Tín dụng chính sách xã hội mang hạnh phúc đến với người nghèo

Hoạt động ngân hàng
Sau 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội (Chỉ thị số 40-CT/TW), cấp ủy, chính quyền và toàn hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh Thái Bình đã tích cực vào cuộc, phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) Chi nhánh tỉnh triển khai các cơ chế, chính sách của Nhà nước và của tỉnh trong hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, ổn định sinh kế…,
aa

Sau 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội (Chỉ thị số 40-CT/TW), cấp ủy, chính quyền và toàn hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh Thái Bình đã tích cực vào cuộc, phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) Chi nhánh tỉnh triển khai các cơ chế, chính sách của Nhà nước và của tỉnh trong hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, ổn định sinh kế…, đóng góp một phần quan trọng vào việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, giữ vững ổn định an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

“Phao cứu sinh” của người nghèo

Gia đình ông Nguyễn Công Ân, thôn Sơn Đồng, xã Quỳnh Giao, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình trước đây là gia đình thuộc diện hộ cận nghèo. Hai vợ chồng ông Ân làm nông nghiệp, quanh năm chỉ trông chờ vào mấy sào lúa, hoa màu, kinh tế rất khó khăn, chật vật vì không có vốn, không có nghề phụ, trong khi phải nuôi hai người con đang tuổi ăn học. Năm 2020, khi đứa con đầu vui mừng thông báo trúng tuyển vào Trường Đại học Y Thái Bình, vợ chồng ông Ân càng thêm lo lắng vì không biết lấy tiền đâu để cho con đi học. Giữa lúc đang bế tắc thì gia đình ông may mắn được chính quyền địa phương, các hội, đoàn thể và Tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) xã Quỳnh Giao giúp đỡ, giới thiệu và hướng dẫn làm thủ tục vay vốn từ NHCSXH chương trình dành cho học sinh, sinh viên, với số tiền vay 25 triệu đồng. Số tiền này đã kịp thời giúp gia đình ông cho con được nhập học đại học đúng thời gian quy định, đóng học phí, mua đồ dùng sách vở... giúp các con yên tâm học tập và tiếp tục thực hiện ước mơ của mình. Từ đó đến nay, gia đình ông được Phòng giao dịch NHCSXH huyện Quỳnh Phụ tiếp tục giải ngân cho vay chương trình học sinh, sinh viên.


Các hộ vay đến giao dịch tại Điểm giao dịch xã (Nguồn ảnh: Cổng thông tin điện tử huyện Thái Thụy)


Tháng 8/2020, ông Ân tiếp tục làm hồ sơ vay vốn chương trình hộ cận nghèo và được Phòng giao dịch NHCSXH huyện Quỳnh Phụ giải ngân cho vay số tiền 48 triệu đồng để đầu tư chăn nuôi bò sinh sản; đồng thời, ông Ân còn được vay số tiền 20 triệu đồng chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn để xây mới, sửa chữa hệ thống nước, công trình vệ sinh và 10 triệu đồng để các con ông mua máy vi tính học trực tuyến do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Tổng số tiền gia đình ông Ân đang vay từ Phòng giao dịch NHCSXH huyện Quỳnh Phụ lên tới 208 triệu đồng.

Nhờ có vốn để làm ăn, gia đình ông Ân dần thoát khỏi cảnh nghèo. Trong quá trình vay vốn, sử dụng vốn, trả nợ, trả lãi, ông Ân đều được Tổ trưởng Tổ TK&VV tư vấn, hướng dẫn nhiệt tình; phổ biến các quy định, quy ước của tổ như nộp lãi và gửi tiền tiết kiệm hằng tháng. Đặc biệt, tất cả những lần vay vốn đều được Phòng giao dịch NHCSXH huyện Quỳnh Phụ thực hiện giao dịch tại trụ sở Ủy ban nhân dân (UBND) xã nên rất thuận lợi cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được tiếp cận dễ dàng nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ.

“Nhờ có nguồn vốn ưu đãi của Đảng, Nhà nước, gia đình tôi mới có điều kiện nuôi con ăn, học và có vốn để chăn nuôi, tạo thêm được việc làm, tăng thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống, kinh tế gia đình từng bước ổn định. Các chương trình cho vay tại NHCSXH rất thiết thực và ý nghĩa, mang tính nhân văn sâu sắc mà Đảng, Chính phủ đã quan tâm dành cho người nghèo và các đối tượng chính sách như chúng tôi. Với các chương trình cho vay này, NHCSXH đã thực sự trở thành “phao cứu sinh” để chúng tôi có được cuộc sống, thu nhập ổn định như ngày hôm nay”, ông Ân chia sẻ.

Gia đình ông Đỗ Đức Thông, thôn Lỗ Trường, xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy cũng là một trong những hộ thoát nghèo nhờ đồng vốn tín dụng chính sách. Năm 2016, gia đình ông Thông thuộc diện hộ nghèo, bản thân ông Thông là người bị khuyết tật bẩm sinh còn vợ ông làm nông nghiệp, cũng chỉ biết quanh quẩn với mấy sào ruộng làm kế sinh nhai, nhà lại đông con với 4 đứa con đang tuổi ăn học, kinh tế gia đình rất khó khăn. Được sự hướng dẫn, giúp đỡ của Hội Cựu chiến binh, Tổ TK&VV, ông được tham gia chương trình vay vốn hộ nghèo của Phòng giao dịch NHCSXH huyện Thái Thụy với số tiền 30 triệu đồng để kinh doanh đá xẻ. Ngoài ra, Tổ TK&VV xã Thụy Trường còn tạo điều kiện cho ông Thông tham gia lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật, cùng với sự nỗ lực, chăm chỉ, chịu khó tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm, ông Thông đã áp dụng thành công mô hình kinh doanh đá xẻ để phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo.

Nhờ có nguồn vốn vay của NHCSXH, cùng với sự cố gắng, chăm chỉ làm ăn, kinh tế gia đình ông Thông đã dần được vực dậy, vượt qua được khó khăn. Năm 2022, gia đình ông Thông đã hoàn trả được đầy đủ vốn vay cho NHCSXH khi đến hạn. Sau khi hoàn vốn, ông Thông tiếp tục được vay chương trình hộ mới thoát nghèo với mức vay được nâng lên 100 triệu đồng, mua sắm máy móc để mở rộng xưởng đá xẻ của gia đình. Mô hình xưởng đá xẻ gia đình ông Thông ngày càng phát triển, mang lại nguồn thu nhập ổn định để nuôi 4 người con được ăn học trưởng thành.

Ông Thông cho biết: “Gia đình tôi có được sự đổi thay cuộc sống như hôm nay là nhờ có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với người nghèo và các đối tượng chính sách, đã hỗ trợ cho chúng tôi được vay các nguồn vốn ưu đãi để phát triển kinh tế gia đình, tạo ra được việc làm ổn định. Tôi sẽ tiếp tục sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả, trả lãi đầy đủ hằng tháng và hoàn trả gốc cho NHCSXH đúng hạn”.

Trên đây chỉ là hai mảnh ghép trong số hơn 97 nghìn khách hàng vay vốn chương trình tín dụng chính sách của NHCSXH trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong 10 năm qua kể từ khi Chỉ thị số 40-CT/TW đi vào cuộc sống. Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự quyết liệt của các cấp chính quyền trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động tín dụng chính sách xã hội, chất lượng tín dụng chính sách ngày càng được nâng lên; nguồn vốn được đầu tư đúng đối tượng, phát huy hiệu quả góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ.

Nhìn lại 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW

Bám sát tinh thần chỉ đạo của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội tại Chỉ thị số 40-CT/TW, Tỉnh ủy Thái Bình đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, các sở, ban, ngành, NHCSXH Chi nhánh tỉnh quán triệt sâu sắc, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của tín dụng chính sách xã hội và trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức, cá nhân trong việc tham gia, phối hợp triển khai tuyên truyền, phổ biến chính sách, tổ chức thực hiện hoạt động tín dụng chính sách xã hội và thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và các địa phương trong tỉnh.

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Bình đã đưa nội dung Chỉ thị số 40-CT/TW vào Bản tin nội bộ phục vụ sinh hoạt tại 11.189 chi bộ trong toàn tỉnh; tổ chức quán triệt, triển khai nội dung Chỉ thị số 40-CT/TW trong Hội nghị Báo cáo viên của tỉnh; hướng dẫn tuyên truyền, phổ biến Chỉ thị số 40-CT/TW và Kết luận số 06-KL/TW ngày 10/6/2021 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW (Kết luận số 06-KL/TW) và các văn bản chỉ đạo của tỉnh bằng nhiều hình thức phù hợp; qua đó, phát huy vai trò và sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, nâng cao quyền và trách nhiệm của đối tượng thụ hưởng trong thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi. Các cấp ủy đảng, chính quyền đã coi việc lãnh đạo, chỉ đạo đối với hoạt động tín dụng chính sách xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chương trình, kế hoạch hoạt động thường xuyên, đặc biệt là nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, trước hết là người đứng đầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội gắn với việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030.

Cùng với đó, công tác kiểm tra, rà soát, công nhận danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo, hộ thoát cận nghèo được triển khai thực hiện nghiêm túc. Các tổ chức chính trị - xã hội các cấp thường xuyên tuyên truyền, tập huấn cho cán bộ, hội viên, đoàn viên về khoa học - công nghệ trong trồng trọt, chăn nuôi và chế biến; đồng thời, làm tốt công tác nhận ủy thác cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác để đầu tư sản xuất, kinh doanh, giúp người vay sử dụng vốn hiệu quả. Các cơ quan, đơn vị, địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân tham gia các mô hình sản xuất, liên kết sản xuất phù hợp với ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lựa chọn các nhân tố tích cực để hỗ trợ phổ biến chuyển giao khoa học kỹ thuật, đầu tư vốn tín dụng ưu đãi, xây dựng và nhân rộng các điển hình, mô hình sản xuất, kinh doanh, giúp nhau vươn lên thoát nghèo.

Công tác phối hợp giữa các ngành, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội với NHCSXH trên địa bàn được thực hiện chặt chẽ, hiệu quả trong các hoạt động tuyên truyền, triển khai các chương trình tín dụng chính sách, giám sát hoạt động tín dụng chính sách, nhất là giám sát toàn dân đối với công tác tín dụng chính sách xã hội. Chất lượng tín dụng ngày càng được củng cố và nâng cao; hiệu quả sử dụng vốn, thu nhập của đoàn viên, hội viên và các đối tượng thụ hưởng được nâng dần qua từng năm... góp phần đảm bảo an sinh xã hội, ngăn chặn, đẩy lùi tín dụng đen.

Theo Báo cáo Tổng kết 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW (2014 -2024) của Tỉnh ủy Thái Bình, dư nợ của bốn tổ chức chính trị - xã hội đều tăng. Tính đến hết tháng 4/2024, các tổ chức chính trị - xã hội đang phối hợp với NHCSXH Chi nhánh tỉnh Thái Bình tham gia quản lý 97.447 khách hàng với tổng số tiền 4.431,962 tỉ đồng, chiếm 99,88% tổng dư nợ cho vay tại NHCSXH, trong đó: Dư nợ Hội Nông dân đạt 1.576,002 tỉ đồng, chiếm 35,56% dư nợ ủy thác, tăng 106,78% so với năm 2014; dư nợ Hội Phụ nữ đạt 1.869,129 tỉ đồng, chiếm 42,17% dư nợ ủy thác, tăng 118,94% so với năm 2014; dư nợ Hội Cựu chiến binh đạt 620,086 tỉ đồng, chiếm 13,99% dư nợ ủy thác, tăng 101,57% so với năm 2014; dư nợ Đoàn Thanh niên đạt 366,745 tỉ đồng, chiếm 8,28% dư nợ ủy thác, tăng 123,76% so với năm 2014.

Giai đoạn 2014 - 2024, ngân sách địa phương đã cấp bổ sung 122,966 tỉ đồng ủy thác qua NHCSXH, nâng tổng nguồn vốn ủy thác đến nay đạt 133,386 tỉ đồng. Tổng nguồn vốn đến hết ngày 30/4/2024, đạt 4.443,435 tỉ đồng, tăng 111,87% so với năm 2014 (trong đó, nguồn vốn cân đối từ Trung ương chuyển về là 3.514,604 tỉ đồng, chiếm 79,1%; nguồn vốn huy động tại địa phương được Trung ương cấp bù lãi suất 795,445 tỉ đồng, chiếm 17,9% tổng nguồn vốn).

Chỉ thị số 40-CT/TW và Kết luận số 06-KL/TW đã làm thay đổi một cách sâu sắc về nhận thức và hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội đối với tín dụng chính sách xã hội. Cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp ngày càng xác định rõ hơn về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của tín dụng chính sách xã hội, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho NHCSXH thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện tín dụng chính sách xã hội; góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, hạn chế việc cho vay nặng lãi, tín dụng đen, cải thiện đời sống, qua đó góp phần ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng mà Đảng, Nhà nước đã đề ra.

Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của NHCSXH Chi nhánh tỉnh Thái Bình

Tính đến ngày 31/7/2024, tổng nguồn vốn thực hiện của NHCSXH Chi nhánh tỉnh Thái Bình đạt 4.492,9 tỉ đồng, tăng 220,4 tỉ đồng so với cùng kỳ năm 2023. Tổng dư nợ đạt 4.491,6 tỉ đồng, tăng 225,2 tỉ đồng so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, chương trình cho vay hộ nghèo đạt 133 tỉ đồng; chương trình cho vay học sinh, sinh viên đạt 200 tỉ đồng; chương trình cho vay giải quyết việc làm đạt 700 tỉ đồng; chương trình cho vay xuất khẩu lao động đạt 322 triệu đồng; cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đạt 1.535 tỉ đồng; cho vay chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg ngày 10/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ đạt 12,15 tỉ đồng; cho vay hộ cận nghèo đạt 182 tỉ đồng; cho vay hộ mới thoát nghèo 1.493 tỉ đồng; cho vay nhà ở xã hội đạt 222 tỉ đồng; cho vay học sinh, sinh viên mua máy tính, thiết bị trực tuyến đạt gần 8,7 tỉ đồng; cho vay cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học ngoài công lập đạt 596 triệu đồng; cho vay người chấp hành xong án phạt tù đạt 4,86 tỉ đồng.

Hoạt động tín dụng chính sách trên địa bàn tỉnh Thái Bình do Ban đại diện Hội đồng quản trị (HĐQT) NHCSXH các cấp chỉ đạo, NHCSXH Chi nhánh tỉnh triển khai, thực hiện. Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW, Kết luận 06-KL/TW, hiệu quả hoạt động của Ban đại diện HĐQT NHCSXH các cấp được nâng lên rõ rệt, đóng góp quan trọng trong việc tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương cùng cấp giải quyết các khó khăn, vướng mắc cũng như tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trụ sở làm việc cho NHCSXH trong quá trình triển khai tín dụng chính sách; chỉ đạo kịp thời cho các sở, ban, ngành có liên quan, các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác và chính quyền địa phương phối hợp với NHCSXH triển khai kịp thời, hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách trên địa bàn toàn tỉnh.

Sự tham gia của Chủ tịch UBND cấp xã vào Ban đại diện HĐQT cấp huyện góp phần nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước, khẳng định trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền cấp xã đối với hoạt động tín dụng chính sách tại cơ sở, giúp việc triển khai tín dụng chính sách đạt hiệu quả và chất lượng. Thông qua việc trực tiếp triển khai thực hiện các chương trình tín dụng chính sách, kiểm tra, giám sát, Chủ tịch UBND cấp xã kịp thời nắm bắt được tình hình quản lý vốn vay, những đề xuất, kiến nghị cũng như khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện tại cơ sở; từ đó, chỉ đạo xử lý kịp thời hoặc có tham mưu, đề xuất với Trưởng Ban đại diện HĐQT NHCSXH chỉ đạo tháo gỡ.

Hoạt động tín dụng chính sách được kiểm tra, giám sát thường xuyên thông qua các Đoàn Thanh tra của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Kiểm toán Nhà nước, NHCSXH, các sở, ngành của tỉnh… Bên cạnh đó, NHCSXH Chi nhánh tỉnh Thái Bình không ngừng củng cố, nâng cao chất lượng bộ máy điều hành, tác nghiệp và mạng lưới hoạt động. Mạng lưới hoạt động của NHCSXH tỉnh gồm có Chi nhánh NHCSXH tỉnh và 7 Phòng giao dịch NHCSXH cấp huyện. Trụ sở làm việc của NHCSXH tỉnh, huyện được trang bị đầy đủ phương tiện làm việc đã giúp cho bộ máy điều hành hoạt động tín dụng chính sách xã hội phục vụ đầy đủ, kịp thời nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Công tác đào tạo, tập huấn nâng cao kỹ năng quản lý, trau dồi đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ NHCSXH được tổ chức thường xuyên nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm, nâng cao kỹ năng cho cán bộ, nhân viên.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa ngân hàng vào hoạt động thường xuyên được quan tâm, trang thiết bị, máy móc đầu tư đầy đủ đảm bảo đáp ứng nhu cầu giao dịch của người dân; các sản phẩm phần mềm có tính bảo mật cao; xây dựng các mô-đun khai thác dữ liệu hoạt động nhằm giảm tải khối lượng công việc, đảm bảo tính chính xác cao phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành và giúp người dân dễ tiếp cận ứng dụng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, qua đó giảm thiểu chi phí, nâng cao hiệu quả vốn vay.

NHCSXH Chi nhánh tỉnh Thái Bình đã ủy thác cho các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác; vận động thành lập, quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động tổ TK&VV; phối hợp với NHCSXH thực hiện một số nội dung công việc liên quan đến quy trình cho vay, quản lý vốn vay, xử lý nợ, củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng… Phương thức ủy thác đã phát huy được những ưu thế của các tổ chức chính trị - xã hội với mạng lưới, cán bộ ở tất cả các xã, có chi hội hoạt động ở tất cả thôn, khu dân cư… Các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đã tích cực tuyên truyền, vận động, làm thay đổi nhận thức của cộng đồng xã hội, giúp người nghèo và các đối tượng chính sách mạnh dạn thay đổi tư duy, cách làm; chủ động vay vốn để đầu tư sản xuất, tạo việc làm, cải thiện cuộc sống; từng bước tiếp cận với nền sản xuất hàng hóa và quan hệ tín dụng “có vay - có trả”; xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chế độ cấp phát, cho không của Nhà nước.

Đến nay, toàn tỉnh Thái Bình có 260 Điểm giao dịch xã. Tại đây, NHCSXH niêm yết công khai chủ trương, chính sách và các chương trình tín dụng ưu đãi, nội quy, quy trình, thủ tục giải quyết công việc, danh sách người vay vốn, hòm thư góp ý, số điện thoại đường dây nóng để chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội và người dân biết, kiểm tra, giám sát. Trong thời gian qua, trên 90% khối lượng giao dịch của NHCSXH Chi nhánh tỉnh Thái Bình với khách hàng được thực hiện an toàn, thuận lợi ngay tại Điểm giao dịch xã, góp phần triển khai Chiến lược tài chính toàn diện đến người dân khu vực nông thôn.

Chất lượng tín dụng chính sách ngày càng được củng cố và hoạt động hiệu quả. Tính đến ngày 31/7/2024, tổng nợ quá hạn và nợ khoanh là 4,896 tỉ đồng, chiếm 0,11% tổng dư nợ. Toàn Chi nhánh có 179/260 xã không có nợ quá hạn, chiếm 68,85%; 2.585/2.705 tổ TK&VV không có nợ quá hạn, chiếm tỉ lệ 95,56%.

Hoạt động tín dụng chính sách của NHCSXH trên địa bàn tỉnh Thái Bình đã góp phần tích cực giúp 111.259 hộ vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm cho 61.121 lao động; giúp 121.630 học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn trang trải chi phí học tập; xây dựng 464.780 công trình nước sạch và vệ sinh môi trường ở nông thôn; 5.033 căn nhà cho hộ nghèo và đối tượng chính sách, cho vay 828 người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, 56 hộ gia đình vay vốn tạo việc làm cho người chấp hành xong án phạt tù theo Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg ngày 17/8/2023 của Thủ tướng Chính phủ.

Nguồn vốn tín dụng chính sách đã được đầu tư đến 100% các thôn, khu dân cư trên địa bàn toàn tỉnh, tạo điều kiện cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác có nhu cầu và đủ điều kiện được tiếp cận với đồng vốn tín dụng chính sách một cách thuận lợi và kịp thời, phần lớn dư nợ tín dụng chính sách được tập trung đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, giáo dục và đào tạo, chú trọng ưu tiên tập trung vốn cho vay tại các thôn, xã, các địa phương có tỉ lệ hộ nghèo, cận nghèo cao.

Nhìn chung, tín dụng chính sách xã hội đã phản ánh được thực tiễn, nguyện vọng của nhân dân. Đặc biệt, từ khi có Chỉ thị số 40-CT/TW và Kết luận số 06-KL/TW tín dụng chính sách đã đi vào cuộc sống, đạt hiệu quả tích cực, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh, bền vững, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an sinh xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, chăm lo các đối tượng yếu thế, “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Tiếp tục triển khai thực hiện tín dụng chính sách trong thời gian tới

Để tiếp tục phát huy vai trò, hiệu quả của tín dụng chính sách xã hội theo Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư, yêu cầu đặt ra của tỉnh Thái Bình là đảm bảo các nguồn lực thực hiện tín dụng chính sách xã hội, trong đó tập trung tăng quy mô nguồn vốn để đáp ứng đầy đủ, kịp thời về vốn tín dụng chính sách; qua đó hỗ trợ thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia của tỉnh và đảm bảo thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020 - 2025. Theo đó, tỉnh Thái Bình đang tập trung triển khai một số giải pháp sau:

Về phía cấp ủy đảng, chính quyền, Hội đồng nhân dân (HĐND), UBND tỉnh: Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng trong Đảng, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người dân về các chủ trương, chính sách liên quan đến tín dụng chính sách xã hội, coi đây là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên của cấp ủy, chính quyền. Nêu cao tinh thần, trách nhiệm và nhận thức trong việc triển khai tín dụng chính sách. Bám sát quy định của Trung ương và tình hình thực tiễn của địa phương để tiếp tục ưu tiên, cân đối ngân sách địa phương, ủy thác qua NHCSXH cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.

Kiện toàn, củng cố Ban đại diện HĐQT NHCSXH các cấp. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động tín dụng chính sách ở cơ sở; tăng cường công tác phối hợp giữa NHCSXH và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác ủy thác, giải ngân, phản biện xã hội, đảm bảo quản lý chặt chẽ, cho vay đúng đối tượng, sử dụng vốn hiệu quả. Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Ban đại diện HĐQT NHCSXH các cấp và phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội các cấp trong việc thực hiện tín dụng chính sách xã hội, chất lượng hoạt động ủy thác, đảm bảo quản lý tốt hoạt động tín dụng chính sách xã hội, thường xuyên kiện toàn, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ TK&VV; nâng cao chất lượng hoạt động giao dịch tại Điểm giao dịch xã, đảm bảo an toàn, hiệu quả. Tăng cường công tác nắm bắt tình hình, cập nhật thông tin để nhận biết, cảnh báo sớm rủi ro tín dụng nhằm hạn chế những rủi ro trong quá trình thực hiện tín dụng chính sách xã hội; xử lý kịp thời các khoản nợ bị rủi ro theo đúng quy định nhằm hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, phục hồi sản xuất, tạo sinh kế, ổn định cuộc sống.

Về phía Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh: Tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh các hình thức phổ biến, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tín dụng chính sách xã hội, đặc biệt là các chủ trương, chính sách tín dụng hỗ trợ giảm nghèo và an sinh xã hội đến đoàn viên, hội viên và người dân, nhất là người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác; gắn thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi với phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới" trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, vai trò chủ thể của người dân trong giám sát cộng đồng và vai trò của kiểm tra, kiểm soát nội bộ hệ thống NHCSXH trên địa bàn nhằm nâng cao khả năng cảnh báo sớm đối với những rủi ro tiềm ẩn trong quá trình thực hiện.

Tăng cường công tác chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng hoạt động ủy thác, công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc hoạt động của tổ chức chính trị - xã hội cấp dưới, đặc biệt trong hoạt động bình xét cho vay, đôn đốc người vay sử dụng vốn đúng mục đích, trả nợ, lãi ngân hàng đầy đủ, đúng hạn. Chú trọng công tác đào tạo tập huấn; phối hợp chặt chẽ với NHCSXH trong việc củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách xã hội.

Đối với NHCSXH Chi nhánh tỉnh Thái Bình: Tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp triển khai thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW; sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Bình và NHCSXH Việt Nam về triển khai các chương trình tín dụng chính sách trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc tỉnh và tổ chức chính trị - xã hội các cấp, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách xã hội nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn, phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội.

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa, đảm bảo minh bạch, chặt chẽ; kết hợp với tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tác nghiệp nhằm tạo điều kiện để các đối tượng tiếp cận thuận lợi với nguồn vốn vay. Đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ với các tính năng hiện đại, chi phí hợp lý, phù hợp với đối tượng khách hàng của hệ thống NHCSXH trên địa bàn. Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng các phiên trực giao dịch cố định tại các xã, phường, thị trấn. Thường xuyên rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo đủ điều kiện và có nhu cầu vay vốn NHCSXH để thực hiện bình xét, giải ngân đúng quy định.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội của Tỉnh ủy Thái Bình.
2. Báo cáo kết quả hoạt động tháng 7, nhiệm vụ trọng tâm tháng 8/2024 của NHCSXH Chi nhánh tỉnh Thái Bình.
3. Một số tài liệu tham luận tại Hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW tỉnh Thái Bình.


Hoàng Nguyên (NHNN)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN). Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu lần đầu tiên nước ta có một ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sự ra đời này là kết quả của quá trình xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, mở ra bước phát triển mới về chất trong hoạt động tài chính - tiền tệ. Trải qua 75 năm xây dựng, củng cố và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế về giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro, qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chuyển đổi hiệu quả sang mô hình giám sát hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Chuyển đổi tư duy bảo vệ dữ liệu cá nhân: Xây văn hóa, củng cố niềm tin trong hoạt động ngân hàng

Chuyển đổi tư duy bảo vệ dữ liệu cá nhân: Xây văn hóa, củng cố niềm tin trong hoạt động ngân hàng

Sự hoàn thiện không ngừng của các quy định pháp lý đang giúp hệ thống ngân hàng định hình rõ nét chiến lược bảo vệ dữ liệu cá nhân, song cũng đặt ra không ít thách thức về quản lý sự thay đổi và nguồn lực triển khai. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) nhìn nhận đây là hành trình hoàn thiện công tác quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động ngân hàng. Hành trình này không chỉ dừng lại ở thay đổi các quy trình nghiệp vụ, mà sâu xa hơn, đây là quá trình nâng cao giá trị thương hiệu, mở ra cánh cửa để ngân hàng sẵn sàng trao đổi và chia sẻ dữ liệu trong hệ sinh thái mở.
Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam

Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam

Từ hào khí bất diệt của ngày 30/4 lịch sử đến nhịp sống sôi động của công cuộc kiến thiết đất nước hôm nay, ngành Ngân hàng đang tiếp nối tinh thần bất khuất và khát vọng vươn mình của dân tộc Việt Nam bằng những bước chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định vai trò trụ cột tài chính và động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trong kỷ nguyên mới.
Nhận thức về ngân hàng xanh và hành vi lựa chọn ngân hàng thân thiện môi trường tại Việt Nam

Nhận thức về ngân hàng xanh và hành vi lựa chọn ngân hàng thân thiện môi trường tại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của nhận thức ngân hàng xanh đến thái độ và hành vi lựa chọn của khách hàng Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò điều tiết của niềm tin môi trường trong việc thúc đẩy hành vi tài chính bền vững.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành