Hưởng ứng Ngày Môi trường Thế giới 05/6

Tiến tới Hiệp ước Toàn cầu về chấm dứt ô nhiễm nhựa

Kinh tế - xã hội
Ô nhiễm nhựa đang trở thành một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với môi trường sống và sự phát triển bền vững của nhân loại. Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), nếu không có biện pháp kiểm soát, đến năm 2040 lượng nhựa rò rỉ vào môi trường có thể tăng thêm 50%. Vi nhựa đã hiện diện trong thực phẩm, nguồn nước và không khí, tạo ra các rủi ro nghiêm trọng về y tế và môi trường.
aa

Trước thực trạng này, UNEP đề xuất xây dựng một hiệp ước toàn cầu có tính ràng buộc pháp lý nhằm giải quyết triệt để ô nhiễm nhựa. Hiệp ước sẽ bao phủ toàn bộ vòng đời sản phẩm, hướng đến thiết kế bền vững, giảm sử dụng nhựa một lần và tăng cường tái chế. Hơn 170 quốc gia đã tham gia tiến trình đàm phán, với mục tiêu hoàn tất văn kiện vào năm 2025. Ngày Môi trường Thế giới năm 2025 với chủ đề “Chống ô nhiễm nhựa” (Beat Plastic Pollution) với mục tiêu huy động hành động chung nhằm kiểm soát toàn diện, tiến tới chấm dứt ô nhiễm nhựa.

Tiến tới Hiệp ước Toàn cầu về chấm dứt ô nhiễm nhựa
Ảnh mình họa (Nguồn: Internet)

Thế giới đang phải đối mặt với khủng hoảng ô nhiễm nhựa

Theo báo cáo của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), mỗi năm thế giới sản xuất khoảng 430 triệu tấn nhựa, trong đó hơn 2/3 là các sản phẩm sử dụng một lần, nhanh chóng trở thành rác thải, gây ô nhiễm đại dương, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái và sức khỏe con người.

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), sản lượng polymer tổng hợp toàn cầu - chất liệu tạo thành nhựa khối, đã tăng gấp 230 lần kể từ những năm 1950. Giai đoạn 2000 - 2019, con số này tăng gấp đôi lên 460 triệu tấn, tập trung chủ yếu ở Mỹ, Trung Đông và Trung Quốc.

Theo OECD, nếu không có biện pháp kiểm soát, đến năm 2060, con số đó sẽ tăng gần gấp ba lần lên 1,2 tỉ tấn. Tỉ lệ thuận với sản lượng nhựa tăng mạnh, khối lượng rác thải nhựa trên toàn cầu cũng tăng gấp hơn 2 lần trong vòng 20 năm qua, từ 156 triệu tấn trong năm 2000 lên 353 triệu tấn vào năm 2019 và dự kiến sẽ tăng lên hơn 1 tỉ tấn vào năm 2060.

Điều đáng quan ngại là cách xử lý lượng rác nhựa khổng lồ này. Theo OECD, chỉ 9% rác thải nhựa trên thế giới được tái chế, 19% được đốt có kiểm soát và gần 50% được đưa đến các bãi chôn lấp có kiểm soát. Khoảng 22% lượng rác thải nhựa có điểm đến cuối cùng là các bãi rác, bị đốt ngoài trời hoặc thải trực tiếp ra môi trường, gây nguy cơ lớn cho sức khỏe con người.

Khoảng 22 triệu tấn nhựa được thải ra môi trường mỗi năm, trong đó có 6 triệu tấn trôi nổi dưới sông, hồ và biển. Theo các nhà khoa học, một số loại nhựa có thể mất tới hàng trăm năm, thậm chí một nghìn năm mới có thể phân hủy.

OECD dự đoán đến năm 2060, khối lượng rác thải nhựa trong môi trường sẽ tăng gấp hai lần lên 44 triệu tấn, chủ yếu là loại nhựa lớn, song chưa có thống kê chính xác về tình trạng hạt rác nhựa trong cơ thể con người và sinh vật.

Hậu quả mà rác thải nhựa gây ra với môi trường là rất nghiêm trọng. Rác thải nhựa khiến nỗ lực thích ứng biến đổi khí hậu và khả năng phục hồi của hệ sinh thái gặp nhiều trở ngại hơn. Các hạt vi nhựa đi vào cơ thể, đe dọa sức khỏe con người và các loài động vật.

Yêu cầu về Hiệp ước toàn cầu chấm dứt ô nhiễm nhựa

Trước thực trạng này, UNEP đề xuất xây dựng một hiệp ước toàn cầu có tính ràng buộc pháp lý nhằm giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm nhựa. Hiệp ước sẽ bao phủ toàn bộ vòng đời sản phẩm, hướng đến thiết kế bền vững, giảm sử dụng nhựa một lần và tăng cường tái chế. Hơn 170 quốc gia đã tham gia tiến trình đàm phán, với mục tiêu hoàn tất văn kiện vào năm 2025.

Năm 2022, Liên hợp quốc đã thông qua một nghị quyết yêu cầu triệu tập Ủy ban Đàm phán liên chính phủ (INC) nhằm xây dựng một văn bản ràng buộc pháp lý quốc tế về chống ô nhiễm nhựa. INC đặt mục tiêu đưa ra phương pháp toàn diện về toàn bộ vòng đời của nhựa, từ sản xuất, tiêu dùng đến thải loại, nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe con người trước những tác động tiêu cực. Theo đó, Chính phủ của 175 quốc gia đã cam kết xây dựng một thỏa thuận toàn cầu mới nhằm chấm dứt ô nhiễm nhựa, bao gồm toàn bộ vòng đời của nhựa, từ khai thác dầu khí để sản xuất nhựa cho đến thiết kế, sử dụng và quản lý chất thải nhựa. Phần lớn các chính phủ ủng hộ việc đưa các quy tắc toàn cầu mạnh mẽ vào hiệp ước, đặc biệt là các quy tắc cấm hoặc loại bỏ dần các sản phẩm từ nhựa và hóa chất độc hại nhất.

Kỳ họp gần nhất - kỳ họp thứ năm (INC-5) đã diễn ra từ ngày 25/11 - 01/12/2024 tại Busan, Hàn Quốc. Đây là thời điểm quyết định cho các nhà lãnh đạo đưa ra các hành động mạnh mẽ mang tính toàn cầu và có tính ràng buộc đối với toàn bộ vòng đời nhựa để bảo vệ sức khỏe con người và thiên nhiên. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo đã không đạt được kỳ vọng như mong muốn tại kỳ đàm phán cuối cùng INC-5 này; đó là thực hiện cam kết đã tuyên bố tại Kỳ họp lần thứ 5 tiếp nối của Hội đồng Môi trường Liên hợp quốc (UNEA-5.2) nhằm chấm dứt khủng hoảng nhựa và khôi phục môi trường; mà chỉ đạt được những thỏa thuận về cấu trúc và các yếu tố của văn bản hiệp ước, cũng như hiểu rõ hơn về lập trường của các quốc gia và những thách thức chung.

Để đạt được một bản Hiệp ước chung, các quốc gia cần theo đuổi các nghĩa vụ bắt buộc trên toàn cầu, đồng thời đảm bảo phương tiện cần thiết để tất cả các bên liên quan có thể thực hiện. Với mục đích đó, WWF đã chỉ ra 4 thành tố để các nhà lãnh đạo trên thế giới đàm phán trong các kỳ họp tiếp theo và đưa ra được một Hiệp ước cần thiết nhằm bảo vệ con người và thiên nhiên,

Thứ nhất, loại bỏ dần tiến tới cấm nhựa có hại trên phạm vi toàn cầu

Ở giai đoạn đầu, Hiệp ước cần đưa ra các lệnh cấm và loại bỏ có tính ràng buộc đối với các hóa chất và sản phẩm nhựa có hại hoặc có khả năng thay thế. Các quốc gia cần đồng ý với các tiêu chí toàn cầu dựa trên bằng chứng khoa học và danh sách ban đầu các sản phẩm nhựa và hóa chất có hại có thể bị cấm ngay lập tức và loại bỏ dần.

Các tiêu chí chính cần có trong các lệnh cấm và loại bỏ, đó là các sản phẩm nhựa có nguy cơ cao xâm nhập vào môi trường, không phù hợp trong nền kinh tế tuần hoàn hoặc có thể gây ra ô nhiễm nghiêm trọng; các hóa chất trong sản phẩm nhựa có nguy cơ gây hại cho sinh vật sống - chất gây ung thư, chất gây đột biến hoặc ngộ độc sinh sản (CRM), chất gây rối loạn nội tiết hoặc gây độc tính…

Thứ hai, yêu cầu thiết kế sản phẩm mang tính toàn cầu, phù hợp hệ thống chuyển đổi kinh tế tuần hoàn

Hiệp ước phải thiết lập các yêu cầu mang tính ràng buộc và toàn cầu về thiết kế, hiệu suất sản phẩm để đảm bảo giảm thiểu, tái sử dụng. Các yêu cầu ban đầu nên tập trung vào khả năng tái sử dụng và tái chế của các sản phẩm nhựa ưu tiên, nhựa tái sinh, và việc thiết lập các hệ thống thiết yếu để tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn.

Ngay từ đầu, các nghĩa vụ về thiết kế sản phẩm phải đặt nền tảng cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn. Trong đó, các yêu cầu và hướng dẫn kỹ thuật bổ sung cho những hệ thống cần thiết - chẳng hạn như hệ thống tái sử dụng, các chương trình trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) - và một số thay đổi mang tính hệ thống sẽ cần triển khai sau khi Hiệp ước được thông qua.

Là một phần trong những cải thiện trong tương lai, ngoài các tiêu chí chung cho tất cả các loại nhựa, các nước thành viên nên xây dựng và thông qua các tiêu chí được điều chỉnh phù hợp và cụ thể theo từng ngành cho các ngành ưu tiên góp phần gây ô nhiễm nhựa như: bao bì, nghề cá và nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp, dệt may và vận tải.

Thứ ba, dòng tài chính phù hợp và đủ nguồn lực cho sự thay đổi hệ thống

Hiệp ước phải bao gồm một gói tài chính toàn diện tận dụng mọi nguồn lực hiện có và phù hợp với các dòng tài chính, bao gồm cả tài chính công và tư, phù hợp với các mục tiêu và việc thực hiện những biện pháp của Hiệp ước. Gói tài chính này sẽ đảm bảo hỗ trợ tài chính đầy đủ, công bằng, có thể dự tính và dễ tiếp cận để cho phép tất cả các quốc gia thành viên thực hiện hiệu quả Hiệp ước.

Nguồn tài chính cần thiết để hỗ trợ thực hiện Hiệp ước là khá lớn. Để bổ sung cho gói tài chính, Hiệp ước phải đảm bảo cung cấp các nguồn lực phi tài chính để xúc tiến thực hiện một cách hiệu quả, đặc biệt là thông qua chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực.

Bên cạnh đó là việc chia sẻ các thực hành tốt nhất, cung cấp các chương trình đào tạo và thúc đẩy hợp tác quốc tế sẽ tối đa hóa tác động của mọi hỗ trợ tài chính, đồng thời tăng cường năng lực kỹ thuật và công nghệ của tất cả các quốc gia để cùng nhau chống lại ô nhiễm nhựa.

Thứ tư, cơ chế ra quyết định đảm bảo có thể điều chỉnh theo thời gian

Các biện pháp ưu tiên được đề xuất hiện nay cung cấp cơ sở vững chắc cho hành động toàn cầu. Chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn, phù hợp với giới hạn của trái đất, ưu tiên các hệ thống tái sử dụng và tái chế chất lượng cao. Để đạt được mục tiêu dài hạn này, chúng ta sẽ cần liên tục phát triển và áp dụng các biện pháp quản lý toàn bộ vòng đời của nhựa.

Để chuẩn bị cho việc tăng cường theo thời gian, các yêu cầu về thu thập dữ liệu, cơ chế báo cáo minh bạch và đánh giá thường xuyên để theo dõi tiến độ, xác định các nội dung cải thiện.

Hiệp ước phải bao gồm các điều khoản quy định rõ cách thức để các quốc gia thành viên có thể đưa ra quyết định bổ sung hoặc sửa đổi cần thiết. Tăng cường các quy tắc hiện hành bằng cách mở rộng các phụ lục và để thông qua các quy tắc ràng buộc mới, nếu cần thiết. Hiệp ước cần đưa ra các điều khoản cho phép bỏ phiếu trong trường hợp không đạt được sự đồng thuận.

Sự tham gia của Việt Nam

Tác động của ô nhiễm nhựa đang hiện diện rõ nét tại nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Ước tính mỗi năm, Việt Nam phát sinh khoảng 3,9 triệu tấn rác thải nhựa, phần lớn chưa được thu gom và xử lý đúng cách, đặc biệt ở các thành phố ven biển và khu vực đông dân cư. Theo thống kê sơ bộ, chỉ khoảng 27% được tái chế, phần lớn còn lại bị chôn lấp hoặc đốt bỏ, gây lãng phí tài nguyên và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho môi trường.

Ô nhiễm nhựa không chỉ là một vấn đề môi trường, mà còn là phép thử cho sự thích ứng của Việt Nam trong tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn và kinh tế tri thức. Công nghệ cao, sự đổi mới sáng tạo và liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân chính là chìa khóa để Việt Nam biến thách thức thành động lực phát triển bền vững.

Việt Nam là một trong những quốc gia tích cực tham gia chống ô nhiễm nhựa, một trong 3 nước đầu tiên thành lập và đi vào hoạt động Nhóm công tác triển khai Chương trình đối tác hành động quốc gia về nhựa. Việt Nam cũng đã ban hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; kế hoạch hành động quốc gia về rác thải nhựa đại dương với mục tiêu đến năm 2030 sẽ giảm thiểu 75% rác thải nhựa trên biển và đại dương, 100% ngư cụ khai thác thủy sản bị mất hoặc bị vứt bỏ được thu gom, chấm dứt việc thải bỏ ngư cụ trực tiếp xuống biển, 100% khu, điểm du lịch, cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch ven biển không sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần và túi ni-lon khó phân hủy…

Các địa phương như Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương… đã có những sáng kiến đáng ghi nhận như “chợ dân sinh xanh”, “đô thị không rác thải nhựa”, “phân loại rác tại nguồn”. Nhiều doanh nghiệp đang chuyển đổi sang vật liệu sinh học, bao bì tái chế, ứng dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong sản xuất.

Bên cạnh những kết quả tích cực, chúng ta cũng không thể phủ nhận nhiều thách thức tồn tại trong quản lý và giảm thiểu rác thải nhựa tại Việt Nam. Vì vậy, thông điệp Ngày Môi trường thế giới năm 2025 sẽ tiếp tục lan tỏa tinh thần “sống xanh - hành động xanh”, thúc đẩy sự tham gia tích cực của toàn xã hội trong việc bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững.

UNEP hiện là cơ quan điều phối chính về môi trường của Liên hợp quốc, với vai trò hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và hoạch định chính sách môi trường cho các nước đang phát triển. Trong những năm qua, tổ chức này đã hỗ trợ nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, triển khai mô hình phân loại rác tại nguồn, nâng cấp hạ tầng xử lý rác và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường.

Hiệp ước toàn cầu chấm dứt ô nhiễm nhựa, nếu được thông qua vào năm 2025, được kỳ vọng sẽ tạo ra khung pháp lý quốc tế đầu tiên kiểm soát toàn diện rác thải nhựa. Với sự tham gia tích cực của cộng đồng quốc tế và các quốc gia như Việt Nam, đây có thể là bước ngoặt quan trọng trong nỗ lực chung bảo vệ hệ sinh thái và sức khỏe con người khỏi một trong những vấn đề môi trường cấp bách nhất hiện nay.

TS. Nguyễn Đình Đáp
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Tin bài khác

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Bài viết khắc họa hành trình gieo mầm và vun trồng “Mùa xuân cách mạng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những dấu mốc lịch sử trọng đại của dân tộc, từ khởi nguồn lý tưởng cứu nước đến khát vọng phát triển trong kỷ nguyên vươn mình hôm nay.
Lan tỏa thông điệp sử dụng tiền văn minh để khơi dậy nét đẹp văn hóa Tết

Lan tỏa thông điệp sử dụng tiền văn minh để khơi dậy nét đẹp văn hóa Tết

Sáng 04/02/2025, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Sử dụng tiền văn minh và thanh toán an toàn trong dịp Tết”. Tọa đàm được tổ chức như một diễn đàn kết nối đa chiều, quy tụ ý kiến của các nhà nghiên cứu văn hóa, các chuyên gia có uy tín trong xã hội, các cơ quan quản lý chính sách… nhằm gợi mở những giải pháp an toàn, hiệu quả trong việc sử dụng tiền và thanh toán dịp Tết.
VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG

VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG

Trân trọng giới thiệu bài viết "VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG" của Tổng Bí thư Tô Lâm nhân dịp kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2026).
Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: TIẾN LÊN! TOÀN THẮNG ẮT VỀ TA!

Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: TIẾN LÊN! TOÀN THẮNG ẮT VỀ TA!

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: TIẾN LÊN! TOÀN THẮNG ẮT VỀ TA!
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng định hình sứ mệnh của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng định hình sứ mệnh của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong việc hiện thực hóa các định hướng phát triển nhanh gắn với bền vững theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng thời làm rõ những yêu cầu đổi mới thể chế, điều hành chính sách và phát triển tài chính xanh trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Xem thêm
Quản trị rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trước biến động địa chính trị toàn cầu

Quản trị rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trước biến động địa chính trị toàn cầu

Bài viết phân tích rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trong bối cảnh biến động địa chính trị toàn cầu gia tăng, qua đó làm rõ mối liên hệ giữa an ninh năng lượng và ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất các giải pháp chiến lược về dự trữ quốc gia và công cụ tài chính phái sinh nhằm tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế.
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích khoảng trống pháp lý đối với dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam, đồng thời đề xuất khung pháp lý nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ khách hàng và tạo nền tảng cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài sản số.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành