Vai trò của chính sách tín dụng xanh đối với chuyển đổi xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

Chính sách
Tín dụng xanh là một công cụ tài chính được thiết kế để hỗ trợ các dự án và hoạt động có lợi cho môi trường. Chuyển đổi xanh trong doanh nghiệp là quá trình mà các công ty áp dụng những phương pháp và chiến lược bền vững nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực lên môi trường và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.
aa

Tóm tắt: Tín dụng xanh là một công cụ tài chính được thiết kế để hỗ trợ các dự án và hoạt động có lợi cho môi trường. Chuyển đổi xanh trong doanh nghiệp là quá trình mà các công ty áp dụng những phương pháp và chiến lược bền vững nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực lên môi trường và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. Tín dụng xanh có tác động đến sự chuyển đổi xanh của doanh nghiệp và tăng hiệu quả tích cực cho hoạt động sản xuất của những doanh nghiệp hướng đến bảo vệ môi trường. Bài viết cung cấp thêm những luận điểm khoa học về vai trò của tín dụng xanh trong sự chuyển đổi xanh của doanh nghiệp; phân tích những tồn tại và rào cản mà doanh nghiệp gặp phải khi thực hiện chuyển đổi xanh; từ đó, đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của tín dụng xanh trong các hoạt động chuyển đổi xanh của doanh nghiệp.

Từ khóa: Tín dụng xanh, chuyển đổi xanh, doanh nghiệp, môi trường.

THE ROLE OF GREEN CREDIT POLICY IN THE GREEN TRANSITION OF ENTERPRISES IN VIETNAM

Abstract: Green credit is a financial tool designed to support environmentally beneficial projects and activities. The green transition in enterprises is the process by which companies adopt sustainable methods and strategies to minimize their negatively environmental impact and promote sustainable economic growth. Green credit impacts the green transition of businesses by reducing environmental pollution caused by waste and enhancing the positive efficiency of production activities focused on environmental protection. This article aims to provide scientific arguments about the role of green credit in the green transition of enterprises. It analyzes the challenges and barriers faced by businesses in implementing green transitions. Thereby, the author makes recommendations to enhance the effectiveness of green credit in the green transition activities of enterprises.

Keywords: Green credit, green transition, enterprises, environment.

1. Đặt vấn đề

Bảo vệ môi trường hiện là vấn đề nóng mang tính toàn cầu. Biến đổi khí hậu diễn ra nhanh chóng đang gây ra thảm họa thiên nhiên, tổn thất về sinh mạng và làm mất cân bằng đa dạng sinh học. Những hậu quả này không chỉ ngắn hạn mà còn kéo dài và ngày càng khốc liệt. Trước thực trạng đó, nhiều quốc gia đã triển khai các mục tiêu bảo vệ môi trường, tối ưu hóa sản xuất, chuyển đổi kinh doanh và đạt được phát triển kinh tế bền vững (Horbach, 2008; Hojnik và Ruzzier, 2016; Cui và Jiang, 2018).

Tại Việt Nam, Đảng và Chính phủ đã đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030, hướng đến trở thành quốc gia công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2045. Để đạt được mục tiêu này, cần đổi mới mô hình tăng trưởng, cải cách kinh tế, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao năng suất lao động. Sự phát triển kinh tế cần dựa trên chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao của nền kinh tế.

Trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp đóng vai trò nòng cốt trong quá trình chuyển đổi mô hình kinh doanh và sản xuất, áp dụng khoa học, công nghệ để thích nghi với môi trường kinh tế và xã hội mới. Trước nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, việc tăng cường hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, giảm phương pháp sản xuất gây ô nhiễm và khai thác quá mức là yêu cầu cấp thiết. Đây không chỉ là một nhiệm vụ khẩn cấp mà còn là xu hướng tất yếu để chuyển đổi sang nền kinh tế xanh và kinh tế số, bảo đảm sự phát triển bền vững.

Tín dụng xanh, một hình thức quản lý môi trường trong lĩnh vực tài chính được xem là giải pháp đổi mới để giải quyết các vấn đề môi trường (Cui và Jiang, 2018). Chính sách tín dụng xanh cung cấp các nguồn tài chính ưu đãi cho doanh nghiệp thân thiện với môi trường, đồng thời hạn chế hoặc tăng lãi suất vay đối với doanh nghiệp gây ô nhiễm (Nandy và Lodh, 2012; He và cộng sự, 2019).

Hiểu đơn giản, tín dụng xanh là dịch vụ tín dụng hỗ trợ các dự án sản xuất, kinh doanh ít gây hại hoặc không gây rủi ro cho môi trường. Chính sách này giúp bảo vệ hệ sinh thái và hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. Tuy nhiên, tín dụng xanh cũng đặt ra các yêu cầu khắt khe hơn đối với doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn. Điều này làm dấy lên câu hỏi liệu chính sách này có ảnh hưởng tích cực đến quá trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp hay không.

Việc thúc đẩy tín dụng xanh cần song hành với các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi mô hình kinh doanh và sản xuất bền vững. Đặc biệt, cần nâng cao nhận thức và năng lực quản lý của doanh nghiệp, khuyến khích áp dụng khoa học, công nghệ hiện đại và xây dựng cơ chế tài chính minh bạch, hiệu quả.

Bài viết này nhằm làm rõ vai trò của tín dụng xanh trong việc thúc đẩy chuyển đổi xanh, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp, góp phần xây dựng nền kinh tế bền vững. Đây không chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội để doanh nghiệp và toàn xã hội hướng đến sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và môi trường.

2. Lý thuyết về tín dụng xanh và chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Tín dụng xanh là những khoản vay phục vụ cho hoạt động sản xuất xanh được cấp bởi các tổ chức tín dụng để tài trợ hoặc tái tài trợ một phần hoặc toàn bộ các dự án xanh hướng đến bảo vệ môi trường và phát triển một nền kinh tế bền vững. Các khoản vay này có thể là các khoản vay có thời hạn hoặc quay vòng (Hamamoto, M, 2006). Có thể hiểu cách khác rằng, tín dụng xanh là dòng tiền tín dụng nhằm mục đích hạn chế các khoản vay mà hoạt động sản xuất, kinh doanh của nó gây ra ô nhiễm môi trường sinh thái, hướng đến mục tiêu tạo sự cân bằng của điều kiện tự nhiên và định hướng cuộc sống con người trở nên hòa hợp với thiên nhiên và môi trường (Fausto Cavalli và cộng sự, 2023).

Chính sách tín dụng xanh là một chính sách do chính phủ ban hành nhằm hỗ trợ doanh nghiệp hài hòa giữa quản lý môi trường và phát triển kinh tế. Mục tiêu của chính sách này là tối ưu hóa việc phân bổ nguồn vốn tín dụng, ưu tiên đầu tư vào các dự án thân thiện với môi trường, từ đó thúc đẩy tăng trưởng xanh và chuyển đổi kinh doanh bền vững trong doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất. Dựa trên cơ chế thị trường, tín dụng xanh giải quyết các vấn đề môi trường thông qua việc định hướng dòng vốn đến hoạt động xanh, kết hợp với những ràng buộc chính sách của chính phủ. Đây không chỉ là công cụ quản lý môi trường mà còn là chiến lược phân bổ nguồn lực hợp lý, góp phần thúc đẩy sự chuyển đổi nền kinh tế theo hướng xanh và bền vững.

Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng, tín dụng xanh giúp ngân hàng điều chỉnh cấu trúc tín dụng bằng cách tăng hỗ trợ cho vay dự án xanh, giảm cho vay dự án gây ô nhiễm cao và tiếp tục giảm tỉ lệ nợ xấu (Cui và cộng sự, 2018). Trong khi đó, tín dụng xanh liên quan đến năng lực tài chính, mức đầu tư, đổi mới công nghệ và hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp. Tối đa hóa nguồn lực bên ngoài như tín dụng và cải thiện hiệu suất sản xuất là chìa khóa để doanh nghiệp đạt được sự tăng trưởng và phát triển cũng như duy trì lợi thế cạnh tranh... Trong những năm gần đây, các công cụ tài chính, đặc biệt là tín dụng xanh, đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng hành vi bảo vệ môi trường và kiềm chế sự phát triển của các ngành công nghiệp gây ô nhiễm (Chen và cộng sự, 2022).

Chuyển đổi xanh là thuật ngữ nhằm chỉ ra những nỗ lực mà các doanh nghiệp đạt được hướng đến một tương lai phát triển bền vững và thân thiện với môi trường (Fausto Cavalli và cộng sự, 2023). Khái niệm này thể hiện qua các chính sách, chiến lược và hoạt động quản lý thực tiễn nhằm hướng đến bảo đảm tính bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Chuyển đổi xanh trong nền kinh tế đang trở thành một xu hướng tất yếu khi vấn đề về môi trường và biến đổi khí hậu đang là vấn đề nóng trên toàn thế giới, chúng ta đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường và biến đổi khí hậu. Xu hướng này không chỉ là cơ hội mà còn là một thách thức đáng kể đối với cộng đồng kinh doanh ở nước ta.

Tín dụng xanh có thể kích thích sự chuyển đổi xanh và đổi mới trong các doanh nghiệp thông qua sự ràng buộc về tài chính (Hu và cộng sự 2021). Chính sách tín dụng xanh thúc đẩy đầu tư nghiên cứu và phát triển cũng như hoạt động quản lý hiệu quả để khuyến khích quá trình chuyển đổi về công nghệ (Chen và cộng sự, 2022). Vì vậy, xác định chính xác vai trò của tín dụng xanh trong quá trình chuyển đổi xanh cho doanh nghiệp là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển một nền kinh tế đạt chất lượng cao, thân thiện với môi trường. Chính sách tín dụng xanh cũng giúp hiện đại hóa và nâng cấp các ngành công nghiệp gây ra ô nhiễm cho môi trường (Li và Chen, 2022). Tín dụng xanh tối ưu hóa và nâng cấp cơ cấu công nghiệp bằng cách thúc đẩy quá trình chuyển đổi và nâng cấp các doanh nghiệp gây ô nhiễm nặng cho môi trường thông qua việc điều tiết bởi các công cụ tài chính xanh và hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường (Anderson, 2016). Qua công cụ tài chính xanh, có thể thúc đẩy tiến bộ công nghệ và nâng cấp cơ cấu công nghiệp hiện đại hơn (Song và cộng sự, 2022).

Chính sách tín dụng xanh thúc đẩy chuyển đổi xanh trong doanh nghiệp thông qua cơ chế khuyến khích tài chính như ưu đãi lãi suất cho các hoạt động sản xuất thân thiện với môi trường (Nandy và Lodh, 2012). Cụ thể, chính sách này định hướng các tổ chức tài chính phân bổ nguồn lực vào những ngành công nghiệp tiêu thụ năng lượng thấp và ít gây ô nhiễm. Việc kiểm soát quyền truy cập tài chính buộc doanh nghiệp gây ô nhiễm phải chuyển đổi sang các hoạt động bảo vệ môi trường. Ngược lại, doanh nghiệp phát triển xanh được hưởng lợi từ lãi suất ưu đãi, giúp bổ sung vốn và khuyến khích phát triển những giải pháp tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên, chính sách này không chỉ tác động đến doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Nghiên cứu của Luo và cộng sự (2022) chỉ ra rằng, tín dụng xanh có thể cải thiện danh tiếng ngân hàng, giảm rủi ro tín dụng và tăng hiệu quả chi phí (Scholtens và Dam, 2007; Chen và cộng sự, 2018). Các ngân hàng thường ưu tiên cấp vốn cho doanh nghiệp sử dụng công nghệ cao và phát thải thấp, đồng thời hạn chế tín dụng với các ngành tiêu thụ năng lượng lớn.

Nhờ vậy, chính sách tín dụng xanh không chỉ thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp thân thiện với môi trường mà còn góp phần xây dựng nền kinh tế bền vững, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

3. Vai trò của chính sách tín dụng xanh trong quá trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp ở nước ta

Ở nước ta, nhiều chính sách quan trọng đã được ban hành nhằm thúc đẩy phát triển tín dụng xanh và ngân hàng xanh như: Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 20/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 - 2020; Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lí rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 07/8/2018 của Thống đốc NHNN về việc phê duyệt đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam; Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050; Thông tư số 17/2022/TT-NHNN ngày 23/12/2022 của Thống đốc NHNN hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài… Các chính sách này không chỉ định hướng chiến lược mà còn tạo nền tảng pháp lý vững chắc, góp phần tích hợp yếu tố môi trường và xã hội vào hệ thống tài chính, hướng tới một nền kinh tế bền vững.

Mặc dù khung pháp lý và các chính sách hỗ trợ đã được ban hành nhằm định hướng và thúc đẩy tín dụng xanh, tuy nhiên, việc triển khai vào thực tiễn của doanh nghiệp vẫn còn nhiều thách thức, đòi hỏi sự quan tâm và có giải pháp toàn diện.

Thứ nhất, về mặt tài chính, chi phí đầu tư cho quá trình chuyển đổi xanh vẫn là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp. Việc cân nhắc giữa khoản đầu tư ban đầu cao và lợi nhuận thu về khiến nhiều doanh nghiệp còn do dự trong việc thực hiện các thay đổi cần thiết. Mặc dù các chính sách tín dụng xanh đã mang lại lợi ích nhất định, đặc biệt là thông qua lãi suất ưu đãi, nhưng công cụ này vẫn chưa đủ để tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình chuyển đổi. Để thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi từ công nghệ truyền thống sang sản xuất xanh, cần có thêm các chính sách hỗ trợ toàn diện từ phía Chính phủ, bao gồm các biện pháp kích thích đầu tư và giảm thiểu rủi ro tài chính.

Thứ hai, về nhân lực, theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024), có tới 46,8% doanh nghiệp tại Việt Nam đang thiếu nhân viên có chuyên môn trong lĩnh vực giảm phát thải và chuyển đổi xanh. Thực trạng này diễn ra trong bối cảnh các quy định và tiêu chuẩn môi trường cả trong nước lẫn quốc tế liên tục thay đổi và ngày càng khắt khe. Điều này khiến việc đào tạo đội ngũ nhân lực phù hợp trở thành yếu tố sống còn đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, nguồn lực dành cho hoạt động đào tạo này vẫn còn hạn chế, gây khó khăn trong việc đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi xanh.

Thứ ba, về công nghệ, 44,2% doanh nghiệp chưa tìm được giải pháp công nghệ phù hợp để thực hiện chuyển đổi (Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2024). Nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng phương pháp đo lường thủ công, dẫn đến sai sót, thiếu minh bạch, thậm chí gian lận dữ liệu. Điều này không chỉ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường mà còn ảnh hưởng đến lòng tin của thị trường.

Ngoài ra, còn nhiều thách thức khác như một số doanh nghiệp chưa nắm bắt đầy đủ các yêu cầu về môi trường, trách nhiệm xã hội và quản trị doanh nghiệp. Việc thay thế công nghệ sản xuất truyền thống bằng công nghệ hiện đại cũng gặp khó khăn do chi phí cao và yêu cầu kỹ thuật phức tạp. Bên cạnh đó, phát triển kinh tế xanh có thể đối mặt với rủi ro nếu không được quản lý tốt, như hạn chế về kinh nghiệm, trình độ kỹ thuật hoặc thiếu sự hỗ trợ từ Chính phủ. Dù đã có một số cơ chế, chính sách và chương trình hỗ trợ, nhiều sáng kiến chỉ dừng lại ở việc nâng cao nhận thức mà chưa đáp ứng được nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp.

Các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến chuyển đổi xanh bao gồm sự cần thiết phải có kế hoạch cụ thể, tích hợp tính bền vững vào quy trình và văn hóa doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp nhận thức rằng chuyển đổi xanh không chỉ là cơ hội mà còn là chiến lược đầu tư dài hạn nhằm tăng lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, để khai thác giá trị này, doanh nghiệp cần vượt qua nhiều rào cản như thiếu cơ sở hạ tầng hiện đại, nguồn lực đào tạo lao động và tiêu chuẩn quản trị phù hợp.

Tóm lại, chuyển đổi xanh là một hành trình phức tạp nhưng cần thiết, đòi hỏi sự hỗ trợ từ nhiều phía, từ Chính phủ đến các tổ chức tài chính và doanh nghiệp. Đây không chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội để doanh nghiệp xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững và góp phần vào sự phát triển kinh tế xanh của đất nước.

4. Một số đề xuất

Chuyển đổi xanh không chỉ là giải pháp thiết yếu để đạt được mục tiêu phát triển bền vững mà còn mở ra cơ hội giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Đây là xu hướng phát triển tất yếu, vừa đáp ứng các yêu cầu về môi trường, vừa tạo nền tảng cho doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh doanh hiệu quả. Để thực hiện chuyển đổi xanh một cách thành công, cần xem xét một số đề xuất sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp cần hiểu rõ vai trò, trách nhiệm, thách thức, cơ hội và giải pháp khi thực hiện chuyển đổi xanh trong chiến lược phát triển bền vững. Đây không chỉ là yêu cầu tất yếu mà còn là cơ hội giúp doanh nghiệp đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển bền vững của địa phương và quốc gia. Để thành công, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn, đặt trọng tâm vào bảo vệ môi trường. Các ưu tiên bao gồm đầu tư công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường, nâng cao chất lượng sản phẩm và bồi dưỡng đội ngũ nhân sự với kỹ năng phân tích kinh tế và môi trường. Ban Lãnh đạo doanh nghiệp cần hiểu rõ mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế và môi trường, từ đó đưa ra các quyết định phù hợp, cân đối giữa chi phí và lợi ích khi triển khai những quy định về bảo vệ môi trường.

Thứ hai, doanh nghiệp cần tích hợp chiến lược sản xuất, kinh doanh xanh với các giải pháp chuyển đổi số. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả mà còn tăng tính cạnh tranh trong bối cảnh phát triển bền vững. Bên cạnh việc sử dụng các công cụ kỹ thuật số, văn hóa doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai thành công các chương trình xanh. Khi tính bền vững được tích hợp vào quy trình làm việc, doanh nghiệp sẽ dễ dàng đạt được các mục tiêu chuyển đổi.

Thứ ba, để hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh, các cơ quan quản lý cần hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế chính sách. Việc ban hành các hướng dẫn rõ ràng và hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng triển khai những giải pháp xanh. Đồng thời, cần học hỏi thực tiễn quốc tế để bảo đảm quá trình chuyển đổi vừa đáp ứng yêu cầu môi trường, vừa phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế bền vững.

Thứ tư, chi phí chuyển đổi xanh vẫn là rào cản lớn đối với doanh nghiệp. Các chi phí liên quan như tư vấn, xếp hạng tín dụng và chứng nhận dự án cần được xem xét, đồng thời cần có những chính sách khuyến khích cụ thể. Ví dụ, giảm thuế hoặc hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp áp dụng sản xuất xanh sẽ tạo động lực thúc đẩy sự tham gia tích cực vào quá trình này.

Thứ năm, Chính phủ cần phát triển thêm các chính sách tài chính xanh nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các doanh nghiệp. Các chính sách này cần bao gồm cơ chế huy động nguồn lực trong nước và quốc tế, giúp doanh nghiệp tiếp cận tài chính xanh dễ dàng hơn. Việc này không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi thành công mà còn giúp xây dựng các doanh nghiệp dẫn đầu trong sản xuất và tiêu dùng xanh.

Chuyển đổi xanh là một xu hướng tất yếu, nhưng để thực hiện thành công, cần sự phối hợp giữa doanh nghiệp, Chính phủ và các tổ chức liên quan. Sự hỗ trợ từ các chính sách tài chính, cơ chế khuyến khích và chiến lược phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp không chỉ vượt qua các thách thức mà còn tận dụng cơ hội để phát triển bền vững.

Nguyễn Hồng Thu
Trường Đại học Thủ Dầu Một


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Bài viết phân tích toàn diện khung pháp lý về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại các tổ chức tín dụng, đánh giá khả năng triển khai trong thực tiễn hoạt động ngân hàng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tính khả thi, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng có tài sản bảo đảm.
Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Bài viết phân tích các quy định mới của Nghị định số 06/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), qua đó làm rõ vai trò của việc hoàn thiện khung pháp lý trong nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách, thúc đẩy tài chính toàn diện và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Bài viết phân tích thực trạng khung pháp lý thúc đẩy Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG) trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị hoàn thiện chính sách nhằm tăng cường quản trị rủi ro bền vững và định hướng dòng vốn theo mục tiêu phát triển xanh.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Thông tư số 60/2025/TT-NHNN và thủ tục chấp thuận góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng: Từ kỷ luật an toàn đến chi phí tuân thủ

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN và thủ tục chấp thuận góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng: Từ kỷ luật an toàn đến chi phí tuân thủ

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN ngày 30/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng (TCTD) là một bước tiến quan trọng trong việc cụ thể hóa các thủ tục hành chính, đảm bảo mọi hoạt động góp vốn, mua cổ phần đều phải phục vụ mục tiêu hàng đầu là bảo vệ an toàn vốn và tuân thủ giới hạn đầu tư theo Luật Các TCTD.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế

Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế

Bài viết phân tích những điểm mới của Thông tư số 83/2025/TT-NHNN về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng trên cơ sở Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và chuẩn mực Basel, qua đó làm rõ các yêu cầu tăng cường quản trị rủi ro, dữ liệu rủi ro, kiểm tra sức chịu đựng và quản lý rủi ro mô hình nhằm nâng cao an toàn hoạt động và ổn định hệ thống ngân hàng.
Xem thêm
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Bài viết phân tích toàn diện khung pháp lý về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại các tổ chức tín dụng, đánh giá khả năng triển khai trong thực tiễn hoạt động ngân hàng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tính khả thi, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng có tài sản bảo đảm.
Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Bài viết phân tích các quy định mới của Nghị định số 06/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), qua đó làm rõ vai trò của việc hoàn thiện khung pháp lý trong nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách, thúc đẩy tài chính toàn diện và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Bài viết phân tích thực trạng khung pháp lý thúc đẩy Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG) trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị hoàn thiện chính sách nhằm tăng cường quản trị rủi ro bền vững và định hướng dòng vốn theo mục tiêu phát triển xanh.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành