Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến hệ thống ngân hàng Việt Nam

Hoạt động ngân hàng
Sự phát triển của nhân loại trong hơn ba thế kỉ qua chịu ảnh hưởng rất lớn bởi những thay đổi từ các cuộc Cách mạng công nghiệp (CMCN). Cũng như ba cuộc CMCN trước, cuộc CMCN lần thứ tư (CMCN 4.0) đang tạo ra thời cơ mới cho sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
aa

Tóm tắt: Sự phát triển của nhân loại trong hơn ba thế kỉ qua chịu ảnh hưởng rất lớn bởi những thay đổi từ các cuộc Cách mạng công nghiệp (CMCN). Cũng như ba cuộc CMCN trước, cuộc CMCN lần thứ tư (CMCN 4.0) đang tạo ra thời cơ mới cho sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, đi cùng với cuộc cách mạng này là những tác động tích cực lẫn tiêu cực đến đời sống kinh tế, trong đó có hệ thống ngân hàng. Bài viết đưa ra những tác động của CMCN 4.0 đến hệ thống ngân hàng Việt Nam, từ đó, đưa ra một số giải pháp để hệ thống ngân hàng Việt Nam thích ứng với CMCN 4.0.

Từ khóa: CMCN 4.0; công nghệ hiện đại; hệ thống ngân hàng.

CMCN 4.0 ra đời trên cơ sở nền tảng của CMCN lần thứ ba, trọng tâm là các phát minh, phát kiến và sự kết hợp của ba xu hướng lớn: Vật lí, số hóa và sinh học, hay nói cách khác, đó là sự kết hợp của ba thế giới: Thế giới vật chất, thế giới ảo (thế giới số) và thế giới sinh vật. Tương tự như CMCN lần thứ ba, CMCN 4.0 cũng được dự đoán có ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu rộng đến các quốc gia trên thế giới.

Việt Nam cũng chịu sự tác động của CMCN 4.0 nhưng có lẽ lĩnh vực chịu tác động nhiều nhất là các hoạt động kinh tế, trong đó có hệ thống ngân hàng. Trong những năm qua, mặc dù hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong đổi mới, trưởng thành và lớn mạnh hơn nhiều so với trước đây, tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực của CMCN 4.0 thì hệ thống ngân hàng Việt Nam còn chịu nhiều thách thức và cần có các giải pháp ứng phó kịp thời.

1. Tác động của CMCN 4.0 đến hệ thống ngân hàng Việt Nam

Những tác động tích cực

Thứ nhất, đối với hoạt động hệ thống ngân hàng, CMCN 4.0 sẽ mang lại cơ hội lớn cho các ngân hàng trong việc ứng dụng mô hình quản trị thông minh của trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa trong quy trình nghiệp vụ. Đồng thời, CMCN 4.0 sẽ giúp các ngân hàng chuyển đổi các dịch vụ cung ứng của mình từ chủ yếu xử lí thủ công sang môi trường giao dịch điện tử. Theo đó, các ngân hàng phải gia tăng tính chính xác, kịp thời (ứng dụng công nghệ để cải thiện năng lực phân tích, dự báo); tăng tính khách quan, minh bạch và giải trình (hiện đại hóa các thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ số trong quản trị điều hành, tự động hóa một số khâu trong quy trình nghiệp vụ).

Thứ hai, đối với hệ thống các tổ chức tín dụng, những tiến bộ từ CMCN 4.0 là bàn đạp giúp các ngân hàng trong nước phát triển và cạnh tranh với các ngân hàng tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Ảnh hưởng của CMCN 4.0 mà cụ thể là Internet di động, điện toán đám mây, lưu trữ dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT) sẽ giúp các ngân hàng trong nước định hình lại mô hình kinh doanh, quản trị, hướng tới việc xây dựng các ngân hàng kĩ thuật số thông minh trong tương lai.

Một số thách thức

Một là, tác động đến khuôn khổ pháp lí. CMCN 4.0 đòi hỏi chúng ta phải thay đổi khuôn khổ pháp lí và cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động ngân hàng số để đáp ứng yêu cầu thực tế. Bởi vì, việc sử dụng chứng từ điện tử và dữ liệu điện tử thay thế chứng từ giấy cho quan hệ thanh toán giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và khách hàng cần phải được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật. Mặc dù hiện nay hành lang pháp lí được tích cực bổ sung và hoàn thiện, tuy nhiên, còn nhiều nội dung chưa được pháp luật hiện hành hỗ trợ nên các quy chế nghiệp vụ mới đôi khi chỉ dừng lại trong phạm vi pháp luật hiện hành cho phép, không phù hợp với phương thức giao dịch điện tử, làm hạn chế khả năng tận dụng thế mạnh công nghệ mới của hệ thống ngân hàng, vì thế, cần hoàn thiện hành lang pháp lí đối với hoạt động ngân hàng.

Hai là, tác động đến chính sách tiền tệ, kiểm soát dòng tiền và an toàn hoạt động toàn hệ thống. Trong tương lai, sự phát triển của công nghệ thông tin có thể dẫn tới một hệ thống tiền tệ toàn cầu với những giao dịch điện tử diễn ra theo thời gian thực và do đó, các ngân hàng trung ương sẽ gặp khó khăn trong việc kiểm soát hệ thống tiền tệ quốc gia. Đặc biệt, ngân hàng trung ương không thể kiểm soát lượng cung tiền của nền kinh tế trong trường hợp tổ chức phát hành tiền điện tử là các định chế tài chính phi ngân hàng tại nước ngoài. Mặt khác, do xu hướng thâm nhập giữa các công ty công nghệ tài chính (Fintech) vào lĩnh vực ngân hàng kéo theo sự phát triển và khả năng xâm chiếm của hoạt động ngân hàng ngầm, đặc biệt đối với các hoạt động thanh toán phi truyền thống (cổng thanh toán điện tử, ví điện tử, thanh toán do công ty viễn thông cung cấp...). Điều này đặt ra thách thức không nhỏ cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong việc quản lí cấp phép, giám sát hoạt động cũng như kiểm soát dòng tiền thanh toán từ các tổ chức này.

Ba là, tác động đến hạ tầng thanh toán, mô hình kinh doanh và quản trị. Cơ sở hạ tầng thanh toán đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của dịch vụ ngân hàng mới, đặc biệt là các sản phẩm thanh toán ứng dụng công nghệ cao như ví điện tử, ví ảo (Virtual Wallets)... Một cơ sở hạ tầng mạnh sẽ đảm bảo các giao dịch được diễn ra nhanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các khách hàng, tiết kiệm chi phí thanh, quyết toán. Hiện nay, hệ thống thanh toán của Việt Nam vẫn còn tồn tại cấu phần chưa được tập trung, hạn chế trong công nghệ. Bên cạnh đó, sự dịch chuyển tất yếu từ số hóa đơn giản sang thông minh hóa dựa trên công nghệ hiện đại buộc các ngân hàng trong nước phải điều chỉnh để phù hợp với xu hướng quản trị thông minh, mô hình ngân hàng di động, ngân hàng số... Hiện nay, trên thực tế, 100% các ngân hàng trong nước đều áp dụng phương pháp quản trị tập trung dựa trên hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking), tuy nhiên, sự phát triển không đồng đều về công nghệ giữa các ngân hàng đã cản trở việc ứng dụng các vấn đề nghiệp vụ mang tính toàn Ngành. Nhiều ngân hàng đã đạt được trình độ công nghệ tiên tiến nhưng không ít ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ và vừa đang phải sử dụng vận hành những hệ thống thiếu đồng bộ, trình độ công nghệ ở mức thấp.

Bốn là, tác động đến các kênh phân phối, các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, vấn đề bảo mật thông tin và an ninh mạng. Những thay đổi lớn về nhu cầu của người tiêu dùng buộc các ngân hàng phải điều chỉnh phương thức thiết kế, tiếp thị, phân phối sản phẩm và dịch vụ của mình. Khách hàng thời đại CMCN 4.0 sẽ khó tính hơn, đòi hỏi nhiều lựa chọn hơn, được tiếp cận dễ dàng hơn với các phương thức phân phối; dịch vụ chất lượng, nhanh chóng, hiệu quả hơn; có quyền kiểm soát nhiều hơn trong các giao dịch và không còn bị lệ thuộc vào số lượng hạn chế các nhà cung cấp dịch vụ. Điều khách hàng cần là tiện ích của cả dịch vụ ngân hàng, khả năng thanh toán được tích hợp trên cùng một thiết bị. Điều này cho phép người dùng tiếp cận các dịch vụ ngân hàng tại bất cứ nơi nào, bất cứ thời gian nào. Tuy nhiên, sự phát triển ngày càng tinh vi của công nghệ số kéo theo sự gia tăng những lỗ hổng bảo mật, tạo điều kiện cho tội phạm công nghệ cao, tin tặc (hackers) tấn công các ngân hàng Việt Nam. Xu hướng sử dụng mạng xã hội, điện thoại thông minh kéo theo sự thay đổi trong hành vi của khách hàng khiến các ngân hàng ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào công nghệ thông tin. Sự phát triển của dịch vụ thẻ ngân hàng có thể xem là lĩnh vực phát triển năng động nhất trong các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Tuy nhiên, công nghệ càng hiện đại, càng phải đối mặt với những rủi ro khôn lường. Ngoài việc làm tê liệt mọi giao dịch của ngân hàng, loại tội phạm công nghệ cao luôn rình rập tấn công vào tài khoản, làm giả phôi thẻ và ăn cắp tiền của khách hàng, các hackers còn có thể tấn công trực diện vào hệ thống thông tin của ngân hàng.

2. Một số giải pháp chủ yếu để hệ thống ngân hàng Việt Nam thích ứng với CMCN 4.0

Thứ nhất, NHNN cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lí cho hệ thống ngân hàng. Xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lí để điều chỉnh các dịch vụ công nghệ và các nhà cung ứng dịch vụ mới, hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử, các phương tiện thanh toán mới. Khi xây dựng cơ chế và khuôn khổ pháp lí phải tính đến tác động của CMCN 4.0, đảm bảo tính rõ ràng để cho phép thành lập các tổ chức xử lí bù trừ tập trung các giao dịch thanh toán trên nguyên tắc cạnh tranh, tạo cơ sở phát triển thanh toán trên bề rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán. Đồng thời, phải xây dựng một nhận thức chung trong toàn xã hội đối với những thay đổi nhanh chóng do CMCN 4.0 mang tới. Mặt khác, cần tăng cường nâng cao nhận thức của các cơ quan hoạch định chính sách, cũng như hệ thống ngân hàng về CMCN 4.0 để giúp điều chỉnh kế hoạch kinh doanh và đầu tư nhằm tránh các khoản đầu tư sai, qua đó, giúp ngăn ngừa các khoản nợ xấu phát sinh trong tương lai.

Thứ hai, đẩy mạnh đổi mới và ứng dụng các công nghệ hiện đại. Đối với NHNN, tiếp tục hoàn thiện kết cấu cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin hiện đại, thực hiện tự động hóa các quy trình nghiệp vụ, phát triển dịch vụ hậu cần thông minh thông qua việc ứng dụng công nghệ số. Cấu trúc lại hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (IBPS) theo hướng chuyển đổi mô hình từ phân tán sang xử lí tập trung. Đối với các tổ chức tín dụng, cần phát triển những giải pháp công nghệ thông tin mới, trong đó nhấn mạnh khả năng tích hợp các công nghệ hiện đại như hệ thống cảm biến, hệ thống điều khiển, mạng truyền thông, các ứng dụng kinh doanh, chăm sóc khách hàng; ứng dụng quản trị thông minh AI trong quản trị quan hệ khách hàng và quản trị rủi ro, quản lí văn bản, kế toán quản trị, quản lí nguồn vốn, quản lí dự án và phân tích hiệu quả đầu tư, quản trị nhân sự; xây dựng trung tâm chăm sóc khách hàng điện tử; cổng thông tin điện tử tích hợp các dịch vụ điện tử trên mạng Internet. Đồng thời, các ngân hàng cần tận dụng một cách triệt để công nghệ thông tin trên nền tảng điện toán đám mây để giải quyết nhanh các nhu cầu phát sinh về tài nguyên công nghệ thông tin.

Thứ ba, tối ưu hóa mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại và tăng cường ứng dụng chuỗi cung ứng thông minh. Các ngân hàng cần nâng cấp đầu tư phát triển công nghệ hiện đại có khả năng liên kết trong hệ thống, để nâng cao năng lực trước xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt. Bên cạnh việc tối ưu hóa mô hình kinh doanh thông qua việc thiết kế các trải nghiệm trực tuyến cho chính khách hàng, các ngân hàng cần phải phát triển các phương thức thanh toán di động, trong đó có ví điện tử và các giải pháp không dùng thẻ. Như vậy, đứng trước kỉ nguyên CMCN 4.0, các ngân hàng trong nước cần nhanh chóng hoạch định chiến lược, tìm kiếm những giải pháp toàn diện cho dịch vụ ngân hàng thông qua sử dụng các dữ liệu thông minh và sự hợp tác với nhiều ngành kinh doanh. Theo đó, các ngân hàng Việt Nam cần áp dụng sản phẩm, dịch vụ qua giao diện kĩ thuật số như web, điện thoại di động, máy tính bảng... qua đó, cải thiện tỉ lệ đăng kí sử dụng sản phẩm mới; đồng thời nâng cao tỉ suất lợi nhuận cho khoản đầu tư vào các công nghệ nền tảng của ngân hàng.

Thứ tư, đẩy mạnh dịch vụ ngân hàng điện tử và quản lí an ninh mạng. Các ngân hàng cần đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng trung tâm dự phòng dữ liệu (Disaster Recovery); nâng cấp hệ thống an ninh, bảo mật ở mức cao, đảm bảo việc mở rộng phạm vi hoạt động (nếu có) được ổn định, an toàn, mang lại hiệu quả lâu dài. Đồng thời, NHNN cần tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn cho hệ thống thanh toán quốc gia; phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các cơ quan chức năng, tăng cường các quy định và biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn, bảo mật, phát hiện đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lí các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thanh toán thẻ, ATM, POS và các phương thức thanh toán sử dụng công nghệ cao. Song song đó, NHNN cũng cần giám sát thận trọng luồng tiền phát sinh trong các hoạt động thanh toán xuyên biên giới, thanh toán quốc tế; các phương tiện, dịch vụ thanh toán mới.

Thứ năm, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực ngành Ngân hàng. NHNN và các tổ chức tín dụng cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực công nghệ, nhất là cán bộ nghiệp vụ NHNN phải được đào tạo đầy đủ khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, phương thức làm việc tiên tiến, có năng lực đề xuất, tham mưu xây dựng chiến lược, định hướng, chính sách, chế độ, thực hiện quản lí nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, phù hợp với những đòi hỏi của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng.

Trong thời gian tới, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công nghệ thông tin tại các tổ chức tín dụng để đáp ứng nhu cầu quản trị vận hành và làm chủ các hệ thống công nghệ hiện đại. Kết hợp đào tạo nâng cao trình độ, khảo sát công nghệ hiện đại trong nước và quốc tế, thực hiện các chế độ đãi ngộ chuyên gia.

CMCN 4.0 đang diễn ra với tốc độ nhanh theo cấp số nhân đã làm thay đổi bối cảnh toàn cầu và có tác động ngày một gia tăng đến Việt Nam, cả tác động tích cực cũng như tạo ra nhiều thách thức. Nếu tận dụng tốt cơ hội, Việt Nam có khả năng thu hẹp khoảng cách phát triển so với các nước tiên tiến và sớm thực hiện được mục tiêu trở thành nước thu nhập trung bình cao. Trong trường hợp ngược lại, khoảng cách phát triển với các nước đi trước sẽ tiếp tục gia tăng. Thực hiện một số giải pháp chủ yếu nêu trên và với sự nỗ lực của ngành Ngân hàng, trong thời gian tới, hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ ngày càng phát triển, sánh vai với các ngân hàng trong khu vực và quốc tế.

Tài liệu tham khảo:

1. Hoàng Duy (2017), Thấy gì qua thương mại điện tử xuyên biên giới, Thời báo Kinh tế Sài Gòn.

2. Trần Hồng Quang, Nguyễn Hồng Hà (2016), CMCN 4.0 và dự báo tác động đến nền kinh tế Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Dự báo.

3. Lê Quốc Lý (2010), Chính sách kinh tế, tài chính và tiền tệ ở Việt Nam trong thời kì đổi mới (Sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị

Hành chính.

4. Lê Bảo Long (2016), Dưới ảnh hưởng của CMCN 4.0: Những ai phải lo?, Báo Tuổi trẻ cuối tuần.

5. Đường Thị Thanh Hải (2015), Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Tài chính.

6. Hải Minh (2017), CMCN 4.0: Đảo lộn tất cả, Báo Tuổi trẻ cuối tuần.

7. Phạm Thị Bích Ngọc (2017), CMCN 4.0 làn sóng làm thay đổi cả thế giới, Tạp chí Con số sự kiện.

8. Nguyễn Xuân Thạch (2015), Thẻ ngân hàng - Những rủi ro, Tạp chí Nghiên cứu Tài chính kế toán.

9. Phạm Chí Trung (2016), CMCN 4.0 và những hàm ý chính sách đối với Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Công nghệ.

Phạm Ngọc Hòa

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Đồng Tháp


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Bài viết phân tích yêu cầu về khả năng thanh toán - điều kiện cốt lõi trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp (Emergency Liquidity Assistance - ELA) của ngân hàng trung ương (NHTW), thông qua việc so sánh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xử lý các cuộc khủng hoảng ngân hàng gần đây, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện khuôn khổ hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp tại Việt Nam theo hướng linh hoạt, dựa trên đánh giá triển vọng và tăng cường phối hợp chính sách giữa các cơ quan liên quan.
Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành ngày càng được áp dụng rộng rãi, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng lộ trình áp dụng IFRS phù hợp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhằm nâng cao minh bạch tài chính, năng lực quản trị và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ vai trò của các yếu tố công nghệ, tâm lý và tài chính cá nhân trong việc hình thành hành vi chấp nhận dịch vụ của khách hàng.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Xem thêm
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng