Tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên giá trị tài sản bảo đảm

Hoạt động ngân hàng
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số lượng lớn trong hệ thống các doanh nghiệp đang hoạt động ở Việt Nam nên nhu cầu về vốn luôn cấp thiết. Để đáp ứng được điều kiện vay vốn thì doanh nghiệp nhỏ và vừa phải có tài sản thuộc sở hữu của mình làm tài sản bảo đảm.
aa

Tóm tắt: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số lượng lớn trong hệ thống các doanh nghiệp đang hoạt động ở Việt Nam nên nhu cầu về vốn luôn cấp thiết. Để đáp ứng được điều kiện vay vốn thì doanh nghiệp nhỏ và vừa phải có tài sản thuộc sở hữu của mình làm tài sản bảo đảm. Hàng tồn kho, các khoản phải thu là những tài sản sẵn có của những doanh nghiệp này, nhưng có được các tổ chức tín dụng lựa chọn và chấp nhận để làm tài sản bảo đảm hay không còn phụ thuộc vào các quy định của pháp luật hiện hành và quy trình nghiệp vụ tín dụng phù hợp của các tổ chức tín dụng để bảo đảm sự an toàn tốt nhất của nguồn vốn tài trợ. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung vào phân tích bản chất của việc cấp tín dụng dựa trên tài sản bảo đảm, tính chất “động”, “luân chuyển” của tài sản là hàng tồn kho, các khoản phải thu, thực trạng quy định của pháp luật, thực tiễn thi hành và kiến nghị hoàn thiện pháp luật liên quan đến thể chế pháp lý về tài chính, ngân hàng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Từ khóa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa, tín dụng, giá trị tài sản bảo đảm, hàng tồn kho, khoản phải thu, thế chấp, tài trợ vốn.

ACCESSIBILITY TO CREDIT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES BASED ON VALUE OF COLLATERAL

Abstract: Small and medium enterprises account for a large number of enterprises operating in Vietnam, so the need for capital is always urgent. In order to meet the loan conditions, small and medium enterprises must have assets under their ownership as collateral. Inventories and receivables are the available assets of these businesses, but whether it is preferred and accepted by credit institutions as collateral or not, depending on regulations of current laws and appropriate credit procedures of credit institutions to ensure the best safety of funding sources. Within the scope of this article, we focus on analyzing the nature of credit granting based on collateral, the "dynamic" and "volatile" nature of assets such as inventories, receivables, etc. , the current status of the law, implementation practices and recommendations for improvement of the law related to the legal institution of finance and banking in the context of the Fourth Industrial Revolution.

Keywords: Small and medium enterprises, credit, collateral value, inventory, receivables, mortgage, capital financing.

1. Một số nội dung cơ bản của tiếp cận tín dụng dựa trên giá trị tài sản bảo đảm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường dễ bị ảnh hưởng bởi tình hình thị trường trong nước khiến họ gặp khó khăn trong việc hoàn thành các chỉ tiêu kinh doanh theo dự kiến; bị áp lực về nguồn vốn và ít có cơ hội tiếp cận thị trường vốn như các doanh nghiệp lớn có thể phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu. Hàng tồn kho, các khoản phải thu, các thiết bị máy móc là những tài sản chủ yếu mà doanh nghiệp nhỏ và vừa sở hữu có thể làm tài sản bảo đảm. Tài sản bảo đảm là các khoản phải thu, hàng tồn kho của các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ gắn với dòng tiền của doanh nghiệp nên bên cho vay sẽ dễ dàng được ưu tiên thanh toán dựa trên việc quản lý dòng tiền, nắm các thông tin tài khoản của bên vay theo nguyên tắc bù trừ.

Một nguyên tắc của tài trợ vốn dựa trên tài sản bảo đảm là bên cho vay phải xây dựng được quy trình giám sát tài sản bảo đảm, cụ thể ở đây là hàng tồn kho và khoản phải thu. Rủi ro cho bên cho vay thường xảy ra khi bên cho vay biết được quá trễ về thời điểm doanh nghiệp vay bắt đầu rơi vào hoàn cảnh khó khăn nên khó có thể linh hoạt để bảo vệ khoản cho vay của mình. Thông qua công nghệ giám sát dòng tiền (đối với hàng tồn kho và khoản phải thu), các tổ chức tín dụng cho vay sẽ kịp thời bảo vệ vốn vay và chủ động xử lý ngay tài sản bảo đảm, chứ không phải rơi vào tình trạng thụ động cho đến khi bên vay bị Tòa án tuyên bố mở thủ tục phá sản thì mới biết tình trạng tài chính xấu của doanh nghiệp.

Xét trong bối cảnh tổng thể các loại tài sản của doanh nghiệp nhỏ và vừa sở hữu có thể dùng làm tài sản bảo đảm, hàng tồn kho và các khoản phải thu là tài sản mà doanh nghiệp nào cũng có (trừ một số doanh nghiệp mới thành lập), nhưng bên cho vay lại không xếp các loại tài sản này lên vị trí ưu tiên hàng đầu mà thường xếp sau tài sản là bất động sản. Thường các doanh nghiệp nhỏ và vừa thì không hoặc ít sở hữu bất động sản (chủ yếu là họ phải đi thuê văn phòng, nhà máy hoạt động) hoặc phải dùng bất động sản của người thứ ba để thế chấp bảo đảm cho khoản vay. Nếu các tổ chức tín dụng cấp tín dụng dựa trên giá trị tài sản bảo đảm là hàng tồn kho, các khoản thu sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng tiếp cận nguồn vốn và cũng tăng cường tính an toàn cho dòng vốn vay của các tổ chức tín dụng.

Tài trợ vốn dựa trên giá trị tài sản bảo đảm là hàng tồn kho, các khoản phải thu có những điểm đặc thù như: (i) Loại tín dụng cấp là hạn mức tín dụng quay vòng, là một hợp đồng chính thức giữa bên vay và bên cho vay, trong đó quy định một mức vốn vay nhất định, nhưng nó có tính quay vòng vì thường xuyên phát sinh các khoản rút vốn và trả nợ, mức dư nợ sẽ thay đổi lên xuống; (ii) Mức vay vốn không chỉ bị hạn chế bởi hạn mức, mà còn phụ thuộc vào giá trị hiện tại của tài sản bảo đảm. Trong trường hợp các khoản phải thu, hàng tồn kho không đủ thì mức vốn vay khả dụng thực tế tại thời điểm đó của khách hàng vay sẽ được giảm xuống thấp hơn giá trị của của tài sản bảo đảm này. Hay nói cách khác, mức vay vốn khả dụng được tính toán theo từng ngày; (iii) Khi bán tài sản bảo đảm là hàng tồn kho, bên vay không phải thông báo với khách hàng của mình về quan hệ tín dụng mà mình đang có nên sẽ giảm thiểu được việc tiết lộ thông tin về tình hình tài chính của bên vay ra bên ngoài; (iv) Khi bên cho vay đăng ký biện pháp bảo đảm để xác lập quyền và thứ tự ưu tiên thanh toán đối với các khoản phải thu, hàng tồn kho đang có và sẽ hình thành trong tương lai thì đồng thời bên cho vay có quyền thế chấp thả nổi đối với các khoản phải thu.

2. Thực trạng pháp luật về tiếp cận tín dụng dựa trên giá trị tài sản bảo đảm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Thứ nhất, về điều kiện vay vốn: Các văn bản pháp luật hiện hành trong lĩnh vực tín dụng không có nêu rõ tài sản bảo đảm là điều kiện để tài trợ vốn. Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng có quy định về điều kiện vay vốn tại Điều 7 cũng không nêu tài sản bảo đảm là điều kiện tiên quyết để vay vốn; các quy định về tài sản bảo đảm được quy định dưới góc độ là quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng1. Chính bởi vậy, trong quá trình thực thi bên cho vay thường yêu cầu bên vay phải đáp ứng đầy đủ tất cả các điều kiện về khả năng tài chính trả nợ vốn vay như báo cáo tài chính, bảng cân đối tài sản, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn, phương án sử dụng vốn vay bên cạnh hồ sơ tài sản bảo đảm. Việc yêu cầu tổng thể các điều kiện mà bên vay phải đáp ứng đôi khi khiến cho bên cho vay bỏ qua yếu tố trọng tâm, cốt lõi quyết định sự an toàn của vốn vay là loại tài sản bảo đảm và việc giám sát, quản lý tài sản bảo đảm.

Thứ hai, quy định của pháp luật hiện hành về tài sản bảo đảm là hàng tồn kho và các khoản phải thu còn chưa thống nhất giữa các văn bản pháp luật trong lĩnh vực tín dụng, kế toán và dân sự. Thông tư số 28/2021/TT-BTC ngày 27/4/2021 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 12 cũng như các văn bản khác của Bộ Tài chính ban hành thì dùng thuật ngữ “hàng tồn kho”, “các khoản phải thu”, nhưng trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Nghị định số 21/2021/NĐ-CP) lại dùng thuật ngữ “hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh” (Điều 19)2; và thuật ngữ “quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng” (Điều 14)3. Mặc dù quy định của Bộ luật Dân sự có tính chung bao quát, nhưng khi chuyển tải các thuật ngữ này vào trong các hợp đồng bảo đảm cụ thể thì cần có sự giải thích ngữ nghĩa kèm theo liệt kê các loại tài sản gắn theo từng hóa đơn (trên thực tế, không phải hợp đồng bảo đảm nào cũng thực hiện được điều này). Trường hợp có xảy ra tranh chấp thì việc không thống nhất và không giải thích được cụ thể về tài sản bảo đảm sẽ dẫn đến khả năng hợp đồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.

Thứ ba, về hoàn thiện quyền lợi trên tài sản bảo đảm: Với tài sản bảo đảm là hàng tồn kho và các khoản phải thu, bên nhận bảo đảm sẽ công bố quyền của mình thông qua việc đăng ký thế chấp tại Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định ba thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng của các biện pháp bảo đảm là đăng ký, nắm giữ và chiếm giữ. Trong đó, đăng ký là thủ tục áp dụng cho biện pháp thế chấp; nắm giữ thì áp dụng cho biện pháp cầm cố. Đối với hàng tồn kho là tài sản bảo đảm thì về hình thức, các bên thường đặt tên là thế chấp theo như quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, nhưng thực tế các bên lại áp dụng như đối với biện pháp cầm cố. Điều này có nguy cơ sẽ tạo ra các tranh chấp về thời điểm xác định thứ tự ưu tiên khi một tài sản được bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ khác nhau với các bên nhận bảo đảm khác nhau.

Thứ tư, về quy trình quản lý tài sản bảo đảm: Tài trợ vốn dựa trên giá trị tài sản bảo đảm thì vấn đề mấu chốt là phải giám sát và quản lý tốt tài sản bảo đảm, để từ đó có thể bù trừ cho khoản vay bị vi phạm. Mỗi loại tài sản khác nhau thì cơ chế quản lý, giám sát sẽ khác nhau. Hiện nay, các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này vẫn còn bỏ ngỏ, tùy cho mỗi ngân hàng tự xây dựng quy chế nghiệp vụ cho mình. Cho đến khi tài sản bảo đảm bị thất thoát, người đứng đầu chi nhánh ngân hàng/ngân hàng cho vay bị quy kết trách nhiệm hình sự mà bản thân họ cũng chưa nhận thức được đầy đủ đã làm sai ở khâu nào và tại sao.

3. Thực tiễn thi hành pháp luật về tiếp cận tín dụng dựa trên giá trị tài sản bảo đảm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Bên cạnh những thành tựu đạt được liên quan đến số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể vay được nguồn vốn từ chính tài sản mà doanh nghiệp đang sở hữu như hàng tồn kho, các khoản thu, vẫn tồn tại những bất cập sau đây:

Thứ nhất, các tổ chức tín dụng thường chấp nhận các khoản vay có tài sản bảo đảm chính là bất động sản, còn hàng tồn kho và các khoản phải thu như tài sản bảo đảm phụ, có tính bổ sung. Hay nói cách khác, tài sản bảo đảm là hàng tồn kho và tài sản bảo đảm là các khoản phải thu có những đặc thù mà các tổ chức tín dụng gặp phải khó khăn trong việc quản lý chúng. Chẳng hạn, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh vừa là đối tượng của thế chấp (tức là bên bảo đảm/bên thế chấp vẫn giữ tài sản) và được quyền bán chúng, thậm chí không cần phải thông báo trước bằng văn bản cho bên nhận thế chấp (khoản 4 Điều 321 Bộ luật Dân sự năm 2015)4. Như vậy, bên nhận thế chấp bị đặt vào tình trạng “sự đã rồi” khi hàng tồn kho đã được bán đi, nếu bên thế chấp không nhập hàng mới thay thế vào kho hoặc bên mua hàng hóa trong kho lại mất khả năng thanh toán. Còn đối với các khoản phải thu là tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải đối diện với nguy cơ là những khoản phải thu khó đòi, hệ thống hóa đơn, giấy tờ bị làm giả… Nên so với bất động sản bảo đảm thì hàng tồn kho, các khoản phải thu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường không là sự ưu tiên lựa chọn để phê duyệt cho vay của các tổ chức tín dụng.

Thứ hai, điều khoản mô tả tài sản bảo đảm trong hợp đồng bảo đảm do các tổ chức tín dụng thiết kế không đáp ứng được tính cụ thể, xác thực nên khả năng có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi có tranh chấp xảy ra. Khoản 2 Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được”. Và với cách hiểu ở vế 1 của khoản này là tài sản bảo đảm có thể mô tả chung và thường vế 2 bị bỏ quên. Nên phần lớn các điều khoản về hàng tồn kho, các khoản phải thu thì các tổ chức tín dụng thường mô tả là “tất cả các hàng hóa trong kho, tất cả các nguồn thu của bên thế chấp đã có, đang có, sẽ có đều là tài sản bảo đảm” và “tính xác định được” của chúng là không đạt được. Để hướng dẫn cụ thể cho việc mô tả tài sản bảo đảm là hàng tồn kho, Điều 19 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP có quy định: “Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh và kho hàng được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có thể được mô tả theo giá trị tài sản hoặc theo loại hàng hóa. Việc mô tả đối với tài sản bảo đảm là kho hàng còn phải thể hiện được địa chỉ, số hiệu kho (nếu có) hoặc dấu hiệu khác của vị trí kho hàng”. Tiếp theo, khoản 3 Điều 9 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP cũng hướng dẫn mô tả về các khoản phải thu: “3. Trường hợp tài sản bảo đảm là quyền tài sản thì thông tin được mô tả theo thỏa thuận phải thể hiện được tên, căn cứ pháp lý phát sinh quyền tài sản”. Thực tiễn cho thấy, nếu chỉ theo những hướng dẫn này trong Nghị định số 21/2021/NĐ-CP thì loại tài sản này được mô tả theo hướng “tĩnh” mà không thể hiện được bản chất của chúng, vốn dĩ là “động”. Ngay từ khi xác lập hợp đồng, việc mô tả để nhận diện chúng là gì thì chưa hẳn đã đủ mà cần xác định được sự biến động của chúng qua các dòng tiền hay sự hình thành của tài sản phái sinh. Điều này thì không ít các hợp đồng mẫu được soạn sẵn của các tổ chức tín dụng đều không có nội dung cần phải có như thế nên nhiều trường hợp, bên nhận bảo đảm không có căn cứ để xác định mối liên quan giữa tài sản mới được hình thành và cũng đồng nghĩa với việc không có quyền xử lý, ưu tiên thanh toán từ tài sản phái sinh của hàng tồn kho hay các khoản phải thu.

4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực hiện về tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên giá trị tài sản bảo đảm

Thứ nhất, các quy định về thuật ngữ đối với các loại tài sản của doanh nghiệp nhỏ và vừa dùng làm tài sản bảo đảm cần có sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật như hàng tồn kho hay hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các khoản phải thu hay quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng. Để từ đó, các thuật ngữ này được sử dụng trong các hợp đồng bảo đảm sẽ thuận tiện trong cách giải thích và áp dụng pháp luật.

Thứ hai, về thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng nhằm hướng tới xác định thứ tự ưu tiên khi xử lý tài sản bảo đảm nên thống nhất ở một phương thức đăng ký giao dịch. Việc chọn thời điểm nắm giữ tài sản làm phát sinh hiệu lực đối kháng đối với biện pháp bảo đảm làm phát sinh những bất cập như khó khăn cho người thứ ba phải mất thời gian, công sức đi xác minh xem tài sản mình dự định nhận làm tài sản bảo đảm đang thuộc quyền nắm giữ của ai, thay vì có thể kiểm tra thông tin qua hệ thống đăng ký giao dịch trực tuyến vốn dĩ hoạt động rất tốt của chúng ta hiện nay. Như đối với tài sản bảo đảm là hàng tồn kho mặc dù Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định là áp dụng biện pháp thế chấp nhưng kinh nghiệm cho thấy, để có thể an toàn trong quản lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm thường thực hiện như biện pháp cầm cố. Như vậy, có hai thời điểm đối với biện pháp bảo đảm áp dụng cho hàng tồn kho là vừa nắm giữ, vừa đăng ký; vì thế, cần xác định một thời điểm, đó là đăng ký vừa bảo đảm được sự thống nhất với các biện pháp bảo đảm với nhau về thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng, vừa đúng bản chất của vấn đề là phải có cơ chế công bố thông qua hệ thống thông tin công khai, để cho các chủ thể liên quan có thể tra cứu dễ dàng, nhanh chóng, chính xác.

Thứ ba, các tổ chức tín dụng nên xây dựng cho mình quy trình vừa đảm bảo được nghiệp vụ chuyên môn, vừa đáp ứng được tính an toàn pháp lý khi nhận bảo đảm đối với các tài sản là hàng tồn kho và các khoản phải thu. Cụ thể như sau:

(i) Đối với tài sản là các khoản phải thu: Với tính chất “động” nên giá trị của các khoản phải thu thay đổi từng ngày. Để có thể xác định được mức cho vay vốn từng thời điểm, bên cho vay phải kiểm soát được các khoản phải thu không hợp lệ là các khoản phải thu khó đòi xét trên tổng giá trị các khoản phải thu là tài sản bảo đảm. Việc quản trị rủi ro này nhằm xác định hạng mục các khoản phải thu có khả năng không thu hồi được: (1) Thường là các khoản phải thu đã quá hạn 90 ngày: Đây là điều kiện để có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố mở thủ tục phá sản đối với bên phải trả nợ và/hoặc có chứng cứ để cho thấy tình trạng tài chính của bên phải trả nợ đang bị suy thoái; (2) Khoản phải thu bị đối trừ (bù trừ): Đó là các khoản phải thu mà khách hàng của bên vay cũng đồng thời là nhà cung cấp, khi báo cáo của bên vay thể hiện thời điểm của khoản phải thu đến hạn cùng với thời điểm đến hạn của khoản phải trả của bên vay đối với khách hàng của họ và khách hàng của bên vay sẽ thường yêu cầu đối trừ nợ. Khoản phải thu này được coi là không hợp lệ vì số dư thực dương trên có thể chuyển thành số dư thực âm chỉ sau một hay nhiều giao dịch; (3) Các chứng từ ghi có: Đó là trường hợp khách hàng của bên vay trả lại hàng lỗi và được miễn thanh toán cho số hàng đó và được nhập vào sổ cái bán hàng hoặc trường hợp bên vay chiết khấu trên giá hóa đơn gốc cho khách hàng sau khi xuất hóa đơn; (4) Các khoản phải thu nội bộ: Đó là trường hợp khách hàng vay có nhiều công ty con và khi tình hình tài chính của khách hàng vay có vấn đề thì khả năng trả nợ của các công ty con là không cao (chúng bị phụ thuộc và có liên quan đến nhau). Nên các khoản thu nội bộ này cũng cần xem xét để xếp là các khoản phải thu không hợp lệ; (5) Các khoản phải thu khách hàng của bên vay có chất lượng tín dụng thấp, điều này chứng tỏ khả năng đòi được nợ từ khách hàng của bên vay khó có tính khả thi, nhất là khi giữa bên vay và khách hàng của bên vay xuất hiện các hóa đơn thanh toán đã quá hạn 90 ngày; (6) Xuất hóa đơn khi chưa giao hàng: Có những trường hợp, bên vay đã xuất hóa đơn và chuẩn bị giao hàng nhưng chưa giao hàng cho đến khi có yêu cầu của khách hàng. Bởi khi bên vay chưa hoàn thành nghĩa vụ giao hàng thì cũng chưa phát sinh quyền yêu cầu thanh toán từ hợp đồng.

Mục đích của việc rà soát này để xác định mức cho vay khả dụng chứ không phải loại trừ các khoản phải thu không hợp lệ này ra khỏi danh sách tài sản bảo đảm đã xác định ban đầu, bởi phạm vi bảo đảm thường được ghi trong hợp đồng là “tất cả” các khoản phải thu của bên vay. Để có thể nắm bắt chính xác và kịp thời những thay đổi về tài sản bảo đảm này, bên cho vay phải yêu cầu bên vay phải hoàn thành ba báo cáo: Báo cáo chi tiết các khoản phải thu phải được thực hiện mỗi tuần; Báo cáo thu hồi công nợ phải khớp với số tiền thực chuyển; Báo cáo xác nhận giá trị tài sản bảo đảm được lập theo tháng. Ngoài ra, còn phải thiết lập một tài khoản riêng để tiếp nhận mọi khoản tiền mà khách hàng thanh toán cho bên vay. Số tiền trong tài khoản này chỉ dùng để thanh toán dư nợ trong hạn mức tín dụng, được thiết lập dưới dạng tài khoản phong tỏa hoặc tài khoản thế chấp tiền mặt. Bên vay không thể rút tiền từ tài khoản thế chấp tiền mặt này, nghĩa là bên vay không thể chi séc từ tài khoản này bởi nó chỉ được dùng để trả nợ. Bên cho vay cũng cần đề phòng những rủi ro từ việc thanh toán ngầm giữa bên vay với khách hàng của họ.

(ii) Đối với tài sản bảo đảm là hàng tồn kho: Khi nhận tài sản bảo đảm là hàng tồn kho, bên cho vay cần lưu ý những vấn đề sau: (1) Xác định giá trị hàng tồn kho để quyết định mức cho vay: Giá trị hàng tồn kho được xác định mức cho vay là giá trị thanh lý (giá xấu nhất của hàng tồn kho) của tài sản chứ không phải là “giá thị trường” (giá tốt nhất của hàng tồn kho). Như vậy, bên cho vay cần phải xác định được giá trị của hàng tồn kho ở thời điểm bên vay bị mất khả năng trả nợ chứ không phải là giá trị của tài sản ở thời điểm cấp tín dụng. Hàng tồn kho có chất lượng là những tài sản mà giá trị không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố dẫn đến việc bên vay bị phá sản; (2) Vòng quay hàng tồn kho của từng doanh nghiệp: Hàng tồn kho là tài sản hữu hình có tính luân chuyển, được trữ trong kho để bán, hay được trữ để tiêu thụ trong quá trình sản xuất để bán trong điều kiện sản xuất, kinh doanh bình thường của bên vay. Bên cho vay phải xác định rõ ràng: Bên vay đang nắm giữ và có quyền sở hữu duy nhất đối với hàng tồn kho này, không chịu sự ràng buộc bởi quyền, lợi ích của bất cứ người nào khác trên hàng hóa đó. Theo đó, hàng hóa đã quá 90 ngày chưa được bán sẽ không được coi là khó bán và không hợp lệ; (3) Hàng tồn kho là nguyên vật liệu thô, bán thành phẩm và thành phẩm: Đó là ba giai đoạn luân chuyển cơ bản của hàng tồn kho và phải xác định được sự ảnh hưởng, chi phối của chúng đến sự thành bại của doanh nghiệp. Hàng tồn kho dưới dạng thành phẩm sẽ có tính khả thi và an toàn hơn so với bán thành phẩm và nguyên vật liệu thô; (4) Mức độ ổn định giá và khả năng tiêu thụ của hàng tồn kho: Nếu giá cả của hàng tồn kho ít biến động và sản phẩm càng dễ tiêu thụ bao nhiêu thì càng có chất lượng tốt bấy nhiêu.

Thực tế cho thấy, để quản lý được sự biến động của tài sản bảo đảm là hàng tồn kho, bên cho vay phải biết bên mua tài sản bảo đảm là hàng tồn kho là ai và gửi thông báo cho họ thanh toán trực tiếp cho bên cho vay. Khi đó, bên cho vay phê duyệt từng khoản vay riêng rẽ dựa trên giá trị của từng hóa đơn. Một kinh nghiệm nữa để tăng cường quản lý rủi ro là cần đưa thêm các biện pháp bảo đảm khác để bảo đảm thêm cho khoản vay đã có bảo đảm bằng hàng tồn kho. Đó là bên cho vay yêu cầu chủ sở hữu doanh nghiệp đưa ra văn bản cam kết bảo lãnh khi cho doanh nghiệp này vay vốn, nghĩa là cá nhân chủ doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm trả nợ thay hay liên đới cùng doanh nghiệp trả nợ nếu doanh nghiệp không thanh toán đủ nợ vay. Do bảo lãnh là biện pháp bảo đảm có tính đối nhân nên bên cho vay có thể thỏa thuận bên bảo lãnh đưa tài sản của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh, đó là thực hiện các bước cần thiết để hoàn thiện quyền lợi bảo đảm của bên cho vay đối với tài sản thế chấp của người bảo lãnh (theo quy định tại khoản 3 Điều 336 Bộ luật Dân sự năm 2015)5. Thêm nữa, đăng ký biện pháp bảo đảm đối với hàng tồn kho, các khoản phải thu để bảo đảm quyền ưu tiên duy nhất của bên cho vay hoặc thỏa thuận xác nhận thứ tự ưu tiên thanh toán với các chủ nợ khác của bên vay để bảo đảm quyền ưu tiên thứ nhất của bên cho vay (thường áp dụng trong trường hợp bên vay có các khoản vay từ cổ đông của bên vay).

Trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng cần vận dụng linh hoạt các thành tựu về công nghệ số để xây dựng quy trình quản lý, giám sát quá trình biến động của tài sản bảo đảm là hàng tồn kho, các khoản phải thu theo như phân tích ở trên. Các phần mềm thông minh tích hợp các thông tin đa chiều cũng như công nghệ trí tuệ nhân tạo đưa ra các cảnh báo về rủi ro của khoản vay một cách kịp thời là những mục tiêu mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các tổ chức tín dụng cần hướng tới.

Trong xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng về kinh tế, tài chính của Việt Nam, phương thức tài trợ vốn dựa trên giá trị tài sản bảo đảm là hàng tồn kho và các khoản phải thu đang gia tăng về quy mô so với phương thức tài trợ vốn truyền thống dựa trên báo cáo tài chính và phương án sử dụng vốn vay của bên vay. Để có thể thực hiện thành công và hiệu quả việc tài trợ vốn này, cần phải có các quy định về nghiệp vụ và pháp lý hoàn thiện nhằm kiểm soát tốt nhất loại tài sản sẵn có của bên vay là doanh nghiệp nhỏ và vừa (hàng tồn kho, các khoản phải thu) vốn là những tài sản có nhiều biến động, chứa đựng nhiều rủi ro. Mỗi tổ chức tín dụng cần có những thay đổi định hướng về việc lựa chọn và quản lý tài sản bảo đảm phù hợp và cơ chế của Chính phủ cũng cần có những giải pháp hỗ trợ kịp thời hơn nữa thì hệ thống tài chính, tín dụng mới phát triển, cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo huyết mạch của nền kinh tế thông suốt, an toàn, tạo nền tảng, điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế của đất nước.

1 Điều 7. Điều kiện vay vốn

Tổ chức tín dụng xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau đây:

1. Khách hàng là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật. Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.

2. Nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp.

3. Có phương án sử dụng vốn khả thi.

4. Có khả năng tài chính để trả nợ.

5. Trường hợp khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng theo lãi suất cho vay quy định tại khoản 2 Điều 13 Thông tư này, thì khách hàng được tổ chức tín dụng đánh giá là có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh.

2 Điều 19. Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh và kho hàng

Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh và kho hàng được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có thể được mô tả theo giá trị tài sản hoặc theo loại hàng hóa. Việc mô tả đối với tài sản bảo đảm là kho hàng còn phải thể hiện được địa chỉ, số hiệu kho (nếu có) hoặc dấu hiệu khác của vị trí kho hàng.

Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh có thể là hàng hóa trong kho hoặc là hàng hóa đang tham gia quá trình sản xuất, kinh doanh.

3 Điều 14. Quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng

Bên có quyền trong hợp đồng được dùng quyền đòi nợ, các khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán khác; quyền khai thác, quản lý dự án đầu tư; quyền cho thuê, cho thuê lại; quyền hưởng hoa lợi, lợi tức, lợi ích khác trị giá được bằng tiền hình thành từ hợp đồng; quyền được bồi thường thiệt hại; quyền khác trị giá được bằng tiền phát sinh từ hợp đồng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

4 Được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp, nếu tài sản đó là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Trong trường hợp này, quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền, số tiền thu được, tài sản hình thành từ số tiền thu được, tài sản được thay thế hoặc được trao đổi trở thành tài sản thế chấp.

Trường hợp tài sản thế chấp là kho hàng thì bên thế chấp được quyền thay thế hàng hóa trong kho, nhưng phải bảo đảm giá trị của hàng hóa trong kho đúng như thỏa thuận.

5 Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.


PGS., TS. Vũ Thị Hồng Yến
Trưởng Khoa Luật, Đại học Sài Gòn
https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN). Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu lần đầu tiên nước ta có một ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sự ra đời này là kết quả của quá trình xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, mở ra bước phát triển mới về chất trong hoạt động tài chính - tiền tệ. Trải qua 75 năm xây dựng, củng cố và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế về giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro, qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chuyển đổi hiệu quả sang mô hình giám sát hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Xem thêm
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng