khoản nợ của khách hàng gặp khó khăn do ảnh hưởng, thiệt hại của bão số 3; Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 53/2024/TT-NHNN ngày 04/12/2024 quy định về việc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu thời hạn trả nợ đối với khách hàng gặp khó khăn do ảnh hưởng, thiệt hại của bão số 3, ngập lụt, lũ, sạt lở đất sau bão số 3.

Với các quy định này, khách hàng vay vốn tại TCTD gặp khó khăn do ảnh hưởng, thiệt hại của bão số 3, ngập lụt, lũ, sạt lở đất sau bão số 3 được TCTD xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ; chính sách được thực hiện đến hết ngày 31/12/2025. Các giải pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi bão số 3 của ngành Ngân hàng đã phát huy hiệu quả, giúp giảm bớt tác động tiêu cực sau bão đối với đời sống và kinh tế của người dân, doanh nghiệp. Việc giữ vững nguồn lực tài chính và các hỗ trợ kịp thời đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình phục hồi sau thiên tai, giúp cho người dân và doanh nghiệp sớm vượt qua khó khăn và trở lại hoạt động bình thường.

Hệ thống ngân hàng tiếp tục triển khai các giải pháp tín dụng linh hoạt, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, nhằm đáp ứng hiệu quả nhu cầu vốn tín dụng của người dân và doanh nghiệp. (Nguồn ảnh: Internet)
Hệ thống ngân hàng tiếp tục triển khai các giải pháp tín dụng linh hoạt, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, nhằm đáp ứng hiệu quả nhu cầu vốn tín dụng của người dân và doanh nghiệp. (Nguồn ảnh: Internet)

Phóng viên: Năm 2023 - 2024, ngành Ngân hàng đã tổ chức nhiều Hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp. Thông qua hoạt động này, quan hệ tín dụng cũng như những lợi ích cho cả giữa doanh nghiệp và ngân hàng đạt được ra sao, thưa ông?

Phó Thống đốc Đào Minh Tú: Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp được triển khai từ năm 2014, với hàng chục nghìn cuộc đối thoại, kết nối đã được tổ chức trong 10 năm qua; trong đó, riêng năm 2023 đến hết quý III năm 2024, đã tổ chức gần 2.000 cuộc đối thoại, kết nối thông qua nhiều hình thức và quy mô đa dạng trên toàn quốc và tại các địa phương nhằm nắm bắt các khó khăn, vướng mắc và kịp thời có giải pháp tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng ngân hàng.

Chương trình không chỉ tháo gỡ các nút thắt trong quan hệ tín dụng mà còn mang lại nhiều lợi ích cho cả khách hàng và TCTD, cụ thể:

Về phía khách hàng, đông đảo khách hàng được tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất hợp lý; các khó khăn, vướng mắc được ngành Ngân hàng và các cơ quan liên quan (sở, ban, ngành) tìm giải pháp tháo gỡ; khách hàng kịp thời cập nhật thông tin cơ chế, chính sách về tín dụng, thanh toán, tiền gửi… và các chương trình, sản phẩm của các TCTD. Đối với các khách hàng gặp khó khăn về dòng tiền do ảnh hưởng của dịch bệnh, thiên tai, được các TCTD áp dụng chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ, giúp khách hàng được cơ cấu lại nợ phù hợp với dòng tiền mà không bị chuyển sang nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn; từ đó tạo điều kiện cho khách hàng được tiếp tục vay mới nhằm duy trì, phục hồi sản xuất kinh doanh.

Về phía các TCTD, thông qua chương trình giúp các TCTD khơi thông được dòng vốn, tăng trưởng tín dụng bền vững, chất lượng, an toàn, hiệu quả, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm chia sẻ khó khăn với khách hàng từ phía các ngân hàng.

Theo số liệu báo cáo, lũy kế từ đầu năm 2023 đến hết quý III/2024, thông qua chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, các TCTD đã cho vay được gần 3,3 triệu tỉ đồng cho hơn 470 nghìn lượt khách hàng; cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho trên 2.700 lượt khách hàng với dư nợ trên 25 nghìn tỉ đồng; ngoài ra, các TCTD còn thực hiện hỗ trợ bằng các hình thức khác như điều chỉnh giảm lãi suất, giảm phí…

Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp được thực hiện thông qua các hội nghị, diễn đàn trao đổi, đối thoại, gặp gỡ… không chỉ tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn của cả phía doanh nghiệp và TCTD mà còn giúp cho cả doanh nghiệp và ngân hàng hiểu nhau hơn, chia sẻ hơn và hợp tác theo quan điểm cộng sinh.

Phóng viên: Năm 2025 tiếp tục còn nhiều khó khăn, thách thức và đan xen cả những cơ hội, xin Phó Thống đốc cho biết về định hướng điều hành tín dụng trong năm 2025 của NHNN?

Phó Thống đốc Đào Minh Tú: Năm 2025 là năm tăng tốc, bứt phá, về đích, phấn đấu đạt kết quả cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025. Đảng, Quốc hội, Chính phủ đặt ra mục tiêu cho năm 2025, đó là tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP cả nước năm 2025 đạt trên 8%) trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát (bình quân khoảng 4,5%), bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Tập trung cao độ cho việc bổ sung, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý; cải cách, tinh gọn bộ máy, thủ tục hành chính; thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số... đáp ứng tốt nhất cho yêu cầu đổi mới sáng tạo, tạo đột phá phát triển đất nước trong tình hình mới, hướng tới kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Bối cảnh quốc tế và trong nước nêu trên đặt ra không ít những khó khăn, thách thức đối với ngành Ngân hàng nói chung và công tác điều hành chính sách tiền tệ của NHNN nói riêng trong năm 2025. Tuy nhiên, với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự linh hoạt, chủ động, quyết liệt của NHNN trong điều hành và những nỗ lực, trách nhiệm cao của hệ thống ngân hàng sẽ từng bước hóa giải những thách thức để đạt các mục tiêu.

Bám sát mục tiêu, định hướng của Đảng, Chính phủ, NHNN tiếp tục điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách khác góp phần ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

Đối với điều hành tín dụng, sang năm 2025, NHNN tiếp tục chủ động rà soát để sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ chế, chính sách liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng.

Tiếp tục thực hiện các giải pháp tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng, phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo đó, NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD: (i) Hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; (ii) Xây dựng các sản phẩm tín dụng cho các ngành, lĩnh vực phù hợp với chiến lược kinh doanh, khả năng cân đối nguồn lực của TCTD, chú trọng đầu tư tín dụng vào các dự án, công trình trọng điểm; (iii) Tích cực triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp sau bão số 3 (cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ theo Quyết định số 1510/QĐ-TTg và Thông tư số 53/2024/TT-NHNN, giảm lãi suất, cho vay mới khôi phục, duy trì sản xuất kinh doanh…); (iv) Tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Ngành Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh triển khai chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp; triển khai quyết liệt các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (Chương trình cho vay đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản; Chương trình cho vay liên kết thực hiện Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao và phát thải thấp khu vực đồng bằng sông Cửu Long; Chương trình cho vay nhà ở xã hội theo Nghị quyết 33/NQ-CP của Chính phủ…) và phối hợp với các bộ, ngành, địa phương kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện.

Ngoài ra, NHNN tiếp tục hỗ trợ và tạo điều kiện để Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện tốt các chương trình, chính sách tín dụng ưu đãi theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; tiếp tục đẩy mạnh triển khai các nhiệm vụ được giao của ngành Ngân hàng tại các Chương trình mục tiêu quốc gia; tiếp tục triển khai Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Phó Thống đốc!

Hải Anh (thực hiện)

Tin bài khác

Vai trò của bộ phận tuân thủ trong kỷ nguyên số: Từ chức năng kiểm soát đến trụ cột kiến tạo niềm tin

Vai trò của bộ phận tuân thủ trong kỷ nguyên số: Từ chức năng kiểm soát đến trụ cột kiến tạo niềm tin

Bài viết phân tích quá trình chuyển dịch vai trò của bộ phận tuân thủ trong kỷ nguyên số, từ chức năng kiểm soát mang tính tuân thủ pháp lý sang trụ cột chiến lược trong hệ thống quản trị doanh nghiệp, góp phần kiến tạo niềm tin, nâng cao năng lực quản trị rủi ro và thúc đẩy phát triển bền vững của các tổ chức tài chính - ngân hàng.
Chuyển đổi số ngân hàng năm 2025: Kết nối dữ liệu và giữ vững niềm tin số

Chuyển đổi số ngân hàng năm 2025: Kết nối dữ liệu và giữ vững niềm tin số

Với quan điểm, chủ trương nhất quán của Chính phủ: “Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể và là động lực chính của công cuộc chuyển đổi số ngành Ngân hàng”; “dữ liệu là nền tảng cốt lõi, tài sản quan trọng và nguồn lực chiến lược, quyết định hiệu quả chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo giá trị mới cho ngành Ngân hàng và nền kinh tế”, năm 2025 ngành Ngân hàng tiếp tục hoàn thành một năm chuyển mình mang tính chiến lược, khẳng định vai trò huyết mạch của nền kinh tế không chỉ qua dòng tiền mà còn ở sự kết nối dữ liệu và niềm tin số.
Kinh tế Việt Nam 2025: Thành tựu bứt phá trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén

Kinh tế Việt Nam 2025: Thành tựu bứt phá trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén

Năm 2025 khép lại với những dấu ấn tăng trưởng nổi bật của kinh tế Việt Nam, bất chấp bối cảnh quốc tế nhiều biến động. Tăng trưởng GDP vượt 8%, lạm phát được kiểm soát và các cân đối lớn duy trì ổn định đã cho thấy hiệu quả rõ nét của điều hành vĩ mô, trong đó chính sách tiền tệ linh hoạt, nhạy bén đóng vai trò then chốt, tạo bệ đỡ cho phục hồi và phát triển.
Chính sách tiền tệ góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế năm 2025

Chính sách tiền tệ góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế năm 2025

Sáng 31/12, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự và chỉ đạo Hội nghị. Giai đoạn 2021 - 2025 là một nhiệm kỳ ghi dấu ấn đặc biệt của ngành Ngân hàng. Những nỗ lực bền bỉ của toàn hệ thống ngân hàng đã tạo nên nhiều thành tựu nổi bật, là những gam màu sáng trong bức tranh tổng thể của nền kinh tế Việt Nam, góp phần quan trọng vào ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đó cũng là nền tảng vững chắc, tạo thế và lực để ngành Ngân hàng vững bước tiến vào chặng đường phát triển mới.
Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Nghiên cứu này làm rõ tác động của tiền gửi khách hàng và nguồn vốn phi tiền gửi đến khả năng sinh lời của ngân hàng, đồng thời chỉ ra vai trò điều tiết quan trọng của vốn chủ sở hữu trong mối quan hệ này. Kết quả thực nghiệm cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc tối ưu hóa cấu trúc nguồn vốn và định hướng chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Bài viết phân tích vai trò của tín dụng xanh trong bối cảnh các quốc gia ASEAN đối mặt với thách thức biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, qua đó làm rõ tác động tích cực của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần, đồng thời xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong mối quan hệ này.
Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý: Các ngân hàng cần định hình và vận dụng khẩu vị rủi ro như một chiếc la bàn xuyên suốt quá trình quản trị; đồng thời, cần chủ động trích lập dự phòng dựa trên các dự báo và kịch bản kinh tế vĩ mô, tăng cường giám sát sớm để phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu một cách dứt khoát nhằm tránh hiệu ứng tích tụ rủi ro.
Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng trong bối cảnh ngân hàng số Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm mới cho bối cảnh Việt Nam, đồng thời củng cố các lý thuyết trước đó về niềm tin trong môi trường ngân hàng số.
Xem thêm
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế nhiều biến động, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã phát huy vai trò trung tâm trong điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2023 - 2025, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững giai đoạn 2025 - 2030.
Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 (hai chuẩn mực báo cáo bền vững toàn cầu đầu tiên do Hội đồng Chuẩn mực Bền vững Quốc tế (ISSB) thuộc Tổ chức Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS Foundation) ban hành năm 2023, giúp doanh nghiệp công bố thông tin về rủi ro và cơ hội liên quan đến phát triển bền vững (S1) và khí hậu (S2) một cách nhất quán, minh bạch, hỗ trợ nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư, hướng tới một ngôn ngữ chung cho báo cáo bền vững trên toàn thế giới) đối với các ngân hàng tại Việt Nam và làm rõ vai trò của hai chuẩn mực báo cáo bền vững này như “ngôn ngữ chung” nhằm giúp hệ thống ngân hàng minh bạch hóa rủi ro cũng như cơ hội khí hậu, từng bước hội nhập sâu vào dòng chảy tài chính toàn cầu.
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Luật Thương mại điện tử năm 2025 ra đời trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ đã tạo ra những thay đổi quan trọng đối với hệ sinh thái thương mại điện tử, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm phát huy vai trò của hệ thống tài chính - ngân hàng và bảo đảm an toàn, ổn định cho nền kinh tế số Việt Nam.
Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Ngày 01/01/2026, Văn phòng Quốc hội công bố 10 sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc ban hành các văn bản pháp luật đã phần nào đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (viết tắt là cơ chế thử nghiệm), đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, để cơ chế thử nghiệm thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý tổng thể, thiết lập quy trình minh bạch, cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế  và khuyến nghị đối với Việt Nam

Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh xét theo cả quy mô giao dịch và mức độ phổ cập trong đời sống tài chính, yêu cầu hoàn thiện khung phòng, chống rửa tiền trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, bởi các chỉ dấu khách quan cho thấy Việt Nam vừa nằm trong nhóm quốc gia có giá trị giao dịch trên chuỗi rất lớn.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng