Bảo mật thông tin khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số - Thực trạng và một số kiến nghị

Công nghệ & ngân hàng số
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng, tạo ra những thay đổi rõ rệt trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt làm thay đổi kênh phân phối và các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng truyền thống, nổi bật là việc xây dựng và phát triển các dịch vụ ngân hàng số. Việc ứng dụng công nghệ số góp phần thay đổi dịch vụ, doanh thu và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
aa

Tóm tắt: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng, tạo ra những thay đổi rõ rệt trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt làm thay đổi kênh phân phối và các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng truyền thống, nổi bật là việc xây dựng và phát triển các dịch vụ ngân hàng số. Việc ứng dụng công nghệ số góp phần thay đổi dịch vụ, doanh thu và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, xu hướng phát triển này cũng tạo ra không ít thách thức cho các cơ quan quản lí, đặc biệt là trong vấn đề bảo mật thông tin liên quan đến ngân hàng. Bài viết tập trung làm rõ sự cần thiết của việc bảo mật thông tin khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số; tiến hành đánh giá thực trạng bảo mật thông tin khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại Việt Nam; từ đó, đưa ra một số giải pháp kiến nghị hoàn thiện vấn đề này.

Từ khóa: Bảo mật, thông tin, ngân hàng số, khách hàng, dịch vụ.

SECURITY ON CUSTOMER INFORMATION IN USING DIGITAL BANKING SERVICES - CURRENT SITUATION AND SOME RECOMMENDATIONS

Abstract: The Fourth Industrial Revolution has been taking place at a rapid pace, creating obvious changes in the banking sector, especially changing traditional distribution channels and banking products and services. Prominent is the construction and development of digital banking services. The application of digital technology will contribute to changing services, revenue and business efficiency of banks, but this development trend also creates many challenges for regulators, interm of information security related to banking. The article assesses current status of customer information security in using digital banking services and makes recommendations for improvement.

Keywords: Security, information, digital banking, customers, services.

1. Đặt vấn đề

Đảm bảo bí mật thông tin khách hàng là một trong các vấn đề quan trọng trong kế hoạch phát triển kinh doanh của các tổ chức tín dụng (TCTD). Tại Việt Nam, các TCTD nổi bật là các ngân hàng đã triển khai nhiều dịch vụ thanh toán mới phù hợp với xu thế thanh toán của các nước trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển các dịch vụ mang lại sự thuận tiện, nhanh chóng, tiết kiệm cho người dùng thì cả ngân hàng cũng như khách hàng đang phải đối mặt với các hành vi khai thác thông tin tinh vi, việc xâm phạm bí mật thông tin của khách hàng trong hoạt động ngân hàng càng trở nên phổ biến hơn. Do đó, việc đảm bảo bí mật thông tin và dữ liệu khách hàng là điều vô cùng cần thiết và cần có những giải pháp hiệu quả trong bối cảnh hiện nay.

2. Sự cần thiết của việc bảo mật thông tin khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số

Ngân hàng số là mô hình hoạt động của ngân hàng đáp ứng xu thế công nghệ của thế giới trong đó các hoạt động chủ yếu dựa vào các nền tảng dữ liệu điện tử và công nghệ số. Các dịch vụ ngân hàng số phổ biến hiện nay có thể nhắc tới như: Home Banking, Internet Banking, Mobile Banking, thẻ ngân hàng, ví điện tử... Trong đó, dịch vụ Internet Banking đem lại rất nhiều tính năng, tiện ích mới như chuyển tiền đến thẻ Visa, chuyển tiền bằng Mobile Banking, nạp tiền điện thoại hoặc thẻ trả trước, thanh toán hóa đơn tự động... Nhìn chung, ngân hàng số thịnh hành và phát triển vượt bậc trong những năm gần đây góp phần đem lại nhiều lợi ích cho ngân hàng cũng như khách hàng.

Về phía ngân hàng, ngân hàng số mở rộng phạm vi hoạt động, tiếp cận với khách hàng mà không bị giới hạn về không gian và thời gian. Với sự hỗ trợ từ công nghệ, dịch vụ ngân hàng số còn có thể phục vụ tốt hơn nhiều đối tượng khách hàng, thậm chí cả những khách hàng ở vùng sâu, vùng xa, giúp ngân hàng nâng cao lợi thế cạnh tranh hiệu quả, cắt giảm được các chi phí giao dịch như: Chi phí văn phòng, nhân viên, văn phòng phẩm, quản lí hệ thống kho quỹ. Ngân hàng số tăng tốc độ xử lí và đảm bảo hiệu quả vận hành, cải thiện hiệu quả hoạt động ngân hàng bán lẻ, giúp các ngân hàng nắm bắt hành vi thay đổi của khách hàng và đáp ứng tốc độ thay đổi nhanh của thị trường, tăng cường trải nghiệm khách hàng. Việc phát triển và đưa vào sử dụng ngân hàng số mang đến nhiều lợi ích thiết thực cho ngân hàng, hoạt động phát triển các sản phẩm, dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ số tạo điều kiện cho nhiều ngân hàng nâng tỉ trọng nguồn thu trong tổng lợi nhuận chung. Mô hình ngân hàng số với các sản phẩm, dịch vụ tài chính đa dạng, thủ tục đơn giản, thời gian xử lí nhanh và giao dịch không bị rào cản bởi vị trí địa lí thông qua thiết bị kết nối với Internet rất phù hợp với xu hướng hiện đại hóa, công nghiệp hóa.

Về phía khách hàng, có thể thực hiện và xác nhận các giao dịch với mức độ chính xác cao và nhanh chóng. Khi đã hoàn tất giao dịch, trang web hoặc ứng dụng điện thoại sẽ chuyển sang một giao diện mới có chứa thông tin giao dịch. Những thông tin này sẽ được lưu trữ trong lịch sử giao dịch nên rất thuận tiện cho khách hàng tìm kiếm và tra cứu. Ngoài ra, ngân hàng số tiết kiệm tối đa chi phí và thời gian cho khách hàng. Khi sử dụng ngân hàng truyền thống nếu muốn thực hiện các giao dịch như chuyển tiền, gửi tiết kiệm hoặc đóng bảo hiểm... thì khách hàng sẽ phải tới các chi nhánh ngân hàng để tiến hành giao dịch. Khi sử dụng ngân hàng số, các giao dịch sẽ trở nên đơn giản, nhanh chóng, tiết kiệm rất nhiều thời gian và chi phí.

Cùng với những ưu thế mà ngân hàng số mang lại thì vấn đề bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng là một vấn đề khá phức tạp và đang được quan tâm vì bảo mật thông tin liên quan đến lợi ích của khách hàng, nghĩa vụ của các TCTD và các bên thứ ba muốn tiếp cận thông tin đó để đáp ứng các mục đích của họ. Mặc dù hiện nay, các dịch vụ ngân hàng số đều triển khai bảo mật ba lớp bao gồm: Tên đăng nhập, mật khẩu và mã bảo vệ (OTP) để đảm bảo an toàn đối với tài sản của khách hàng. Tuy nhiên, việc xuất hiện hoạt động tội phạm trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng trong thời gian qua phản ánh tình trạng lỗ hổng trong bảo mật nghiêm trọng khi hàng loạt khách hàng bị lộ thông tin, rao bán thông tin, thậm chí là bị mất tiền trong tài khoản. Năng lực phòng, chống gian lận đối với các giao dịch ngân hàng số luôn được các ngân hàng quan tâm, song vẫn chưa thể tạo sự yên tâm cho khách hàng. Chính vì thế, việc bảo mật thông tin khách hàng khi sử dụng ngân hàng số là chìa khóa quan trọng cho việc phát triển ngân hàng số mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

3. Thực trạng bảo mật thông tin khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại Việt Nam

Theo số liệu của Vụ Thanh toán - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), năm 2022, khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng thông qua các kênh thanh toán Internet Banking và Mobile Banking có sự tăng trưởng rất lớn so với cùng kì năm 2021. Cụ thể, số lượng giao dịch trên kênh Internet Banking năm 2022 tăng gần 48% so với năm 2021 và giá trị giao dịch tăng hơn 1.328% từ 811.717 tỉ đồng lên 10.868.458 tỉ đồng; số lượng giao dịch và giá trị giao dịch trên kênh Mobile Banking cũng tăng lên 100%. Đây là kết quả của quá trình chuyển đổi số ngân hàng đã làm thay đổi hành vi sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng, góp phần đẩy nhanh quá trình số hóa ngân hàng.

Khi thói quen của khách hàng dần chuyển qua sử dụng ngân hàng số với nhiều tiện ích thì bài toán đặt ra đối với cả phía ngân hàng và khách hàng về vấn đề bảo mật thông tin là vô cùng quan trọng. Xu hướng gia tăng tội phạm công nghệ cao với nhiều thủ đoạn mới và ngày càng tinh vi. Cụ thể, rủi ro lộ SMS, OTP, rủi ro từ người thân, rủi ro từ tài khoản giả mạo, mua bán dùng chứng minh thư giả để mở tài khoản. Khi khách hàng bị lừa tiền, tiền chuyển rất nhanh qua các tài khoản giả mạo. Khác với tội phạm truyền thống, tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng khi thực hiện các hành vi phạm tội không bị giới hạn về thời gian, không gian, cách thức tấn công đa dạng từ việc gây gián đoạn, mất khả năng cung cấp dịch vụ của các ngân hàng; lừa đảo, chiếm đoạt tiền của ngân hàng, khách hàng đến việc lấy cắp và sử dụng tài liệu, thông tin của khách hàng cũng như của ngân hàng.

Phát triển ngân hàng số đang đối mặt với vấn đề bảo mật thông tin khách hàng, khi ngân hàng luôn là mục tiêu số một của tội phạm công nghệ. Hiện nay, khách hàng có nhu cầu làm thẻ ngân hàng đều có thể làm online và thẻ được chuyển tận nơi. Khách hàng làm thẻ được quét căn cước công dân, điền đầy đủ các thông tin cá nhân và quét nhận diện khuôn mặt để hoàn thành thủ tục đăng kí làm thẻ ngân hàng. Tuy nhiên, không thể khẳng định được mức độ bảo mật của các phần mềm online của ngân hàng khi hàng loạt các thông tin cá nhân bị lộ dưới nhiều hình thức khác nhau. Có thể nhắc đến hình thức đánh cắp thông tin thông qua việc đối tượng lừa đảo thực hiện gửi nội dung thông báo kèm theo đường link qua tin nhắn SMS, email, phần mềm chat... Thậm chí, SMS gửi về điện thoại có định dạng tên và mã rất giống với thương hiệu của các ngân hàng để lừa khách hàng bấm vào link và cung cấp thông tin bảo mật dịch vụ ngân hàng số và dịch vụ thẻ (tên đăng nhập, số thẻ, mật khẩu, mã OTP), từ đó chiếm đoạt tiền trong tài khoản của khách hàng. Mặc dù đã sử dụng nhiều hình thức bảo mật nhưng khả năng bị đánh cắp thông tin cá nhân vẫn có thể xảy ra vì máy tính truy cập có thể bị cài những mã độc, đòi hỏi cả ngân hàng và khách hàng phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh bảo mật... Năm 2022, tội phạm nước ngoài đã xâm nhập vào hệ thống máy chủ của một số ngân hàng thương mại lớn của Việt Nam để đánh cắp tiền trong tài khoản khách hàng. Văn phòng Bộ Công an cho biết, thời gian qua, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm công nghệ cao đã phát hiện một số nhóm tội phạm người nước ngoài tấn công, xâm nhập vào hệ thống ngân hàng thương mại lớn của Việt Nam nhằm mục đích đánh cắp thông tin, chiếm đoạt tiền trong tài khoản. Thủ đoạn của các đối tượng là rà quét lỗ hổng bảo mật, tấn công leo thang đặc quyền, truy cập trái phép vào hệ thống quản trị của máy chủ tại các ngân hàng để rút tiền trong tài khoản của khách hàng. Có thể thấy, lừa đảo qua cách thức tạo website giả mạo và lừa đảo lấy thông tin từ khách hàng vẫn là nguyên nhân chính gây ra những thiệt hại cho khách hàng, nhiều khách hàng do thiếu hiểu biết nên đã bị kẻ gian lợi dụng lừa đảo, gian lận thẻ tín dụng chiếm đoạt tiền.

Trong thực tế, mức độ an toàn bảo mật thông tin hiện nay tại Việt Nam chưa thật sự cao. Đồng thời hành lang pháp lí cho vấn đề này còn chưa hoàn thiện, khuôn khổ pháp lí còn đang được rà soát, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với bối cảnh tình hình mới, phần nào làm giảm cơ hội, tăng nguy cơ xảy ra rủi ro khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số.

4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo mật thông tin khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại Việt Nam


Từ những thực trạng về việc bảo mật thông tin khách hàng khi sử dụng ngân hàng số hiện nay, cần tăng cường thêm những giải pháp thiết thực nhằm xây dựng và phát huy những ưu thế của ngân hàng số, giảm thiểu rủi ro cho khách hàng cũng như đẩy mạnh hoạt động ngân hàng. Theo đó, một số giải pháp có thể kể đến như:

Thứ nhất, các ngân hàng cần tập trung đầu tư nâng cấp hệ thống hạ tầng bảo mật đảm bảo mức độ an toàn cao nhất, trong trường hợp hệ thống máy chủ của ngân hàng có nguy cơ bị tấn công thì phải có phương án hạn chế tối đa sự ảnh hưởng đến người dùng thông qua hệ thống dự phòng dữ liệu hay cơ chế đối chiếu dữ liệu để kịp thời khôi phục dữ liệu khi xảy ra sự cố. Thiết lập các hệ thống phòng, chống xâm nhập cho các vùng thông tin, xác thực mạnh, quét khuôn mặt và chữ kí số để bảo đảm giao dịch trực tuyến, duy trì giám sát, kiểm tra, phát hiện các lỗ hổng. Hệ thống dữ liệu và ứng dụng trong các ngân hàng cần được mã hóa theo các tiêu chuẩn như TLS, AES256 khi lưu trữ và giao dịch với khách hàng để bảo vệ dữ liệu. Hầu hết các dữ liệu hiện nay được lưu trữ trên nền tảng đám mây, tuy nhiên, dữ liệu “đám mây” cũng có thể trở thành mục tiêu tấn công của nhiều đối tượng xấu. Chính vì vậy mà tình trạng thao túng và đánh cắp tài khoản cá nhân thường xảy ra. Do đó, các ngân hàng cần đẩy mạnh sử dụng một mạng riêng ảo (Virtual Private Network - VPN), là một công nghệ mạng giúp tạo kết nối mạng an toàn khi tham gia vào mạng công cộng như Internet hoặc mạng riêng do một nhà cung cấp dịch vụ sở hữu. Đồng thời, nó giúp bảo vệ dữ liệu trực tuyến trước những kẻ tấn công bằng việc mã hóa đường truyền, giấu địa chỉ IP thật. Ngoài ra, VPN sẽ bảo vệ dữ liệu riêng tư của khách hàng bằng các thông tin trực tuyến cũng như các thông tin quan trọng của khách hàng.

Thứ hai, đẩy mạnh tương tác với khách hàng và đưa ra các khuyến cáo để khách hàng chủ động bảo vệ thiết bị cá nhân và thay đổi thường xuyên mật khẩu truy cập dịch vụ, email cá nhân và chỉ thực hiện đăng nhập trên website chính thức của ngân hàng. Chỉ thực hiện thanh toán online khi mua sắm trực tuyến tại các trang mạng uy tín, giữ bí mật tuyệt đối bảo mật mã OTP, không dùng tính năng ghi nhớ mật khẩu tại các trình duyệt, không truy cập các website lạ, cũng như không click vào đường link lạ được gửi qua tin nhắn, qua email không rõ nguồn gốc, qua mạng xã hội... Không cung cấp thông tin khi nhận được cuộc gọi giả mạo yêu cầu cung cấp thông tin.

Thứ ba, các ngân hàng cần tiếp tục áp dụng một số hàng rào kĩ thuật để bảo đảm sự tổn thất của người dùng trong trường hợp bị lừa đảo. Có thể nhắc đến việc quy định hạn mức chuyển tiền một lần, hạn mức chuyển tiền liên ngân hàng... Ngay cả giao dịch trong hệ thống ngân hàng chuyển tiền giữa các ngân hàng với nhau cũng cần có quy định giới hạn chuyển từng lần, hạn mức từng ngày... Các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cần tuân thủ các quy định, hướng dẫn của NHNN để đảm bảo an toàn bảo mật giao dịch ngân hàng trực tuyến.

5. Kết luận

Những sự cố về an toàn thông tin có thể gây thiệt hại cả về mặt tài chính cũng như uy tín của ngân hàng. Đảm bảo bí mật thông tin của khách hàng sẽ giúp cho các ngân hàng tối thiểu hóa được các thiệt hại khi có rủi ro xảy ra, đồng thời tối đa lợi nhuận thu được từ các hoạt động kinh doanh, bảo vệ sự phát triển liên tục và bền vững của các ngân hàng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu áp dụng các giải pháp cần thiết để góp phần nâng cao hiệu quả bảo đảm bí mật thông tin của khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số là điều quan trọng, cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Thị Mỹ Điểm, Nguyễn Thị Hải (2022), “Thực trạng phát triển các dịch vụ ngân hàng số tại Việt Nam và bài học kinh nghiệm thế giới”, Tạp chí Công Thương, số 19, tháng 8/2022.

2. Thanh Hòa (2022), Phát hiện tội phạm nước ngoài tấn công vào hệ thống ngân hàng Việt Nam, Công an Thành phố Hồ Chí Minh, https://congan.com.vn/an-ninh-kinh-te/phat-hien-toi-pham-nuoc-ngoai-tan-cong-vao-he-thong-ngan-hang-viet-nam_132142.html, truy cập ngày 23/02/2023.

ThS. Phạm Thị Hồng Tâm (Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Phan Thiết)

ThS. Trần Linh Huân, Đặng Thị Ngọc Hà (Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng trong bối cảnh ngân hàng số Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm mới cho bối cảnh Việt Nam, đồng thời củng cố các lý thuyết trước đó về niềm tin trong môi trường ngân hàng số.
Tích hợp chuẩn mực đạo đức trí tuệ nhân tạo vào khung đạo đức nghề nghiệp ngân hàng

Tích hợp chuẩn mực đạo đức trí tuệ nhân tạo vào khung đạo đức nghề nghiệp ngân hàng

Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang tái định hình hoạt động của ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra nhiều thách thức đạo đức mới như thiên vị thuật toán và sự thiếu minh bạch.
Nền tảng dữ liệu số về công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng

Nền tảng dữ liệu số về công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng

Trong bối cảnh kinh tế số đang phát triển mạnh mẽ và nhu cầu của khách hàng đối với dịch vụ số ngày càng tăng cao, ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, tiện ích mới, mang lại nhiều trải nghiệm cho khách hàng. Tuy nhiên, tội phạm công nghệ cao hiện đang gia tăng nhanh chóng, diễn biến phức tạp và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng.
Nghiên cứu triển khai tiền kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Nghiên cứu triển khai tiền kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Tiền kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương (CBDC) là một dạng tiền pháp định kỹ thuật số, do chính Ngân hàng Trung ương phát hành, bảo lãnh. Loại tài sản này được kỳ vọng sẽ cải thiện đáng kể hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia thông qua việc giảm chi phí giao dịch, tăng tốc độ xử lý.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tăng tốc chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tăng tốc chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số, AI không chỉ là một công cụ công nghệ đơn lẻ mà đã trở thành một động lực cốt lõi, một chất xúc tác chiến lược định hình lại toàn bộ kiến trúc và mô hình vận hành của ngành Ngân hàng.
Bức tranh chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam năm 2025: Một số thành tựu, thách thức và định hướng chiến lược

Bức tranh chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam năm 2025: Một số thành tựu, thách thức và định hướng chiến lược

Năm 2025, ngành tài chính - ngân hàng Việt Nam đã hình thành nền tảng số hóa vững chắc, mở ra một giai đoạn phát triển mới với mức độ trưởng thành cao hơn về dịch vụ số, hạ tầng định danh điện tử và mô hình vận hành hiện đại. Những thành tựu này tạo đà thuận lợi để toàn ngành bước vào năm 2026 với tâm thế chủ động, sẵn sàng khai thác các cơ hội tăng trưởng gắn với công nghệ và dữ liệu.
Pháp luật Liên minh châu Âu về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Pháp luật Liên minh châu Âu về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu, hoạt động mua bán, cung ứng hàng hóa và dịch vụ qua các sàn thương mại điện tử không chỉ mang lại sự tiện lợi cho người tiêu dùng mà còn mở ra những cơ hội cạnh tranh mới cho doanh nghiệp.
Trò chơi hóa và mức độ gắn kết người dùng: So sánh ứng dụng giữa Fintech và ngân hàng thương mại

Trò chơi hóa và mức độ gắn kết người dùng: So sánh ứng dụng giữa Fintech và ngân hàng thương mại

Các ứng dụng Fintech thể hiện mức độ tương tác vượt trội nhờ khả năng ứng dụng công nghệ linh hoạt, đặc biệt là việc tích hợp trò chơi hóa. Yếu tố trò chơi đã giúp các nền tảng Fintech nâng cao động lực sử dụng, tăng thời lượng truy cập và giảm tác động của trải nghiệm tiêu cực về kỹ thuật.
Xem thêm
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bài viết làm rõ triển vọng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đồng thời chỉ ra những điều kiện then chốt để mô hình này phát triển hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Tài chính xanh chỉ có thể phát huy hiệu quả khi dòng vốn được phân bổ đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và thực chất, nhằm bảo đảm tín dụng xanh không chỉ là trách nhiệm với cộng đồng mà còn trở thành cơ hội chiến lược để các ngân hàng định vị hướng phát triển bền vững của mình.
Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm tiền gửi trong mạng lưới an toàn tài chính quốc gia

Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm tiền gửi trong mạng lưới an toàn tài chính quốc gia

Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/5/2026, đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong khuôn khổ pháp lý bảo vệ người gửi tiền tại Việt Nam. Trong bối cảnh hệ thống tài chính - ngân hàng phát triển theo chiều sâu và rủi ro lan truyền gia tăng, bảo hiểm tiền gửi đang được tái định vị như một công cụ chính sách chủ động nhằm quản trị rủi ro hệ thống và củng cố niềm tin thị trường.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Cải cách chính sách thuế thu nhập cá nhân trong bối cảnh hiện đại hóa quản lý tài chính và kinh tế số

Cải cách chính sách thuế thu nhập cá nhân trong bối cảnh hiện đại hóa quản lý tài chính và kinh tế số

Luật Thuế Thu nhập cá nhân năm 2025 cho thấy cách tiếp cận mới trong xây dựng chính sách thuế, khi không chỉ tập trung mở rộng diện thu và tăng cường quản lý thu nhập mà còn chủ động sử dụng thuế như một công cụ định hướng phát triển kinh tế bền vững.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế  và khuyến nghị đối với Việt Nam

Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh xét theo cả quy mô giao dịch và mức độ phổ cập trong đời sống tài chính, yêu cầu hoàn thiện khung phòng, chống rửa tiền trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, bởi các chỉ dấu khách quan cho thấy Việt Nam vừa nằm trong nhóm quốc gia có giá trị giao dịch trên chuỗi rất lớn.
Pháp luật Liên minh châu Âu  về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Pháp luật Liên minh châu Âu về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Dữ liệu cá nhân giữ vai trò nền tảng trong thương mại điện tử, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động tương tác và kinh doanh trên môi trường số. Bài viết phân tích quy định của EU (đặc biệt là GDPR 2016), đánh giá tác động thực thi, so sánh với pháp luật Việt Nam để chỉ ra bất cập và đề xuất hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử.
Thị trường hàng hóa: Thực tế và kỳ vọng

Thị trường hàng hóa: Thực tế và kỳ vọng

Ngày 29/10/2025, Ngân hàng Thế giới (WB) công bố báo cáo định kỳ hai lần trong một năm với phân tích cụ thể liên quan đến các nhóm hàng hóa chủ chốt, bao gồm năng lượng, nông nghiệp, kim loại.

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng

Thông tư số 42/2025/TT-NHNN quy định về kiểm toán độc lập đối với tổ chức tín dụng là hợp tác xã

Thông tư số 41/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán

Thông tư số 27/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền

Thông tư số 25/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 17/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 quy định việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán