Tiếp tục thực hiện các giải pháp đẩy nhanh tiến độ xử lí nợ xấu, khơi thông nguồn vốn cho nền kinh tế

Hoạt động ngân hàng
Nợ xấu luôn tồn tại song song với hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) và là điều không tránh khỏi trong quá trình phát triển kinh tế ở bất kỳ quốc gia nào cũng như ở Việt Nam.
aa

Nợ xấu luôn tồn tại song song với hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) và là điều không tránh khỏi trong quá trình phát triển kinh tế ở bất kỳ quốc gia nào cũng như ở Việt Nam. Trong thời gian qua, ngành Ngân hàng luôn nỗ lực kiểm soát nợ xấu ở mức an toàn, hợp lí. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, có nhiều nguyên nhân khiến nợ xấu ngân hàng có nguy cơ tăng trở lại, trong đó có tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 và tình hình kinh tế thế giới nhiều biến động khó lường, trong khi thị trường mua bán nợ tại Việt Nam còn chưa phát triển. Do đó, thời gian tới, cần nhiều giải pháp đồng bộ để giải bài toán nợ xấu, hướng tới sự phát triển an toàn, lành mạnh của các TCTD, khơi thông nguồn vốn cho nền kinh tế.

Nhiều thách thức với công tác xử lí nợ xấu

Việc xử lí nợ xấu phụ thuộc nhiều vào các điều kiện kinh tế vĩ mô và thị trường. Tuy nhiên, kinh tế thế giới, kinh tế và hệ thống ngân hàng, doanh nghiệp trong nước đang chịu những tác động bất lợi, tiêu cực từ môi trường bên ngoài, đặc biệt là dịch bệnh Covid-19 xuất hiện từ đầu năm 2020 và xung đột Nga - Ukraine khiến chuỗi cung ứng bị đứt gãy, chi phí sản xuất tăng cao, thị trường tiêu thụ sản phẩm bị thu hẹp, gây ảnh hưởng đến tình hình hoạt động, năng lực tài chính, năng lực trả nợ của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh trong nước khiến nợ xấu có nguy cơ gia tăng.

Bên cạnh đó, mặc dù nhiều khách hàng đã phối hợp và có trách nhiệm trong việc trả nợ đúng hạn nhưng cũng có không ít trường hợp khách hàng chưa có ý thức tự giác, tạo ra các tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm để khởi kiện ra tòa làm kéo dài thời gian xử lí tài sản bảo đảm.

Trong khi đó, Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lí nợ xấu của các TCTD là nghị quyết mang tính thí điểm các chính sách mới về xử lí nợ xấu đã đạt được những kết quả nhất định nhưng trong quá trình áp dụng đôi khi chưa thống nhất, hiệu quả thực thi chưa cao. Một số chính quyền và công an địa phương chưa tích cực hỗ trợ việc bảo đảm an ninh, trật tự trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm theo đề nghị của TCTD. Việc áp dụng một số quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 và quy định của pháp luật chuyên ngành còn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cơ quan có thẩm quyền, dẫn đến việc áp dụng đôi khi chưa thống nhất, hiệu quả thực thi chưa cao...

Cơ chế, chính sách về xử lí nợ xấu, tài sản bảo đảm còn bất cập, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho TCTD, Công ty Quản lí tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) xử lí nợ xấu; thiếu các cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước tham gia xử lý tài sản bảo đảm và mua bán nợ xấu.


Trong thời gian qua, ngành Ngân hàng luôn nỗ lực kiểm soát nợ xấu ở mức an toàn, hợp lí
Nguồn: Internet

Ngoài ra, thị trường mua bán nợ tại Việt Nam còn chậm phát triển. Trong hoạt động thúc đẩy sự phát triển của thị trường mua bán nợ Việt Nam, VAMC đóng vai trò trung tâm. Với gần 10 năm đi vào hoạt động, VAMC đang trở thành công cụ đắc lực trong việc mua, bán, xử lí nợ xấu của hệ thống các TCTD. Tính từ ngày 15/8/2017 - khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 chính thức có hiệu lực đến nay, VAMC mua được khoảng 114.200 tỉ đồng nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt. Còn các khoản nợ do VAMC mua theo giá thị trường đạt khoảng 11.822 tỉ đồng.

Một trong những đóng góp lớn nhất của VAMC về việc xử lí nợ xấu đó là phát triển thị trường mua bán nợ, mặc dù các hành lang pháp lí liên quan đến thị trường mua bán nợ bước đầu mới được hình thành. Với nhiều nỗ lực, trong năm 2021, VAMC thành lập Sàn giao dịch nợ VAMC. Đến cuối năm 2023, con số nợ xấu đang niêm yết ở trên giao dịch nợ của VAMC đạt trên 30.000 tỉ đồng, đóng góp quan trọng trong việc hình thành và phát triển thị trường mua bán nợ tại Việt Nam. Nhờ đó, hoạt động của thị trường mua bán nợ tại Việt Nam bước đầu đã có chuyển biến tích cực, góp phần thúc đẩy quá trình xử lí thu hồi nợ của ngành Ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Tuy nhiên từ thực tế, thị trường mua bán nợ Việt Nam cơ bản vẫn khá sơ khai, còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Đó là, khung pháp lí cho hoạt động thị trường mua bán nợ chưa thống nhất, bất cập, thiếu và yếu.

Khuôn khổ pháp lí hiện tại chỉ cho phép hai phương thức mua bán nợ: Đàm phán trực tiếp và đấu giá, vì thế còn thiếu cơ sở định giá khoản vay; thiếu các cơ chế về công khai thông tin… Mặt khác, phần lớn các khoản nợ xấu của các TCTD được đảm bảo bởi các bất động sản, nhưng ở nước ta chưa có thị trường bất động sản đúng nghĩa, đất đai vẫn thuộc sở hữu Nhà nước, chưa nói đến việc hoàn thành các thủ tục pháp lí đối với bất động sản là vô cùng phức tạp và khó khăn.

Ngoài ra, Việt Nam vẫn chưa xây dựng được một hệ thống cơ sở định giá khoản vay. Điều này dẫn dến tình trạng bên bán, đặc biệt là các ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước bị chi phối, không dám quyết định bán nợ do lo ngại mức giá đưa ra mang tính chủ quan mặc dù theo kinh nghiệm từ thị trường thế giới thì mức giá giao dịch luôn thấp hơn nhiều so với giá trị sổ sách khoản nợ.

Thị trường chưa thu hút được đa dạng chủ thể tham gia, dẫn đến số lượng chủ thể còn ít. Nghị quyết số 42/2017/QH14 cho phép các tổ chức khác tham gia mua - bán nợ xấu (nhưng không quy định chi tiết về kế thừa quyền, nghĩa vụ đối với tài sản bảo đảm khi tổ chức đó không phải là TCTD) đã hạn chế chủ thể tham gia, bên cạnh đó, còn tình trạng thiếu các nhà môi giới chuyên nghiệp, định giá tài sản độc lập, các định chế tài chính khác (công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, công ti chứng khoán... Các tổ chức hỗ trợ như môi giới, tư vấn, định giá, định hạng tín nhiệm… chưa phát triển; hàng hóa trên thị trường mua bán nợ chưa đa dạng; quy mô thị trường mua bán nợ còn khiêm tốn so với các quốc gia trong khu vực. Thị trường thứ cấp hầu như chưa có; kỹ thuật, phương pháp định giá khoản nợ còn thiếu tính thị trường; hạ tầng công nghệ thông tin còn nhiều bất cập, chưa có sự kết nối thông tin chặt chẽ giữa các chủ thể tham gia thị trường…

Trong thời gian qua, trước những biến động bất thường của thị trường chứng khoán, trái phiếu và bất động sản, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động của các TCTD nhằm phát hiện sớm những rủi ro tiềm ẩn, hành vi vi phạm pháp luật, có các biện pháp phòng ngừa, xử lí phù hợp nhằm góp phần đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng.

Đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và đẩy nhanh tiến độ xử lí nợ xấu

Để hạn chế, ngăn ngừa nợ xấu mới phát sinh, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời thúc đẩy hoạt động mua bán - xử lí nợ xấu đạt hiệu quả hơn cao, trong thời gian tới, NHNN tiếp tục thực hiện một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, tham mưu chỉ đạo công tác cơ cấu lại gắn với xử lí nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025 theo Quyết định số 689/QĐ-TTg ngày 08/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lí nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025", trong đó tập trung hướng dẫn, chỉ đạo các TCTD xây dựng và triển khai thực hiện phương án cơ cấu lại gắn với xử lí nợ xấu.

Thứ hai, tiếp tục theo dõi, giám sát, tăng cường thanh tra, kiểm tra tình hình cấp tín dụng, trong đó lưu ý các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp…, nhằm phát hiện các dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro, hành vi vi phạm pháp luật, đưa ra các biện pháp ngăn ngừa, giải pháp xử lí nhằm góp phần bảo đảm an toàn hoạt động của các TCTD.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lí về xử lí nợ xấu. Cùng với việc thực hiện Nghị quyết số 63/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội về cho phép kéo dài thời gian áp dụng toàn bộ quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 đến ngày 31/12/2023, tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành để tham mưu Chính phủ luật hóa cơ chế, chính sách xử lí nợ xấu, tài sản bảo đảm...

Thứ tư, tiếp tục chỉ đạo các TCTD thực hiện một số nội dung như: Kiểm soát tăng trưởng tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng, đẩy mạnh công tác xử lí, thu hồi nợ xấu và nợ đã sử dụng dự phòng rủi ro để xử lí; triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu mới phát sinh...

Thứ năm, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động cấp tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là lĩnh vực bất động sản.

Thứ sáu, tiếp tục chỉ đạo VAMC đẩy mạnh hoạt động mua, bán, xử lí nợ xấu theo cơ chế thị trường, quy định của pháp luật và phương án được phê duyệt nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lí nợ xấu; đồng thời, phối hợp tích cực với các TCTD trong việc tăng cường xử lí thu hồi nợ xấu, tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu đã mua bằng trái phiếu đặc biệt.

Ngoài các giải pháp trên cần phát huy hơn nữa vai trò của VAMC trong công tác mua, bán, xử lí nợ xấu đồng thời hướng tới tạo lập thị trường mua bán nợ xấu tập trung, với các giải pháp cụ thể như:

Đề xuất Chính phủ xem xét nâng cao năng lực tài chính cho VAMC (bổ sung vốn điều lệ cho VAMC để đạt mức 10.000 tỉ đồng theo Quyết định số 689/QĐ-TTg.

Để đạt được mục tiêu tạo lập thị trường mua bán nợ xấu tập trung mà trong đó VAMC đóng vai trò là trung tâm của thị trường, thời gian tới, về phía VAMC cần đẩy mạnh hoạt động của Sàn giao dịch nợ VAMC nhằm quản lí, khai thác thông tin về khoản nợ/tài sản. Bên cạnh đó, tích cực duy trì hoạt động Câu lạc bộ xử lí nợ AMC nhằm tạo diễn đàn trong công tác mua bán và xử lí nợ; trên cơ sở đó, đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện thị trường mua bán nợ ở Việt Nam. Đồng thời đẩy mạnh các giải pháp thúc đẩy hoạt động mua bán và xử lí nợ xấu nhằm hoàn thành kế hoạch kinh doanh hằng năm được NHNN giao. Tiếp tục hoàn thiện các quy chế nội bộ của VAMC phù hợp với các quy định mới của pháp luật có liên quan để triển khai nhanh và hiệu quả hoạt động mua nợ và xử lí nợ của VAMC.

Ngoài ra, các cơ quan liên quan cần tiếp tục nghiên cứu, kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc hoàn thiện một số quy định pháp luật về mua bán, xử lí nợ xấu: Đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản nhằm mở rộng phạm vi hoạt động đấu giá tài sản của VAMC; đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 06/9/2013 của Thống đốc NHNN quy định về việc mua, bán và xử lí nợ xấu của VAMC nhằm tăng thêm tính chủ động trong hoạt động của VAMC…

Bên cạnh khung pháp lí mạnh mẽ, luật lệ, quy định thống nhất, không có mâu thuẫn, đơn giản hóa thủ tục cưỡng chế tài sản đảm bảo, cần có những chính sách để thu hút các chủ thể, nhà đầu tư tham gia thị trường. Theo đó, Việt Nam cần phải tháo gỡ một số rào cản khác để tăng hiệu quả của thị trường như những khó khăn liên quan đến chuyển nhượng tài sản; những điểm chưa rõ ràng liên quan đến việc trả lại vật chứng trong vụ án hình sự. Đồng thời, cần thúc đẩy sự phát triển của các chủ thể tham gia thị trường như: Cho phép thành lập Hiệp hội các doanh nghiệp mua, bán nợ; tổ chức nhận ủy thác cho nhà đầu tư nước ngoài, công ty định giá, tổ chức xếp hạng tín nhiệm, công ty môi giới... Phát triển thị trường thứ cấp, tăng tính thanh khoản, trong đó nghiên cứu thành lập công ty tái cho vay thế chấp, cùng với phát triển hạ tầng tài chính (thông tin - dữ liệu, kế toán, kiểm toán, thanh toán bù trừ, định hạng tín nhiệm…).

Tài liệu tham khảo

1. Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 06/9/2013 của Thống đốc NHNN quy định về việc mua, bán và xử lí nợ xấu của Công ty Quản lí tài sản của các TCTD Việt Nam.
2. Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lí nợ xấu của các TCTD.
3. Nghị quyết số 63/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội về cho phép kéo dài thời gian áp dụng toàn bộ quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14.


Hạnh Linh
NHNN


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ vai trò của các yếu tố công nghệ, tâm lý và tài chính cá nhân trong việc hình thành hành vi chấp nhận dịch vụ của khách hàng.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Xem thêm
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng