Vai trò của chính sách tín dụng xanh đối với chuyển đổi xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

Chính sách
Tín dụng xanh là một công cụ tài chính được thiết kế để hỗ trợ các dự án và hoạt động có lợi cho môi trường. Chuyển đổi xanh trong doanh nghiệp là quá trình mà các công ty áp dụng những phương pháp và chiến lược bền vững nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực lên môi trường và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.
aa

Tóm tắt: Tín dụng xanh là một công cụ tài chính được thiết kế để hỗ trợ các dự án và hoạt động có lợi cho môi trường. Chuyển đổi xanh trong doanh nghiệp là quá trình mà các công ty áp dụng những phương pháp và chiến lược bền vững nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực lên môi trường và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. Tín dụng xanh có tác động đến sự chuyển đổi xanh của doanh nghiệp và tăng hiệu quả tích cực cho hoạt động sản xuất của những doanh nghiệp hướng đến bảo vệ môi trường. Bài viết cung cấp thêm những luận điểm khoa học về vai trò của tín dụng xanh trong sự chuyển đổi xanh của doanh nghiệp; phân tích những tồn tại và rào cản mà doanh nghiệp gặp phải khi thực hiện chuyển đổi xanh; từ đó, đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của tín dụng xanh trong các hoạt động chuyển đổi xanh của doanh nghiệp.

Từ khóa: Tín dụng xanh, chuyển đổi xanh, doanh nghiệp, môi trường.

THE ROLE OF GREEN CREDIT POLICY IN THE GREEN TRANSITION OF ENTERPRISES IN VIETNAM

Abstract: Green credit is a financial tool designed to support environmentally beneficial projects and activities. The green transition in enterprises is the process by which companies adopt sustainable methods and strategies to minimize their negatively environmental impact and promote sustainable economic growth. Green credit impacts the green transition of businesses by reducing environmental pollution caused by waste and enhancing the positive efficiency of production activities focused on environmental protection. This article aims to provide scientific arguments about the role of green credit in the green transition of enterprises. It analyzes the challenges and barriers faced by businesses in implementing green transitions. Thereby, the author makes recommendations to enhance the effectiveness of green credit in the green transition activities of enterprises.

Keywords: Green credit, green transition, enterprises, environment.

1. Đặt vấn đề

Bảo vệ môi trường hiện là vấn đề nóng mang tính toàn cầu. Biến đổi khí hậu diễn ra nhanh chóng đang gây ra thảm họa thiên nhiên, tổn thất về sinh mạng và làm mất cân bằng đa dạng sinh học. Những hậu quả này không chỉ ngắn hạn mà còn kéo dài và ngày càng khốc liệt. Trước thực trạng đó, nhiều quốc gia đã triển khai các mục tiêu bảo vệ môi trường, tối ưu hóa sản xuất, chuyển đổi kinh doanh và đạt được phát triển kinh tế bền vững (Horbach, 2008; Hojnik và Ruzzier, 2016; Cui và Jiang, 2018).

Tại Việt Nam, Đảng và Chính phủ đã đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030, hướng đến trở thành quốc gia công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2045. Để đạt được mục tiêu này, cần đổi mới mô hình tăng trưởng, cải cách kinh tế, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao năng suất lao động. Sự phát triển kinh tế cần dựa trên chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao của nền kinh tế.

Trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp đóng vai trò nòng cốt trong quá trình chuyển đổi mô hình kinh doanh và sản xuất, áp dụng khoa học, công nghệ để thích nghi với môi trường kinh tế và xã hội mới. Trước nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, việc tăng cường hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, giảm phương pháp sản xuất gây ô nhiễm và khai thác quá mức là yêu cầu cấp thiết. Đây không chỉ là một nhiệm vụ khẩn cấp mà còn là xu hướng tất yếu để chuyển đổi sang nền kinh tế xanh và kinh tế số, bảo đảm sự phát triển bền vững.

Tín dụng xanh, một hình thức quản lý môi trường trong lĩnh vực tài chính được xem là giải pháp đổi mới để giải quyết các vấn đề môi trường (Cui và Jiang, 2018). Chính sách tín dụng xanh cung cấp các nguồn tài chính ưu đãi cho doanh nghiệp thân thiện với môi trường, đồng thời hạn chế hoặc tăng lãi suất vay đối với doanh nghiệp gây ô nhiễm (Nandy và Lodh, 2012; He và cộng sự, 2019).

Hiểu đơn giản, tín dụng xanh là dịch vụ tín dụng hỗ trợ các dự án sản xuất, kinh doanh ít gây hại hoặc không gây rủi ro cho môi trường. Chính sách này giúp bảo vệ hệ sinh thái và hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. Tuy nhiên, tín dụng xanh cũng đặt ra các yêu cầu khắt khe hơn đối với doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn. Điều này làm dấy lên câu hỏi liệu chính sách này có ảnh hưởng tích cực đến quá trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp hay không.

Việc thúc đẩy tín dụng xanh cần song hành với các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi mô hình kinh doanh và sản xuất bền vững. Đặc biệt, cần nâng cao nhận thức và năng lực quản lý của doanh nghiệp, khuyến khích áp dụng khoa học, công nghệ hiện đại và xây dựng cơ chế tài chính minh bạch, hiệu quả.

Bài viết này nhằm làm rõ vai trò của tín dụng xanh trong việc thúc đẩy chuyển đổi xanh, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp, góp phần xây dựng nền kinh tế bền vững. Đây không chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội để doanh nghiệp và toàn xã hội hướng đến sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và môi trường.

2. Lý thuyết về tín dụng xanh và chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Tín dụng xanh là những khoản vay phục vụ cho hoạt động sản xuất xanh được cấp bởi các tổ chức tín dụng để tài trợ hoặc tái tài trợ một phần hoặc toàn bộ các dự án xanh hướng đến bảo vệ môi trường và phát triển một nền kinh tế bền vững. Các khoản vay này có thể là các khoản vay có thời hạn hoặc quay vòng (Hamamoto, M, 2006). Có thể hiểu cách khác rằng, tín dụng xanh là dòng tiền tín dụng nhằm mục đích hạn chế các khoản vay mà hoạt động sản xuất, kinh doanh của nó gây ra ô nhiễm môi trường sinh thái, hướng đến mục tiêu tạo sự cân bằng của điều kiện tự nhiên và định hướng cuộc sống con người trở nên hòa hợp với thiên nhiên và môi trường (Fausto Cavalli và cộng sự, 2023).

Chính sách tín dụng xanh là một chính sách do chính phủ ban hành nhằm hỗ trợ doanh nghiệp hài hòa giữa quản lý môi trường và phát triển kinh tế. Mục tiêu của chính sách này là tối ưu hóa việc phân bổ nguồn vốn tín dụng, ưu tiên đầu tư vào các dự án thân thiện với môi trường, từ đó thúc đẩy tăng trưởng xanh và chuyển đổi kinh doanh bền vững trong doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất. Dựa trên cơ chế thị trường, tín dụng xanh giải quyết các vấn đề môi trường thông qua việc định hướng dòng vốn đến hoạt động xanh, kết hợp với những ràng buộc chính sách của chính phủ. Đây không chỉ là công cụ quản lý môi trường mà còn là chiến lược phân bổ nguồn lực hợp lý, góp phần thúc đẩy sự chuyển đổi nền kinh tế theo hướng xanh và bền vững.

Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng, tín dụng xanh giúp ngân hàng điều chỉnh cấu trúc tín dụng bằng cách tăng hỗ trợ cho vay dự án xanh, giảm cho vay dự án gây ô nhiễm cao và tiếp tục giảm tỉ lệ nợ xấu (Cui và cộng sự, 2018). Trong khi đó, tín dụng xanh liên quan đến năng lực tài chính, mức đầu tư, đổi mới công nghệ và hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp. Tối đa hóa nguồn lực bên ngoài như tín dụng và cải thiện hiệu suất sản xuất là chìa khóa để doanh nghiệp đạt được sự tăng trưởng và phát triển cũng như duy trì lợi thế cạnh tranh... Trong những năm gần đây, các công cụ tài chính, đặc biệt là tín dụng xanh, đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng hành vi bảo vệ môi trường và kiềm chế sự phát triển của các ngành công nghiệp gây ô nhiễm (Chen và cộng sự, 2022).

Chuyển đổi xanh là thuật ngữ nhằm chỉ ra những nỗ lực mà các doanh nghiệp đạt được hướng đến một tương lai phát triển bền vững và thân thiện với môi trường (Fausto Cavalli và cộng sự, 2023). Khái niệm này thể hiện qua các chính sách, chiến lược và hoạt động quản lý thực tiễn nhằm hướng đến bảo đảm tính bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Chuyển đổi xanh trong nền kinh tế đang trở thành một xu hướng tất yếu khi vấn đề về môi trường và biến đổi khí hậu đang là vấn đề nóng trên toàn thế giới, chúng ta đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường và biến đổi khí hậu. Xu hướng này không chỉ là cơ hội mà còn là một thách thức đáng kể đối với cộng đồng kinh doanh ở nước ta.

Tín dụng xanh có thể kích thích sự chuyển đổi xanh và đổi mới trong các doanh nghiệp thông qua sự ràng buộc về tài chính (Hu và cộng sự 2021). Chính sách tín dụng xanh thúc đẩy đầu tư nghiên cứu và phát triển cũng như hoạt động quản lý hiệu quả để khuyến khích quá trình chuyển đổi về công nghệ (Chen và cộng sự, 2022). Vì vậy, xác định chính xác vai trò của tín dụng xanh trong quá trình chuyển đổi xanh cho doanh nghiệp là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển một nền kinh tế đạt chất lượng cao, thân thiện với môi trường. Chính sách tín dụng xanh cũng giúp hiện đại hóa và nâng cấp các ngành công nghiệp gây ra ô nhiễm cho môi trường (Li và Chen, 2022). Tín dụng xanh tối ưu hóa và nâng cấp cơ cấu công nghiệp bằng cách thúc đẩy quá trình chuyển đổi và nâng cấp các doanh nghiệp gây ô nhiễm nặng cho môi trường thông qua việc điều tiết bởi các công cụ tài chính xanh và hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường (Anderson, 2016). Qua công cụ tài chính xanh, có thể thúc đẩy tiến bộ công nghệ và nâng cấp cơ cấu công nghiệp hiện đại hơn (Song và cộng sự, 2022).

Chính sách tín dụng xanh thúc đẩy chuyển đổi xanh trong doanh nghiệp thông qua cơ chế khuyến khích tài chính như ưu đãi lãi suất cho các hoạt động sản xuất thân thiện với môi trường (Nandy và Lodh, 2012). Cụ thể, chính sách này định hướng các tổ chức tài chính phân bổ nguồn lực vào những ngành công nghiệp tiêu thụ năng lượng thấp và ít gây ô nhiễm. Việc kiểm soát quyền truy cập tài chính buộc doanh nghiệp gây ô nhiễm phải chuyển đổi sang các hoạt động bảo vệ môi trường. Ngược lại, doanh nghiệp phát triển xanh được hưởng lợi từ lãi suất ưu đãi, giúp bổ sung vốn và khuyến khích phát triển những giải pháp tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên, chính sách này không chỉ tác động đến doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Nghiên cứu của Luo và cộng sự (2022) chỉ ra rằng, tín dụng xanh có thể cải thiện danh tiếng ngân hàng, giảm rủi ro tín dụng và tăng hiệu quả chi phí (Scholtens và Dam, 2007; Chen và cộng sự, 2018). Các ngân hàng thường ưu tiên cấp vốn cho doanh nghiệp sử dụng công nghệ cao và phát thải thấp, đồng thời hạn chế tín dụng với các ngành tiêu thụ năng lượng lớn.

Nhờ vậy, chính sách tín dụng xanh không chỉ thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp thân thiện với môi trường mà còn góp phần xây dựng nền kinh tế bền vững, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

3. Vai trò của chính sách tín dụng xanh trong quá trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp ở nước ta

Ở nước ta, nhiều chính sách quan trọng đã được ban hành nhằm thúc đẩy phát triển tín dụng xanh và ngân hàng xanh như: Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 20/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 - 2020; Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lí rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 07/8/2018 của Thống đốc NHNN về việc phê duyệt đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam; Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050; Thông tư số 17/2022/TT-NHNN ngày 23/12/2022 của Thống đốc NHNN hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài… Các chính sách này không chỉ định hướng chiến lược mà còn tạo nền tảng pháp lý vững chắc, góp phần tích hợp yếu tố môi trường và xã hội vào hệ thống tài chính, hướng tới một nền kinh tế bền vững.

Mặc dù khung pháp lý và các chính sách hỗ trợ đã được ban hành nhằm định hướng và thúc đẩy tín dụng xanh, tuy nhiên, việc triển khai vào thực tiễn của doanh nghiệp vẫn còn nhiều thách thức, đòi hỏi sự quan tâm và có giải pháp toàn diện.

Thứ nhất, về mặt tài chính, chi phí đầu tư cho quá trình chuyển đổi xanh vẫn là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp. Việc cân nhắc giữa khoản đầu tư ban đầu cao và lợi nhuận thu về khiến nhiều doanh nghiệp còn do dự trong việc thực hiện các thay đổi cần thiết. Mặc dù các chính sách tín dụng xanh đã mang lại lợi ích nhất định, đặc biệt là thông qua lãi suất ưu đãi, nhưng công cụ này vẫn chưa đủ để tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình chuyển đổi. Để thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi từ công nghệ truyền thống sang sản xuất xanh, cần có thêm các chính sách hỗ trợ toàn diện từ phía Chính phủ, bao gồm các biện pháp kích thích đầu tư và giảm thiểu rủi ro tài chính.

Thứ hai, về nhân lực, theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024), có tới 46,8% doanh nghiệp tại Việt Nam đang thiếu nhân viên có chuyên môn trong lĩnh vực giảm phát thải và chuyển đổi xanh. Thực trạng này diễn ra trong bối cảnh các quy định và tiêu chuẩn môi trường cả trong nước lẫn quốc tế liên tục thay đổi và ngày càng khắt khe. Điều này khiến việc đào tạo đội ngũ nhân lực phù hợp trở thành yếu tố sống còn đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, nguồn lực dành cho hoạt động đào tạo này vẫn còn hạn chế, gây khó khăn trong việc đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi xanh.

Thứ ba, về công nghệ, 44,2% doanh nghiệp chưa tìm được giải pháp công nghệ phù hợp để thực hiện chuyển đổi (Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2024). Nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng phương pháp đo lường thủ công, dẫn đến sai sót, thiếu minh bạch, thậm chí gian lận dữ liệu. Điều này không chỉ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường mà còn ảnh hưởng đến lòng tin của thị trường.

Ngoài ra, còn nhiều thách thức khác như một số doanh nghiệp chưa nắm bắt đầy đủ các yêu cầu về môi trường, trách nhiệm xã hội và quản trị doanh nghiệp. Việc thay thế công nghệ sản xuất truyền thống bằng công nghệ hiện đại cũng gặp khó khăn do chi phí cao và yêu cầu kỹ thuật phức tạp. Bên cạnh đó, phát triển kinh tế xanh có thể đối mặt với rủi ro nếu không được quản lý tốt, như hạn chế về kinh nghiệm, trình độ kỹ thuật hoặc thiếu sự hỗ trợ từ Chính phủ. Dù đã có một số cơ chế, chính sách và chương trình hỗ trợ, nhiều sáng kiến chỉ dừng lại ở việc nâng cao nhận thức mà chưa đáp ứng được nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp.

Các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến chuyển đổi xanh bao gồm sự cần thiết phải có kế hoạch cụ thể, tích hợp tính bền vững vào quy trình và văn hóa doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp nhận thức rằng chuyển đổi xanh không chỉ là cơ hội mà còn là chiến lược đầu tư dài hạn nhằm tăng lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, để khai thác giá trị này, doanh nghiệp cần vượt qua nhiều rào cản như thiếu cơ sở hạ tầng hiện đại, nguồn lực đào tạo lao động và tiêu chuẩn quản trị phù hợp.

Tóm lại, chuyển đổi xanh là một hành trình phức tạp nhưng cần thiết, đòi hỏi sự hỗ trợ từ nhiều phía, từ Chính phủ đến các tổ chức tài chính và doanh nghiệp. Đây không chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội để doanh nghiệp xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững và góp phần vào sự phát triển kinh tế xanh của đất nước.

4. Một số đề xuất

Chuyển đổi xanh không chỉ là giải pháp thiết yếu để đạt được mục tiêu phát triển bền vững mà còn mở ra cơ hội giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Đây là xu hướng phát triển tất yếu, vừa đáp ứng các yêu cầu về môi trường, vừa tạo nền tảng cho doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh doanh hiệu quả. Để thực hiện chuyển đổi xanh một cách thành công, cần xem xét một số đề xuất sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp cần hiểu rõ vai trò, trách nhiệm, thách thức, cơ hội và giải pháp khi thực hiện chuyển đổi xanh trong chiến lược phát triển bền vững. Đây không chỉ là yêu cầu tất yếu mà còn là cơ hội giúp doanh nghiệp đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển bền vững của địa phương và quốc gia. Để thành công, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn, đặt trọng tâm vào bảo vệ môi trường. Các ưu tiên bao gồm đầu tư công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường, nâng cao chất lượng sản phẩm và bồi dưỡng đội ngũ nhân sự với kỹ năng phân tích kinh tế và môi trường. Ban Lãnh đạo doanh nghiệp cần hiểu rõ mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế và môi trường, từ đó đưa ra các quyết định phù hợp, cân đối giữa chi phí và lợi ích khi triển khai những quy định về bảo vệ môi trường.

Thứ hai, doanh nghiệp cần tích hợp chiến lược sản xuất, kinh doanh xanh với các giải pháp chuyển đổi số. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả mà còn tăng tính cạnh tranh trong bối cảnh phát triển bền vững. Bên cạnh việc sử dụng các công cụ kỹ thuật số, văn hóa doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai thành công các chương trình xanh. Khi tính bền vững được tích hợp vào quy trình làm việc, doanh nghiệp sẽ dễ dàng đạt được các mục tiêu chuyển đổi.

Thứ ba, để hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh, các cơ quan quản lý cần hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế chính sách. Việc ban hành các hướng dẫn rõ ràng và hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng triển khai những giải pháp xanh. Đồng thời, cần học hỏi thực tiễn quốc tế để bảo đảm quá trình chuyển đổi vừa đáp ứng yêu cầu môi trường, vừa phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế bền vững.

Thứ tư, chi phí chuyển đổi xanh vẫn là rào cản lớn đối với doanh nghiệp. Các chi phí liên quan như tư vấn, xếp hạng tín dụng và chứng nhận dự án cần được xem xét, đồng thời cần có những chính sách khuyến khích cụ thể. Ví dụ, giảm thuế hoặc hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp áp dụng sản xuất xanh sẽ tạo động lực thúc đẩy sự tham gia tích cực vào quá trình này.

Thứ năm, Chính phủ cần phát triển thêm các chính sách tài chính xanh nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các doanh nghiệp. Các chính sách này cần bao gồm cơ chế huy động nguồn lực trong nước và quốc tế, giúp doanh nghiệp tiếp cận tài chính xanh dễ dàng hơn. Việc này không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi thành công mà còn giúp xây dựng các doanh nghiệp dẫn đầu trong sản xuất và tiêu dùng xanh.

Chuyển đổi xanh là một xu hướng tất yếu, nhưng để thực hiện thành công, cần sự phối hợp giữa doanh nghiệp, Chính phủ và các tổ chức liên quan. Sự hỗ trợ từ các chính sách tài chính, cơ chế khuyến khích và chiến lược phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp không chỉ vượt qua các thách thức mà còn tận dụng cơ hội để phát triển bền vững.

Nguyễn Hồng Thu
Trường Đại học Thủ Dầu Một


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Xem thêm
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng