Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng chính sách xã hội tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Hoạt động ngân hàng
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, lãnh thổ của tỉnh gồm hai phần: Đất liền và hải đảo. Bà Rịa - Vũng Tàu có diện tích tự nhiên là 1.982,56 km2, dân số 1.197.318 người, 322.698 hộ dân; hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 là 6.589 hộ, chiếm tỉ lệ 2,04% tổng số hộ dân, trong đó, hộ nghèo theo chuẩn quốc gia 1.278 hộ, chiếm 0,4%; hộ cận nghèo theo chuẩn quốc gia 1.533 hộ, chiếm 0,48%; hộ nghèo theo chuẩn tỉnh 3.778 hộ, chiếm 1,17%.
aa

Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, lãnh thổ của tỉnh gồm hai phần: Đất liền và hải đảo. Bà Rịa - Vũng Tàu có diện tích tự nhiên là 1.982,56 km2, dân số 1.197.318 người, 322.698 hộ dân; hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 là 6.589 hộ, chiếm tỉ lệ 2,04% tổng số hộ dân, trong đó, hộ nghèo theo chuẩn quốc gia 1.278 hộ, chiếm 0,4%; hộ cận nghèo theo chuẩn quốc gia 1.533 hộ, chiếm 0,48%; hộ nghèo theo chuẩn tỉnh 3.778 hộ, chiếm 1,17%. Trong những năm qua, nhờ được tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trong tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã có những chuyển biến, thay đổi rõ rệt.

1. Hiệu quả sử dụng vốn tín dụng chính sách xã hội


Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được thành lập tại Quyết định số 63/QĐ-HĐQT ngày 14/01/2003 của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHCSXH với nhiệm vụ được giao là thực hiện chính sách tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ. Trong suốt 20 năm qua, NHCSXH Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu luôn đóng vai trò quan trọng và là công cụ chủ lực trong việc phối hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương hỗ trợ hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác vay vốn sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, góp phần thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới.


Cán bộ NHCSXH hướng dẫn các hộ gia đình vay vốn tín dụng chính sách xã hội tại Điểm giao dịch xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu


Qua 20 năm thành lập và hoạt động, từ 03 chương trình được bàn giao ban đầu, đến nay, NHCSXH Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đang thực hiện cho vay 13 chương trình tín dụng chính sách xã hội với tổng nguồn vốn tính đến ngày 31/12/2022 là 4.255.749 triệu đồng, tăng 485.171 triệu đồng so với năm 2021 và tăng 1.811.378 so với năm 2018. Trong đó, nguồn vốn Trung ương là 2.323.881 triệu đồng, tăng 302.162 triệu đồng so với năm 2021 và tăng 902.049 triệu đồng so với năm 2018, chiếm 54,06% tổng nguồn vốn; nguồn vốn nhận ủy thác địa phương 1.447.351 triệu đồng, tăng 203.391 triệu đồng so với năm 2021 và tăng 712.921 triệu đồng so với năm 2018, chiếm 34,01% tổng nguồn vốn; nguồn vốn huy động Trung ương cấp bù lãi suất là 484.517 triệu đồng, giảm 20.382 triệu đồng so với năm 2021 và tăng 196.408 triệu đồng so với năm 2018, chiếm 11,38% tổng nguồn vốn. (Biểu đồ 1)


Biểu đồ 1: Diễn biến nguồn vốn giai đoạn 2018 - 2022


Đơn vị tính: Triệu đồng


Nguồn: NHCSXH Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu


Tính đến ngày 31/12/2022, tổng dư nợ đạt 3.769.791 triệu đồng cho 74.832 hộ gia đình vay vốn, với 107.281 món vay còn dư nợ; tổng doanh số cho vay đạt 11.171.550 triệu đồng với trên 535.600 lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn.

Giai đoạn 2018 - 2022, vốn tín dụng NHCSXH đã giúp hơn 160.750 lượt hộ nghèo chuẩn quốc gia và chuẩn tỉnh thoát nghèo, góp phần xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước đã được chuyển tải an toàn đến đúng đối tượng thụ hưởng tại 100% xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh; nguồn vốn cho vay tín dụng chính sách xã hội liên tục tăng trưởng, số dư năm sau cao hơn năm trước tạo điều kiện cho người nghèo và các đối tượng chính sách có nhu cầu, đủ điều kiện được tiếp cận vốn tín dụng chính sách thuận lợi, kịp thời, nhờ đó, người nghèo có vốn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh.

Chất lượng và hiệu quả sử dụng vốn tín dụng chính sách xã hội tại NHCSXH Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày càng được nâng cao, một hộ vay có thể vay vốn từ nhiều chương trình tín dụng chính sách khác nhau.

Đặc biệt, thông qua việc sử dụng vốn vay của NHCSXH, các hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác đã có cách nghĩ, cách làm mới, có nhiều suy nghĩ tích cực trong hoạt động sản xuất, kinh doanh như đầu tư mua thêm trâu bò sinh sản, phát triển trồng trọt, chăn nuôi, mua sắm thêm vật tư sản xuất, kinh doanh dịch vụ nhỏ, mở rộng thêm các mặt hàng để nâng cao thu nhập, từng bước nâng cao đời sống cũng như có khả năng tích lũy thu nhập, tích lũy tiền tiết kiệm để trả nợ lãi, vốn vay ngân hàng.

Tổng dư nợ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2018 - 2022 là 14,6%/năm, tổng doanh số cho vay tăng, tỉ lệ tăng trưởng tương đương 17,7%/năm. Tỉ lệ thu hồi nợ đến hạn hằng năm tăng dần từ 97,91% năm 2020, 98,58% năm 2021 và năm 2022 là 98,85%. Tỉ lệ nợ khoanh năm 2022 chỉ chiếm 0,14% trong khi năm 2018 là 0,32%; tỉ lệ nợ quá hạn giảm dần từ 0,06% năm 2018, 0,05% năm 2019, 0,04% năm 2020 và năm 2021 - 2022 chỉ chiếm 0,02% tổng dư nợ (Biểu đồ 2).

Biểu đồ 2. Tỉ lệ nợ quá hạn và nợ khoanh


Đơn vị: %

Nguồn: NHCSXH Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu


Số hộ dư nợ các chương trình tín dụng và mức độ tăng trưởng của hộ vay hằng năm tăng dần, cụ thể các năm 2020, 2021 tăng thêm trên 1.600 hộ vay, tương ứng tăng trưởng 2,36% và 2,27%, đặc biệt, năm 2022 có 74.832 hộ vay vốn, tăng 2.436 hộ so với năm 2021, tăng 3,36%; dư nợ cho vay bình quân một hộ vay năm 2018 là 23 triệu đồng/hộ vay, đến năm 2022 là 35 triệu đồng/hộ vay. Tỉ lệ thu lãi hằng năm đều đạt 100% kế hoạch dự thu.

Trong 05 năm 2018 - 2022, NHCSXH Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã phối hợp cùng với các cấp hội đoàn thể trong tỉnh, Ban Chỉ đạo các chương trình giảm nghèo tại địa phương thực hiện cho vay hơn 15.780 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo vay vốn để phát triển chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng, đánh bắt hải sản, làm muối, kinh doanh dịch vụ và sản xuất, kinh doanh có hiệu quả; giúp cho hơn 9.286 lượt học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay vốn để trang trải chi phí học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, đào tạo nghề,… không để trường hợp học sinh, sinh viên nào bỏ học vì không có khả năng đóng học phí.

Để chuyển tải nguồn vốn tín dụng chính sách đến đúng đối tượng thụ hưởng, đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng, tiết giảm chi phí quản lí... NHCSXH Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã thực hiện phương thức cho vay trực tiếp có ủy thác một số nội dung công việc thông qua 04 tổ chức chính trị - xã hội gồm Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên. Đến ngày 31/12/2022, dư nợ ủy thác cho vay các tổ chức chính trị - xã hội đạt 3.744.887 triệu đồng với 74.716 khách hàng còn dư nợ, do 1.616 tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) quản lí, chiếm 99,3% tổng dư nợ tín dụng chính sách đang triển khai tại NHCSXH tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Đặc biệt, hằng năm, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, các huyện, thị, thành phố của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quan tâm chuyển nguồn vốn ủy thác sang NHCSXH để thực hiện cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, Chi nhánh NHCSXH tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu còn đẩy mạnh huy động vốn từ dân cư, tích cực thu hồi nợ và cùng với nguồn vốn được bổ sung hằng năm để cho vay quay vòng và bổ sung tăng thêm số hộ vay vốn nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách.

Thông qua hoạt động ủy thác cho vay của NHCSXH, người dân được nâng cao nhận thức về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, có cơ hội được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, được tư vấn cách sử dụng vốn, được học tập, nâng cao kiến thức về khoa học kĩ thuật, được tập huấn kĩ thuật sản xuất, chuyển giao ứng dụng khoa học trong sản xuất, được nghe phổ biến kiến thức, trao đổi kinh nghiệm về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm… Qua đó, ý thức hộ nghèo được nâng lên và thay đổi rõ rệt, không còn ỷ lại và trông chờ vào Nhà nước cho không như trước đây mà tích cực lao động sản xuất, sử dụng vốn vay đúng mục đích, phát huy hiệu quả các nguồn vốn cho vay. Hơn nữa, trong quá trình sử dụng vốn vay, người nghèo và các đối tượng chính sách còn có cơ hội gặp gỡ trao đổi, đề xuất nhu cầu, nguyện vọng cũng như mong muốn tiếp tục vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, tự tạo việc làm, giúp ổn định chính trị, an ninh trật tự, tạo đà cho kinh tế - xã hội của địa phương phát triển.

Cùng với đó, các tổ TK&VV được thành lập theo địa bàn thôn, xóm… giúp cho các thành viên trong tổ tương trợ, giúp đỡ, giám sát lẫn nhau trong việc sử dụng vốn vay và trả nợ; các chương trình tín dụng ưu đãi được thực hiện công khai, dân chủ theo đúng quy định của Nhà nước. Việc thành lập các điểm giao dịch tại xã, phường, thị trấn đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận thuận lợi hơn với NHCSXH trong việc vay vốn, trả nợ, trả lãi vay cho ngân hàng.

Bên cạnh đó, công tác thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng được quan tâm đẩy mạnh, đổi mới và đa dạng các hình thức truyền thông về các chương trình tín dụng chính sách xã hội, quy trình nghiệp vụ, chế độ của Nhà nước về cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách đã giúp người dân và các cấp, các ngành nắm bắt được kịp thời chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, quyền lợi và nghĩa vụ của người dân trong việc vay vốn tín dụng chính sách xã hội.

Nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội trong thời gian qua đã góp phần làm thay đổi tình hình hộ nghèo tại địa phương, giảm tỉ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo, tạo việc làm cho người lao động và thay đổi diện mạo nông thôn một cách nhanh chóng. Đồng thời, hoạt động tín dụng chính sách trực tiếp góp phần hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi ở nông thôn, từng bước làm chuyển biến nhận thức của hộ nghèo, giúp các đối tượng thay đổi tập quán sản xuất, xóa bỏ tự ti, mặc cảm, vươn lên thoát nghèo; cải thiện các điều kiện sinh hoạt cộng đồng; tăng chất lượng đời sống sinh hoạt chính trị - xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn của địa phương.

Hiệu quả sử dụng vốn tín dụng ưu đãi của Chính phủ từ những hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là minh chứng cho thấy vai trò quan trọng của tín dụng chính sách xã hội đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; là “điểm sáng” và là một trong những “trụ cột” trong các chính sách giảm nghèo, giải quyết việc làm, an sinh xã hội và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn tồn tại một số hạn chế như: Nguồn vốn cho vay một số chương trình còn hạn chế: Nguồn vốn nước sạch và vệ sinh môi trường, giải quyết việc làm, duy trì và mở rộng việc làm nên việc phân bổ nguồn vốn cho vay vẫn chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn; dư nợ các chương trình tín dụng phục vụ đời sống, sinh hoạt còn thấp: Cho vay chương trình nhà ở xã hội theo Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ năm 2022 chỉ đạt 3,7% tổng dư nợ, cho vay học sinh, sinh viên chiếm 5,3% tổng dư nợ, cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường chiếm 16,2% tổng dư nợ; nợ khoanh còn cao dẫn tới chất lượng tín dụng chưa ổn định, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro gây ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn vay của khách hàng; một vài nơi thực hiện ủy thác cho vay của Hội cấp xã, công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế, chưa thường xuyên, một số tổ TK&VV hoạt động chưa hiệu quả; một số trường hợp hộ vay không còn ở địa phương do đi làm ăn xa hoặc chuyển đi khỏi địa phương gây khó khăn trong công tác xử lí nợ.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng chính sách xã hội

Trong năm 2023, NHCSXH Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả hoạt động tín dụng chính sách xã hội đảm bảo kịp thời, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân trên địa bàn tỉnh; phát huy tốt hơn nữa vai trò của tín dụng chính sách xã hội đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Theo đó, phấn đấu 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các đối tượng chính sách khác có nhu cầu và đủ điều kiện được vay vốn ưu đãi kịp thời; kế hoạch huy động vốn thị trường, kế hoạch nguồn vốn ủy thác đầu tư địa phương đạt 100%; tăng trưởng dư nợ nguồn vốn Trung ương và địa phương đạt từ 99,95% trở lên; tỉ lệ nợ quá hạn dưới 1% tổng dư nợ. Phối hợp Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và các cơ quan, đơn vị thông qua vay vốn giúp tạo việc làm mới và ổn định việc làm từ 7.000 - 10.000 người lao động/năm; phấn đấu, duy trì đạt trên 70% xã không có nợ quá hạn.

Để thực hiện tốt những mục tiêu trên và nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn, NHCSXH Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường công tác tham mưu để thu hút nguồn vốn thực hiện tín dụng chính sách xã hội

NHCSXH Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phối hợp các sở, ban, ngành, đoàn thể, UBND các huyện, thị, thành phố trong tỉnh triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch số 215/KH-UBND ngày 31/12/2021 của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc thực hiện Quyết định số 1630/QĐ-TTg ngày 28/9/2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội và Kết luận số 06-KL/TW ngày 10/6/2021 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW; tăng cường phối hợp, triển khai và kí biên bản thống nhất về việc thực hiện cho vay vốn phát triển sản xuất và xây dựng nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số bằng nguồn vốn ngân sách địa phương theo Nghị quyết số 108/NQ-HĐND ngày 10/12/2021 của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2022 - 2025; phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư xây dựng kế hoạch nhu cầu vốn hằng năm trình UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bố trí vốn bổ sung để thực hiện cho vay hộ nghèo theo chuẩn tỉnh, cho vay hỗ trợ việc làm, duy trì và mở rộng việc làm theo Kế hoạch của UBND tỉnh về thực hiện Chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững hằng năm và Nghị quyết số 109/NQ-HĐND ngày 10/12/2021 của HĐND tỉnh phê duyệt Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2022 - 2025 trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đặc biệt, tiếp tục phối hợp các sở, ban, ngành, các cơ quan, đơn vị tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham mưu về việc ủy thác Quỹ phát triển nhà ở xã hội sang NHCSXH quản lí và sử dụng nguồn vốn ngân sách tỉnh ủy thác để cho vay phát triển nhà ở xã hội.

Hằng năm, báo cáo NHCSXH Việt Nam để có kế hoạch điều chỉnh tăng, giảm nguồn vốn các chương trình tín dụng phù hợp; phối hợp các sở, ban, ngành tham mưu UBND, HĐND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xem xét bố trí, bổ sung nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác sang NHCSXH cho vay hộ nghèo chuẩn tỉnh, cho vay hỗ trợ việc làm, duy trì và mở rộng việc làm để ổn định phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Đồng thời, tích cực thực hiện huy động nguồn vốn từ các tổ chức kinh tế, đoàn thể, cá nhân và tổ TK&VV đảm bảo đạt 100% chỉ tiêu được giao.

Hai là, tăng cường triển khai thực hiện tốt các chương trình tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh

NHCSXH Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phối hợp các sở, ban, ngành, các cơ quan đơn vị, liên quan và địa phương triển khai có hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách xã hội đến với mọi người dân, đặc biệt phối hợp triển khai nâng mức đầu tư cho vay tối đa đối với những hộ sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, thu hút và giải quyết thêm việc làm mới để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đảm bảo thoát nghèo bền vững, giải quyết việc làm, phát triển nông thôn mới.

Phối hợp Hội đoàn thể thực hiện điều tra, rà soát đối tượng vay vốn chương trình học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, đảm bảo 100% học sinh, sinh viên có nhu cầu, đủ điều kiện được tiếp cận vốn vay theo quy định; phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, UBND cấp xã khảo sát nhu cầu vốn vay chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, đảm bảo trên 90% dân số tại các xã được tiếp cận vốn vay từ chương trình; tham mưu, phối hợp triển khai, rà soát nhu cầu vốn vay mua, thuê mua, cải tạo, sửa chữa nhà để ở, nắm chắc danh sách hộ có nhu cầu vay vốn đã và đang cấp phép xây dựng nhà ở tại địa phương để tư vấn, hướng dẫn thủ tục cho vay.

Ba là, tăng cường tham mưu cho hoạt động của Ban đại diện Hội đồng quản trị các cấp

Tham mưu Ban đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH cấp tỉnh, cấp huyện thực hiện tốt công tác chỉ đạo, điều hành hoạt động tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động tín dụng chính sách xã hội; chỉ đạo Trưởng thôn, ấp, khu phố thực hiện tốt việc quản lí vốn tín dụng chính sách từ khâu nhận chỉ tiêu phân bổ vốn đến tổ chức giám sát bình xét cho vay tại tổ TK&VV; lồng ghép các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao công nghệ với hoạt động cho vay của NHCSXH; theo dõi, giúp đỡ người vay vốn sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả; đôn đốc người vay trả nợ, trả lãi ngân hàng đầy đủ, đúng hạn.

Bốn là, tăng cường công tác đào tạo, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học

Chủ động, phối hợp rà soát danh sách cán bộ quy hoạch để đề xuất tham dự các lớp đào tạo kĩ năng lãnh đạo, quản lí do Trung ương tổ chức, đề xuất các cán bộ, nhân viên nghiệp vụ để tham dự các lớp tập huấn, đào tạo nghiệp vụ mới, nghiệp vụ chuyên sâu đảm đương nhiệm vụ, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản lí và sử dụng vốn tín dụng chính sách xã hội. Đồng thời, tham mưu UBND các cấp có kế hoạch và lộ trình đào tạo cán bộ Hội, cán bộ Ban quản lí tổ TK&VV đủ năng lực, trình độ, phát huy vai trò cầu nối và giám sát trong vay vốn, sử dụng vốn, đáp ứng yêu cầu khi triển khai dịch vụ, sản phẩm mới của NHCSXH như Internet Banking, Mobile Banking...

Phát huy ứng dụng các đề tài, sáng kiến về lĩnh vực nguồn vốn, tín dụng, tin học để áp dụng, sử dụng phần mềm Thông tin báo cáo để tra cứu thông tin, theo dõi đánh giá, phân tích các chỉ số: Doanh số cho vay, thu nợ, số lượt hộ vay trên quy mô dân số, mức cho vay, dư nợ cho vay bình quân, chỉ tiêu kế hoạch tín dụng, tỉ lệ tăng trưởng dư nợ, nợ quá hạn, số dư huy động tiết kiệm... từ đó đưa ra những biện pháp hiệu quả để không ngừng nâng cao hiệu quả cho vay.

Năm là, nâng cao trách nhiệm của cán bộ tín dụng quản lí địa bàn

Cán bộ tín dụng làm tốt công tác tham mưu cho Chủ tịch UBND cấp xã là thành viên Ban đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch tín dụng trên địa bàn. Phối hợp với hội đoàn thể, tổ TK&VV rà soát, bổ sung đầy đủ thông tin của khách hàng. Nắm chắc danh sách nợ đến hạn hằng tháng của từng tổ TK&VV, từng hội đoàn thể, từng xã để có kế hoạch thu nợ phù hợp và quan tâm đến công tác đào tạo, củng cố, nâng cao hoạt động của hội đoàn thể nhận ủy thác, tổ TK&VV. Đôn đốc hội đoàn thể nhận ủy thác, ban quản lí tổ TK&VV thực hiện đầy đủ nội dung công việc được ủy thác, ủy nhiệm. Bên cạnh đó, thường xuyên tự học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ về chuyên môn, kiến thức xã hội, kiến thức sản xuất để tuyên truyền, hướng dẫn cho người vay nắm bắt được chủ trương, chính sách của Nhà nước về tín dụng chính sách xã hội.

Sáu là, tăng cường công tác thông tin, truyền thông

Phối hợp các cơ quan báo chí, đài phát thanh và truyền hình Trung ương và địa phương đẩy mạnh tuyên truyền về hiệu quả tín dụng chính sách xã hội, các mô hình sản xuất - kinh doanh hiệu quả; kịp thời công khai các chủ trương, chính sách mới và kết quả thực hiện tín dụng chính sách xã hội, niêm yết công khai danh sách khách hàng vay vốn, các thông tin chính sách tín dụng tại các điểm giao dịch xã nhằm phát huy vai trò giám sát của chính quyền và nhân dân trong việc thực hiện tín dụng chính sách xã hội tại địa phương.

Bảy là, tăng cường hoạt động của Hội đoàn thể và Ban quản lí tổ TK&VV

Các tổ chức chính trị - xã hội kết hợp với các ban, ngành liên quan tăng cường các dịch vụ tư vấn hỗ trợ các hộ vay trong sản xuất, kinh doanh với nội dung sát với tình hình thực tế của từng địa phương. Lựa chọn, nhân rộng cách làm hay, các gương điển hình tiêu biểu, các mô hình sản xuất hiệu quả để hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác học tập, làm theo.

Ban quản lí tổ TK&VV thường xuyên duy trì sinh hoạt tổ theo định kì, qua đó, tuyên truyền, vận động hộ vay có ý thức, trách nhiệm trong việc trả nợ vay, thực hiện nghĩa vụ trả lãi hằng tháng và trả nợ theo đúng thỏa thuận với ngân hàng, gửi tiền tích lũy vốn để thực hiện trả nợ phân kì; thực hiện nghiêm túc công tác bình xét cho vay, đảm bảo đúng đối tượng, đúng quy trình, thủ tục, mức vay phù hợp; chú trọng xét nâng mức đầu tư đối với các hộ nghèo và người lao động vay vốn sản xuất, kinh doanh hiệu quả, có dự án khả thi, có uy tín.

3. Một số kiến nghị, đề xuất

Đối với NHCSXH Trung ương: Xem xét, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và cân đối một phần phí dịch vụ ủy thác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ để chi hỗ trợ cho Trưởng thôn, ấp, khu phố; xem xét, cân đối bổ sung thêm nguồn vốn Trung ương chương trình cho vay hỗ trợ việc làm, duy trì và mở rộng việc làm cho NHCSXH tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Đối với cấp ủy, chính quyền, Ban đại diện Hội đồng quản trị các cấp trong tỉnh: Thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đối với hoạt động tín dụng chính sách xã hội; tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt Chỉ thị số 40-CT/TW, Kết luận số 06-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quyết định số 401/QĐ-TTg và Quyết định số 1630/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn. Hằng năm, tiếp tục cân đối nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác sang NHCSXH để cho vay hộ nghèo theo chuẩn tỉnh, hộ mới thoát nghèo, cho vay hỗ trợ việc làm, duy trì và mở rộng việc làm và các đối tượng chính sách khác theo các đề án, kế hoạch, chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững, tạo việc làm, hỗ trợ nhà ở, phát triển nông thôn mới của tỉnh; tiếp tục chỉ đạo lồng ghép hoạt động tín dụng chính sách xã hội với việc thực hiện chính sách khuyến nông, lâm, ngư nghiệp, chuyển giao khoa học kĩ thuật, đào tạo nghề, xây dựng mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay.

Đối với các tổ chức chính trị - xã hội và các sở, ban, ngành tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Nghiên cứu, đề xuất các nguồn vốn cho hoạt động chính sách, an sinh xã hội từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn có tính chất từ thiện và các nguồn vốn hợp pháp khác, các nguồn vốn tài trợ của các tổ chức có mục tiêu dự án liên quan tới các chương trình: Giảm nghèo, tạo việc làm, bảo vệ môi trường, phát triển nhà ở xã hội, tài chính vi mô (nếu có),… ưu tiên chuyển sang NHCSXH cho vay; đồng thời, tạo điều kiện tối đa cho NHCSXH tiếp cận để tạo lập nguồn vốn lãi suất thấp theo hướng ổn định, lâu dài, bền vững. Kiện toàn, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của Ban đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH; phát huy vai trò, trách nhiệm của các thành viên Ban đại diện trong công tác chỉ đạo hoạt động tín dụng chính sách xã hội.

Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên cần tiếp tục thực hiện đầy đủ và hiệu quả công tác nhận ủy thác với NHCSXH. Xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất, kinh doanh điển hình, giúp nhau thoát nghèo và làm giàu chính đáng; làm tốt công tác khuyến nông, trợ giúp kiến thức khoa học kĩ thuật, thông tin thị trường… để hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác có thể tiếp cận và ứng dụng kĩ thuật mới vào hoạt động sản xuất một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn hộ vay sử dụng nguồn vốn đúng mục đích, đạt hiệu quả; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động tín dụng chính sách tại cơ sở, hoạt động ủy thác của các tổ chức chính trị - xã hội, hoạt động của tổ TK&VV, tình hình sử dụng vốn của người vay.

ThS. Võ Văn Hoàng
Phó Giám đốc NHCSXH Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu



https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN). Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu lần đầu tiên nước ta có một ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sự ra đời này là kết quả của quá trình xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, mở ra bước phát triển mới về chất trong hoạt động tài chính - tiền tệ. Trải qua 75 năm xây dựng, củng cố và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế về giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro, qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chuyển đổi hiệu quả sang mô hình giám sát hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Chuyển đổi tư duy bảo vệ dữ liệu cá nhân: Xây văn hóa, củng cố niềm tin trong hoạt động ngân hàng

Chuyển đổi tư duy bảo vệ dữ liệu cá nhân: Xây văn hóa, củng cố niềm tin trong hoạt động ngân hàng

Sự hoàn thiện không ngừng của các quy định pháp lý đang giúp hệ thống ngân hàng định hình rõ nét chiến lược bảo vệ dữ liệu cá nhân, song cũng đặt ra không ít thách thức về quản lý sự thay đổi và nguồn lực triển khai. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) nhìn nhận đây là hành trình hoàn thiện công tác quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động ngân hàng. Hành trình này không chỉ dừng lại ở thay đổi các quy trình nghiệp vụ, mà sâu xa hơn, đây là quá trình nâng cao giá trị thương hiệu, mở ra cánh cửa để ngân hàng sẵn sàng trao đổi và chia sẻ dữ liệu trong hệ sinh thái mở.
Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam

Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam

Từ hào khí bất diệt của ngày 30/4 lịch sử đến nhịp sống sôi động của công cuộc kiến thiết đất nước hôm nay, ngành Ngân hàng đang tiếp nối tinh thần bất khuất và khát vọng vươn mình của dân tộc Việt Nam bằng những bước chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định vai trò trụ cột tài chính và động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trong kỷ nguyên mới.
Nhận thức về ngân hàng xanh và hành vi lựa chọn ngân hàng thân thiện môi trường tại Việt Nam

Nhận thức về ngân hàng xanh và hành vi lựa chọn ngân hàng thân thiện môi trường tại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của nhận thức ngân hàng xanh đến thái độ và hành vi lựa chọn của khách hàng Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò điều tiết của niềm tin môi trường trong việc thúc đẩy hành vi tài chính bền vững.
Đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng: Tổng quan các phương pháp và hướng tiếp cận mới nổi

Đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng: Tổng quan các phương pháp và hướng tiếp cận mới nổi

Bài viết tổng quan các phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại, đồng thời cập nhật các xu hướng nghiên cứu mới như mô hình mạng lưới, phân tích đa giai đoạn và tích hợp tiêu chí môi trường, xã hội, quản trị (ESG) nhằm nâng cao chất lượng đánh giá và hàm ý chính sách.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành