Vận hành hệ thống quản lý dữ liệu của Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam: Hợp đồng CG1 – Dự án FSMIMS

Hoạt động ngân hàng
Trần Hiền Sáng ngày 08/12/2017, Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) phối hợp với Công ty Hệ thống thông tin FPT (FPT IS) tổ chức Lễ Công bố vận hành Hệ thống quản lý dữ liệu của Tr...
aa

Trần Hiền


Sáng ngày 08/12/2017, Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) phối hợp với Công ty Hệ thống thông tin FPT (FPT IS) tổ chức Lễ Công bố vận hành Hệ thống quản lý dữ liệu của Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam, thuộc phạm vi Hợp đồng CG1 - Dự án Hệ thống thông tin quản lý và Hiện đại hóa Ngân hàng (FSMIMS) do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ.

Ðôi nét về Hợp đồng CG1
Hợp đồng CG1 - Xây dựng Hệ thống quản lý dữ liệu của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam là một nội dung trong Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của dự án Hệ thống thông tin quản lý và Hiện đại hóa Ngân hàng (FSMIMS) từ năm 2007 và Hiệp định Tín dụng chính thức được ký kết năm 2009. Đây là một hợp phần quan trọng trong dự án FSMIMS của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhằm nâng cao năng lực hoạt động cho CIC cả về nền tảng công nghệ thông tin và quy trình nghiệp vụ. Hợp đồng CG1 do liên danh nhà thầu là Công ty Hệ thống Thông tin FPT (FPT IS) và Trung tâm thông tin tín dụng DP của Singapore triển khai thực hiện từ tháng 11/2013, bao gồm trang bị hệ thống các máy chủ, cơ sở dữ liệu và kho dữ liệu, hệ thống bảo mật, dự phòng và các phần mềm ứng dụng liên quan khác.
Hệ thống bao gồm 2 cấu phần với 6 module chính. Sau hơn 2 năm triển khai và gần 9 tháng vận hành, hệ thống đã hoạt động cơ bản ổn định, đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng. Với việc triển khai thành công Hệ thống CG1 nói riêng và dự án FSMIMS nói chung, CIC đã có được một hệ thống thông tin hiện đại, tương đối hoàn chỉnh để trở thành một trụ cột quan trọng của hệ thống cơ sở hạ tầng tài chính Việt Nam.
Đánh giá về Hợp đồng CG1, ông Đỗ Hoàng Phong, Tổng Giám đốc CIC, tổ trưởng tổ triển khai gói thầu CG1 cho biết, đây là dự án lớn nhất của CIC được triển khai trong gần 20 năm hoạt động của CIC. Gói thầu CG1 giúp CIC xây dựng một cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tiên tiến, bền vững, có thể mở rộng và đầu tư phát triển được trong tương lai; tạo lập một kho dữ liệu tập trung, thống nhất về khách hàng vay của các TCTD trên toàn quốc; có thể mở rộng và tích hợp được thông tin đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau; phát triển các sản phẩm và dịch vụ để tăng cường, hỗ trợ công tác chỉ đạo, điều hành của NHNN và hoạt động kinh doanh của các TCTD; nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của khách hàng vay.

Một số khó khăn trong quá trình triển khai
Với nguồn lực rất hạn hẹp trong khi gói thầu CG1 có phạm vi rộng về nghiệp vụ và phức tạp về mặt công nghệ, nhưng đã được CIC triển khai hiệu quả và đảm bảo chất lượng. Theo kế hoạch dự án “Hệ thống quản lý dữ liệu CIC” được triển khai trong vòng 14 tháng, từ tháng 11/2013 đến hết tháng 12/2014. Nhưng trên thực tế, toàn bộ nghiệp vụ của CIC mới thực sự được thực hiện trên hệ thống mới từ tháng 03/2016 và từ đó đến nay là quá trình hoàn thiện, tinh chỉnh hệ thống. Sự chậm trễ này là do trong quá trình triển khai dự án gặp phải những khó khăn sau:
Một là, mô hình hoạt động của Hệ thống thông tin tín dụng của các nước trên thế giới khá đa dạng, trong khi mô hình hoạt động TTTD ở Việt Nam lại có những khác biệt so với nhiều nước. CIC vừa làm nhiệm vụ phục vụ hoạt động quản lý nhà nước, vừa tự chủ về hoạt động dịch vụ. Trên thị trường không thể có một phần mềm có sẵn, một giải pháp tối ưu từ nước ngoài vào Việt Nam mà phải hoàn thiện, cải tiến cho phù hợp với điều kiện thực tế. Vì vậy, CIC và nhà thầu cũng gặp khó khăn trong thời gian đánh giá FIT/GAP, một số cán bộ nghiệp vụ có tâm lý không muốn sự thay đổi hoàn toàn về quy trình nghiệp vụ khi hệ thống đang hoạt động ổn định.
Hai là, dự án được nghiên cứu tiền khả thi từ khá lâu nên chưa dự báo chính xác được về nhu cầu và xu hướng phát triển. Trong quá trình triển khai, để đáp ứng yêu cầu sử dụng thông tin của các đơn vị NHNN và TCTD, NHNN đã ban hành Thông tư 03/2013/TT-NHNN về hoạt động TTTD của NHNN thay thế cho quy chế TTTD cũ, do vậy các chỉ tiêu thông tin đầu vào tác động đến dự án đã tăng lên khá nhiều, kéo theo là sự thay đổi về các quy trình nghiệp vụ, vì vậy đã phát sinh thêm một số công việc cho CIC và nhà thầu.
Ba là, để tiết kiệm nguồn vốn vay từ WB, CIC phải tận dụng các máy móc, thiết bị cũ đang sử dụng để lắp đặt cho hệ thống dự phòng. Đồng thời, CIC vẫn phải đảm bảo duy trì hoạt động bình thường của đơn vị để nguồn thông tin phục vụ công tác chỉ đạo điều hành và hoạt động kinh doanh của các TCTD không bị gián đoạn. Đặc biệt, trong giai đoạn này CIC phải triển khai thực hiện thêm nhiều nhiệm vụ mới như: Chấm điểm khách hàng vay cá nhân, thực hiện Thông tư 02/2013/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thông tư 09/2014/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 02/2013/TT-NHNN; hỗ trợ quá trình kiểm soát và xử lý nợ xấu, thu thập thông tin từ các tổ chức tài chính vi mô…
Để hoàn thành dự án, liên danh nhà thầu FIS-DP đã phối hợp chặt chẽ với CIC, quyết tâm khắc phục khó khăn để triển khai theo thời hạn được WB phê duyệt. Sự thành công của dự án CG1 là sự cam kết mạnh mẽ và lòng tin vào thắng lợi của Ban Lãnh đạo NHNN và của Ban Lãnh đạo CIC (Tổ triển khai của CIC); cùng với sự quyết tâm, nhiệt tình và sáng tạo trong triển khai của đội ngũ cán bộ trực tiếp tham gia; sự phối hợp chặt chẽ, có trách nhiệm giữa các đơn vị nghiệp vụ, kỹ thuật và Ban quản lý dự án FSMIMS; sự giám sát chặt chẽ và hỗ trợ tích cực của WB cùng với sự nỗ lực đồng hành của liên danh nhà thầu FIS-DP.
Hiệu quả mang lại khi Hợp đồng CG1 đi vào hoạt động
Về quy trình nghiệp vụ, toàn bộ những quy trình được xử lý thủ công, bán thủ công và cắt khúc, thiếu sự liên hệ giữa các nghiệp vụ trước đây đã được thay thế bằng một hệ thống các quy trình xử lý tự động, xuyên suốt và kết nối liên hoàn giữa các nghiệp vụ từ khâu thu thập xử lý dữ liệu; kiểm soát và cập nhật dữ liệu; tính toán các chỉ số PD ngành, doanh nghiệp; tạo lập báo cáo tín dụng; hệ thống lưu trữ và quản lý cơ sở dữ liệu; hệ thống đăng ký tín dụng và tương tác trực tiếp với khách hàng vay; xử lý khiếu nại; điều chỉnh dữ liệu sai sót… Các quy trình nghiệp vụ được chuyển tiếp liên thông giữa các hệ thống và kiểm soát tự động theo các quy tắc đã định sẵn, giảm thiểu yếu tố con người đã giúp cho quá trình tác nghiệp nhanh chóng, chính xác và an toàn.
Nền tảng kỹ thuật công nghệ của CIC cũng có bước tiến dài, sử dụng nền tảng công nghệ tiên tiến của các hãng công nghệ hàng đầu thế giới: quản trị cơ sở dữ liệu 03 lớp; hệ thống an toàn, bảo mật hiện đại ngăn chặn truy cập trái phép; hệ thống cho phép nhiều tài khoản có thể truy cập cùng một thời điểm; một tài khoản đăng nhập duy nhất dùng chung cho các ứng dụng (single sign on); các hệ thống ứng dụng được tích hợp, kết nối thông qua một trục tích hợp thay vì kết nối đan xen, trực tiếp với nhau của giai đoạn trước; các ứng dụng được cài đặt, dùng chung trên một kho tài nguyên tập trung, duy nhất của CIC, giúp dễ dàng trong quản lý, vận hành và tiết kiệm chi phí đầu tư, bảo trì.
Về hiệu quả hoạt động của dự án, như đánh giá của WB và của NHNN, thông qua dự án này, CIC đã nâng cao chất lượng Cơ sở dữ liệu TTTD Quốc gia cả về chiều rộng và chiều sâu; nguồn thông tin đã mở rộng tới các TCTD nhỏ như các Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính vi mô; tổng số khách hàng vay lưu trữ nâng lên trên 34 triệu khách hàng, độ sâu thông tin là 7/8, độ phủ thông tin là 51% trên số người trưởng thành, cao hơn nhiều so với khu vực Đông Á - Thái Bình Dương (4,2/8 điểm và 16%) và nhóm các nước OECD (6,6/ 8 điểm và 18,3%). Số lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp cho NHNN và các TCTD trong 9 tháng đầu năm 2017 đã đạt trên 10 triệu báo cáo, vượt số lượng của cả năm 2016 và gấp 02 lần năm 2015 (thời điểm chưa vận hành hệ thống mới). Thời gian truy xuất thông tin của CIC cũng được giảm xuống dưới 10 giây, chất lượng báo cáo được đảm bảo.
Phát biểu tại Lễ công bố vận hành Hệ thống quản lý dữ liệu - Hợp đồng CG1, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh đã đánh giá cao sự nỗ lực của Tổ triển khai Hợp đồng CG1, đồng thời ghi nhận một số ưu điểm của hệ thống mới, đó là:
Thứ nhất, hệ thống quản lý dữ liệu mới của CIC được xây dựng trên nền tảng công nghệ hiện đại, sử dụng nhiều công cụ, tiện ích của các hãng công nghệ danh tiếng trên thế giới, có thể cho phép CIC quản lý, tích hợp và mở rộng được các nguồn thông tin đa dạng, đặc biệt là khi mà nguồn thông tin truyền thống trong Ngành đã được CIC làm tốt trong thời gian vừa qua, tiến tới CIC hoàn toàn có thể đáp ứng được xu thế mới trong hoạt động TTTD, đó là mở rộng các nguồn thông tin phi truyền thống, các nguồn dữ liệu khác nhau từ các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân ngoài ngành Ngân hàng;
Thứ hai, dự án CG1 có hệ quản trị cơ sở dữ liệu 03 lớp, hệ thống an toàn, bảo mật hiện đại, có thể ngăn chặn truy cập trái phép; cho phép nhiều tài khoản có thể truy cập cùng một thời điểm; một tài khoản đăng nhập duy nhất dùng chung cho các ứng dụng; hệ thống mới này cũng cho phép CIC có thể quản lý chặt chẽ, phân quyền theo đúng các nhóm người dùng khác nhau, bao gồm các đơn vị, Vụ, Cục NHTW; chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố; hơn 1.200 TCTD lớn, nhỏ; trên 4.000 chi nhánh TCTD; trên 40.000 tài khoản người dùng của TCTD; nhiều tổ chức tự nguyện khác và tiến tới là hàng triệu khách hàng vay có thể truy cập hệ thống để kiểm tra thông tin bản thân;
Thứ ba, thông qua dự án này, CIC đã hoàn thiện được các quy trình nghiệp vụ mới theo hướng chuyên môn hóa và tự động hóa cao, nhiều quy trình thủ công trước đây đã được áp dụng tự động. Đồng thời, với hệ thống quản lý dữ liệu mới, CIC có thể triển khai các kênh cung cấp thông tin trực tiếp từ hệ thống của CIC sang hệ thống đánh giá tín dụng của các TCTD, giảm thiểu tác động của yếu tố con người vào quá trình tra cứu thông tin, đáp ứng yêu cầu “chính xác, kịp thời, an toàn và bảo mật” của các đơn vị sử dụng thông tin.
Những kinh nghiệm trong quá trình triển khai cũng sẽ giúp cho các cán bộ của CIC nói riêng và của NHNN nói chung trưởng thành hơn để có thể tiếp tục triển khai tốt những dự án khác trong tương lai.
Có thể khẳng định rằng, gói thầu CG1 được xem là một sự đầu tư tổng thể nhất trong lịch sử hoạt động của CIC. Hệ thống CG1 nói riêng và dự án FSMIMS nói chung triển khai thành công đã thực sự làm thay đổi, đặt nền tảng công nghệ ban đầu, quan trọng cho CIC và NHNN trong công cuộc hiện đại hóa ngành Ngân hàng.
Tuy nhiên, để tiếp tục theo kịp xu hướng phát triển của Ngành, trong thời gian tới, CIC cần nghiên cứu và trình Ban Lãnh đạo NHNN để tiếp tục đầu tư, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin bằng các nguồn tự có và sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế để phục vụ tốt hơn cho hoạt động chuyên môn, góp phần hỗ trợ tích cực trong công tác chỉ đạo điều hành của NHNN; hỗ trợ có hiệu quả hoạt động kinh doanh của TCTD và góp phần nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của khách hàng.

(Tạp chí Ngân hàng số 24, tháng 12/2017)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Agribank: Khát vọng xanh và cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong hành trình hiện đại hóa tam nông

Agribank: Khát vọng xanh và cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong hành trình hiện đại hóa tam nông

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) từ ngân hàng truyền thống sang mô hình “ngân hàng số xanh”, với trọng tâm là tín dụng nông nghiệp bền vững, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong thẩm định tín dụng và vai trò dẫn dắt dòng vốn phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam.
Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Bài viết phân tích yêu cầu về khả năng thanh toán - điều kiện cốt lõi trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp (Emergency Liquidity Assistance - ELA) của ngân hàng trung ương (NHTW), thông qua việc so sánh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xử lý các cuộc khủng hoảng ngân hàng gần đây, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện khuôn khổ hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp tại Việt Nam theo hướng linh hoạt, dựa trên đánh giá triển vọng và tăng cường phối hợp chính sách giữa các cơ quan liên quan.
Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành ngày càng được áp dụng rộng rãi, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng lộ trình áp dụng IFRS phù hợp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhằm nâng cao minh bạch tài chính, năng lực quản trị và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ vai trò của các yếu tố công nghệ, tâm lý và tài chính cá nhân trong việc hình thành hành vi chấp nhận dịch vụ của khách hàng.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Xem thêm
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng