Thu nhập và đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Đồng Tháp

Bài viết khoa học chuyên sâu
Là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng Tháp có nhiều tiềm năng, lợi thế trong phát triển nông nghiệp. Do vậy, đa phần các nguồn thu nhập của hộ gia đình địa phương được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động nông nghiệp. Tuy nhiên, thời gian gần đây, do tình trạng đất canh tác bị bạc màu và các yếu tố bất lợi từ điều kiện tự nhiên, thị trường tiêu thụ không ổn định, cũng như hạn chế về nguồn lực sản xuất; các hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đã và đang xây dựng chiến lược sinh kế theo hướng đa dạng hóa các nguồn thu nhập cả lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp.
aa

Tóm tắt: Đa dạng hóa thu nhập không những giúp hộ gia đình nâng cao mức sống mà còn là cơ sở giúp các nhà hoạch định chính sách ra quyết định trong công cuộc giảm nghèo và hướng đến phát triển bền vững. Nghiên cứu này sử dụng chỉ số đa dạng Simpson (Simpsons index of diversity - SID) để kiểm định mức độ đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình tại tỉnh Đồng Tháp, thời điểm trước sáp nhập địa giới đơn vị hành chính tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Tiền Giang. Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 399 hộ gia đình trong tháng 6/2025. Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình ở tỉnh Đồng Tháp còn thấp (49,12 triệu đồng/năm) và mức độ đa dạng hóa thu nhập cũng rất thấp với chỉ số SID là 0,26. Qua đó, nghiên cứu đưa ra các hàm ý chính sách nhằm đa dạng hóa sinh kế và nâng cao thu nhập của hộ gia đình ở tỉnh Đồng Tháp.

Từ khóa: Chỉ số SID, đa dạng hóa thu nhập, thu nhập hộ gia đình.

INCOME AND INCOME DIVERSIFICATION OF HOUSEHOLD: A CASE STUDY OF DONG THAP PROVINCE

Abstract: Income diversification not only helps households improve their living standards but also serves as a basis for policy makers to make decisions in poverty reduction and towards sustainable development. In this study, the Simpson's index of diversity (SID) is used to examine the level of income diversification of households in Dong Thap province - the period prior to the administrative boundary merger between Dong Thap and Tien Giang provinces. Data were collected through direct interviews with 399 households in June 2025. The research results show that the average income per capita of households remains low (49.12 million VND/year) and income diversification is also limited with SID of 0,26. Thereby, the study provides policy implications to diversify livelihoods and increase household income in Dong Thap province.

Keywords: Simpsons index of diversity, diversification of income, household income.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Giới thiệu

Là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng Tháp có nhiều tiềm năng, lợi thế trong phát triển nông nghiệp. Do vậy, đa phần các nguồn thu nhập của hộ gia đình địa phương được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động nông nghiệp. Tuy nhiên, thời gian gần đây, do tình trạng đất canh tác bị bạc màu và các yếu tố bất lợi từ điều kiện tự nhiên, thị trường tiêu thụ không ổn định, cũng như hạn chế về nguồn lực sản xuất; các hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đã và đang xây dựng chiến lược sinh kế theo hướng đa dạng hóa các nguồn thu nhập cả lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp.

Bên cạnh đó, tỉ trọng lao động trong nông nghiệp vẫn chiếm khá cao nhưng thu nhập của nhóm này lại thấp hơn so với những ngành, nghề khác. Điều này là do tỉ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, thiếu kỹ năng nghề khiến người lao động khó tiếp cận việc làm chất lượng cao, chủ yếu làm việc phổ thông, thu nhập bấp bênh. Lao động làm việc phi chính thức cao (không có hợp đồng, không bảo hiểm), dẫn đến thu nhập không ổn định và thấp. Hoạt động kinh tế trên địa bàn tỉnh tiếp tục chịu ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài như suy thoái kinh tế toàn cầu, bất ổn chính trị và thay đổi chính sách thương mại quốc tế, đặc biệt là chính sách thuế quan của Mỹ, làm gia tăng chi phí sản xuất và ảnh hưởng đến tiêu dùng, xuất khẩu. Theo đó, ngành nông nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, giá cả một số mặt hàng chủ lực như lúa, trái cây và sen có xu hướng giảm, ảnh hưởng đến thu nhập người dân. Sản xuất công nghiệp và xuất khẩu chịu nhiều áp lực từ thị trường, chi phí nguyên vật liệu tăng, chính sách thuế quan quốc tế bất ổn; công nghiệp chế biến tập trung vào sản phẩm truyền thống (cá tra đông lạnh, xay xát gạo), thiếu đầu tư vào chế biến sâu để nâng giá trị gia tăng... Do đó, đa dạng hóa thu nhập được xem là chiến lược gia tăng thu nhập có hiệu quả cho các hộ gia đình nhằm giảm thiểu những rủi ro, bất lợi từ điều kiện tự nhiên, sự biến động của giá cả thị trường.

Nhận thức được tầm quan trọng đó, thời gian qua, tỉnh Đồng Tháp rất quan tâm đến vấn đề nâng cao thu nhập cho người dân; tỉnh đã không ngừng đầu tư cơ sở vật chất, hệ thống hạ tầng giao thông, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho người dân. Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp phát triển ổn định và khởi sắc trên nhiều lĩnh vực. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh Đồng Tháp 6 tháng đầu năm 2025 (thời điểm trước sáp nhập địa giới đơn vị hành chính tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Tiền Giang) đạt 33.399 tỉ đồng, tăng 6,98% so với cùng kỳ năm 2024 (tăng 2.179 tỉ đồng), bằng 45,5% so với kế hoạch năm. Các khu vực kinh tế đều tăng trưởng khá tốt, trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,49%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,79%; khu vực thương mại và dịch vụ (kể cả thuế) tăng 8,47% (Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, 2025).

2. Tổng quan nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý thuyết

Đa dạng hóa thu nhập là thuật ngữ thường được sử dụng để mô tả trường hợp nông hộ phân phối nguồn lực của họ cho các hoạt động khác nhau. Theo Barrett và Reardon (2001), đa dạng hóa được hiểu phổ biến như là một hình thức tự bảo đảm thu nhập trên cơ sở lựa chọn các hoạt động ít có sự biến động ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập. Theo Ellis (2000), đa dạng hóa thu nhập là một quá trình sử dụng đa dạng nguồn lực cho các hoạt động khác nhau nhằm mục đích cải thiện điều kiện sống của hộ gia đình. Trong nghiên cứu này, đa dạng hóa thu nhập được xem là quá trình mà hộ gia đình quyết định tham gia thực hiện các hoạt động khác nhau nhằm mục đích gia tăng số lượng các nguồn thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp trong tổng thu nhập của hộ (Ellis, 1998). Những hộ gia đình có thu nhập ngoài nguồn thu nhập chính mang lại từ các hoạt động nông nghiệp được xem là hộ đa dạng hóa thu nhập. Ngược lại, hộ gia đình chỉ có thu nhập từ nông nghiệp được xem là không đa dạng hóa thu nhập.

Một số nghiên cứu điển hình về thu nhập và đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình đã được thực hiện nhằm chỉ ra thực trạng đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình. Thu nhập tính theo bình quân đầu người/năm là tổng các nguồn thu nhập của hộ/năm chia đều cho các thành viên trong gia đình (United Nations, 2007; Đinh Phi Hổ và Hoàng Thị Thu Huyên, 2010). Thu nhập có vai trò vô cùng quan trọng, quyết định mức sống của người dân. Mức sống dân cư cao hay thấp, sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch giữa hộ nghèo và hộ giàu phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, nhưng quan trọng nhất vẫn là mức thu nhập của mỗi hộ gia đình. Thu nhập được xem là nhân tố quyết định quy mô và cơ cấu chi tiêu của hộ gia đình. Hay nói cách khác, thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định (thường là một năm), bao gồm thu từ tiền công, tiền lương; thu từ hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông, lâm nghiệp và thủy sản và thu khác được tính vào thu nhập.

Một số chỉ số được sử dụng để đo lường đa dạng hóa thu nhập như NIS (số lượng các nguồn thu), chỉ số SID, chỉ số NFS (tỉ lệ thu nhập phi nông nghiệp), trong đó SID được sử dụng khá phổ biến trong nhiều nghiên cứu (Huỳnh Ngọc Chương và cộng sự, 2021; Đàm Thị Thu Trang, 2023).

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

Cỡ mẫu phỏng vấn được áp dụng theo công thức Yamane (1967): n = N / (1 + N.e2)

Trong đó: n là số mẫu cần phỏng vấn, N là tổng thể của đối tượng được phỏng vấn, e là sai số cho phép với độ tin cậy 95%.

Theo số liệu của Niên giám thống kê tỉnh Đồng Tháp năm 2024, tổng dân số của ba đơn vị hành chính được khảo sát là thành phố Cao Lãnh là 165.946 người, huyện Tháp Mười là 133.394 người, huyện Lấp Vò là 177.851 người, do đó cỡ mẫu đạt yêu cầu được xác định theo công thức Yamane vào khoảng 399 quan sát. Số liệu được thu thập trong tháng 6/2025 từ các hộ gia đình tại tỉnh Đồng Tháp thời điểm trước sáp nhập địa giới đơn vị hành chính tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Tiền Giang thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng phương pháp phi ngẫu nhiên thuận tiện với bảng câu hỏi cấu trúc.

Ngoài ra, còn thu thập thông tin thứ cấp từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm báo cáo, số liệu của các cơ quan thống kê; các nghiên cứu trong và ngoài nước để phục vụ cho nghiên cứu. Các thông tin đã thu thập được tổng hợp, tính toán và phân tích bằng phần mềm Excel và SPSS 26.0.

2.2.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Nghiên cứu sử dụng chỉ số SID được sử dụng phổ biến trong nhiều nghiên cứu trước đó để đo lường tính đa dạng hóa thu nhập hộ gia đình (Huỳnh Ngọc Chương và cộng sự, 2021; Đàm Thị Thu Trang, 2023) với công thức được xác định như sau:

Thu nhập và đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Đồng Tháp

Chỉ số SID dao động từ 0 đến 1, khi hộ gia đình chỉ tham gia một hoạt động SID = 0 và khi số hoạt động tăng tỉ trọng Pi sẽ giảm xuống và chỉ số SID sẽ tiến về 1. Mức độ đa dạng hóa thu nhập dựa vào chỉ số SID được đánh giá: Không đa dạng (từ 0 - 0,25), ít đa dạng (từ 0,26 - 0,50), đa dạng (từ 0,51 - 0,75), rất đa dạng ( > 0,75). Các nguồn thu nhập của hộ gia đình được khảo sát trong nghiên cứu bao gồm: Nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản) và phi nông nghiệp (kinh doanh, làm thuê…).

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Đặc điểm của mẫu khảo sát

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trình độ học vấn của các hộ gia đình tương đối thấp, chỉ có 30 hộ có trình độ sơ cấp, trung cấp chiếm tỉ trọng 7,5%; còn lại là 139 hộ có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên chiếm tỉ trọng 34,8%. Có đến 57,7 người có trình độ văn hóa từ lớp 12 trở xuống; trong đó có 2,3% chưa tốt nghiệp, không đi học; 29,1 có trình độ tiểu học, trung học cơ sở và 26,3% có trình độ trung học phổ thông, điều này có thể ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận thông tin và tìm kiếm các nguồn thu nhập của hộ. Độ tuổi chủ hộ tập trung trong khoảng 41 - 50 tuổi là 32,6% và trên 50 tuổi là 42,4%, ở độ tuổi này các chủ hộ vẫn còn đủ sức khỏe để tiếp tục tham gia các hoạt động sản xuất nhằm mang lại nguồn thu nhập đa dạng. Về cơ cấu nghề nghiệp, các hộ gia đình hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm 68,4% (Bảng 1).

Bảng 1: Thông tin chung về đối tượng khảo sát

Nguồn: Khảo sát trực tiếp của tác giả, 2025
Nguồn: Khảo sát trực tiếp của tác giả, 2025

Giới tính chủ hộ là một trong những yếu tố có ảnh hưởng nhất định đến quyết định loại hình sản xuất, kinh doanh trong gia đình với tỉ lệ chiếm 74,7% chủ hộ là nam giới, điều này phù hợp vì theo truyền thống nam giới thường là người đủ kinh nghiệm để quyết định các vấn đề trong gia đình hay các vấn đề liên quan đến thu nhập, định hướng hoặc có thể quyết định loại hình sản xuất, kinh doanh. Mặt khác, quy mô hộ cũng phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội, dân số và kinh tế, góp phần không nhỏ vào sự đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình. Bảng 2 cho thấy, mỗi hộ có trung bình 2 - 4 thành viên. Số hộ có 4 thành viên trở lên chiếm tỉ lệ 31,8% số hộ được khảo sát (tương đương 125/399 hộ khảo sát). Đây là điều kiện thuận lợi cho phép hộ gia đình tham gia nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh và đa dạng hóa nguồn thu nhập. Điều đó cho thấy, hộ càng có nhiều thành viên thì khả năng đa dạng hóa thu nhập của hộ càng cao.

Bảng 2: Quy mô hộ gia đình được khảo sát tại tỉnh Đồng Tháp

Nguồn: Khảo sát trực tiếp của tác giả, 2025
Nguồn: Khảo sát trực tiếp của tác giả, 2025

Theo kết quả tại Bảng 3 cho thấy, có 216 hộ có 2 lao động chiếm tỉ lệ cao nhất với 54,1%, số hộ có 3 lao động (94 hộ) chiếm 23,6% và số hộ có 4 lao động là (56 hộ) chiếm 14,0%; có 33 hộ chỉ có một hoặc không thành viên lao động chiếm 8,3%. Điều này gây trở ngại rất lớn đến việc tạo thu nhập của hộ gia đình, những hộ có hoàn cảnh neo đơn này cần có một hướng phát triển khác riêng biệt so với những hộ còn lại.

Bảng 3: Số lao động của hộ gia đình được khảo sát tại tỉnh Đồng Tháp

Nguồn: Khảo sát trực tiếp của tác giả, 2025
Nguồn: Khảo sát trực tiếp của tác giả, 2025

3.2. Cơ cấu nguồn thu nhập của hộ gia đình tại tỉnh Đồng Tháp

Bảng 4 mô tả tổng thu nhập của hộ gia đình tại tỉnh Đồng Tháp. Theo đó, có thể thấy, số hộ có thu nhập trên 150 triệu đồng/năm chiếm tỉ trọng cao nhất với 54,4% (217/399 hộ được khảo sát).

Bảng 4: Tổng thu nhập của hộ gia đình được khảo sát tại tỉnh Đồng Tháp

Thu nhập và đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Đồng Tháp
Nguồn: Khảo sát trực tiếp của tác giả, 2025

Về mức độ đa dạng hóa thu nhập, có thể thấy, nhiều hộ gia đình đã cải thiện thu nhập bằng cách đa dạng hóa sang các lĩnh vực phi nông nghiệp như kinh doanh, buôn bán nhỏ, làm nhân viên bán hàng, làm các ngành nghề thủ công truyền thống... Một số hộ gia đình tranh thủ thời gian nông nhàn hoặc do không có ruộng đất thì đi làm thuê theo mùa vụ hoặc làm công nhân tại các khu công nghiệp, nhưng thu nhập từ nguồn này cũng không cao và nguồn thu này chiếm tỉ trọng thấp nhất. Do vậy, các hộ gia đình tại tỉnh Đồng Tháp đang thực hiện tương đối đa dạng nguồn thu với nhiều hoạt động khác nhau từ nông nghiệp đến phi nông nghiệp. Trong đó, thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng cao nhất với 72,8% và tỉ trọng thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp cũng có sự gia tăng, điều đó cho thấy có chuyển dịch cơ cấu thu nhập của hộ gia đình. Tuy nhiên, tỉ trọng các nguồn thu nhập từ phi nông nghiệp không đồng đều, mức độ phân bổ nguồn lực cho các hoạt động chênh lệch, đa số các hộ có một hoạt động chính bên cạnh một hay một vài hoạt động hỗ trợ. Điều này cho thấy tuy đa dạng nhưng hoạt động sản xuất của hộ gia đình tại tỉnh Đồng Tháp rất manh mún (Bảng 5).

Bảng 5: Cơ cấu nguồn thu nhập của hộ gia đình được khảo sát tại tỉnh Đồng Tháp

Nguồn: Khảo sát trực tiếp của tác giả, 2025
Nguồn: Khảo sát trực tiếp của tác giả, 2025

3.3. Chỉ số đa dạng thu nhập của hộ gia đình tại tỉnh Đồng Tháp

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nguồn thu nhập khác từ hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và các hoạt động phi nông nghiệp như hoạt động kinh doanh, buôn bán hàng hóa hoặc dịch vụ là các nguồn thu thực tế trên địa bàn.

Bảng 6: Số lượng nguồn thu nhập của hộ gia đình tại tỉnh Đồng Tháp

Thu nhập và đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Đồng Tháp
Nguồn: Khảo sát trực tiếp của tác giả, 2025

Bảng 6 cho thấy, trong 153 hộ có duy nhất một nguồn thu nhập thì thu nhập bình quân mỗi hộ là 49,3 triệu đồng/năm và đương nhiên có chỉ số đa dạng hóa SID là 0. Gần với kết quả đó nhóm hộ có 2 nguồn thu nhập (184 hộ) có mức thu nhập trung bình là 51,3 triệu đồng/năm và chỉ số đa dạng hóa trung bình của nhóm hộ này là 0,3. Kế đến là 57 hộ gia đình có 3 nguồn thu nhập trở lên với mức thu nhập trung bình là 60,7 triệu đồng/năm, cao hơn nhóm hộ có 2 nguồn thu nhập là 9,4 triệu đồng/năm với chỉ số đa dạng hóa thu nhập là 0,5. Hộ có 4 nguồn thu nhập trở lên lại không có hiệu quả thu nhập như nhóm có 2 đến 3 nguồn thu. Ngoài ra, các hộ chủ yếu là các hộ lớn tuổi, không tham gia bất cứ hoạt động nào để tạo thu nhập, họ sống nhờ hoàn toàn vào tiền trợ cấp cho người già hoặc tiền hưu trí, tiết kiệm…

Qua nghiên cứu cho thấy, giá trị trung bình của chỉ số SID là 0,26, với giá trị nhỏ nhất là 0 và lớn nhất là 0,73 (Bảng 7). Theo Huỳnh Ngọc Chương và cộng sự (2021), giá trị trung bình của SID dành cho nhóm hộ của Việt Nam là 0,95, điều này phản ảnh là mức độ đa dạng hóa thu nhập của các hộ gia đình tại tỉnh Đồng Tháp ít đa dạng và 88,2% hộ gia đình chỉ có một hoặc hai nguồn tạo ra thu nhập (nhóm hộ không đa dạng và nhóm hộ ít đa dạng).

Bảng 7: Mức độ đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình tại tỉnh Đồng Tháp

Nguồn: Khảo sát trực tiếp của tác giả, 2025
Nguồn: Khảo sát trực tiếp của tác giả, 2025

Mặc dù mức độ đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình tại tỉnh Đồng Tháp có sự thay đổi theo hướng tích cực, tuy nhiên, do nguồn lực sản xuất của hộ gia đình còn nhiều hạn chế, do đa phần hộ gia đình ở nông thôn có trình độ học vấn thấp nên thu nhập tạo ra cũng không cao. Mặt khác, do cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch còn chậm, sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc vào thị trường, thiếu tính ổn định nên nên thu nhập của người dân từ sản xuất nông nghiệp thiếu tính bền vững.

4. Kết luận và hàm ý chính sách

4.1. Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình là 49,12 triệu đồng/năm, chỉ số SID trung bình là 0,26 ở mức độ ít đa dạng. Kết quả phân tích cũng cho thấy mức độ đa dạng hóa của các nhóm hộ là khác nhau và có một số yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ đa dạng hóa thu nhập như diện tích đất canh tác, tỉ lệ lao động trong hộ, trình độ học vấn, nghề nghiệp của chủ hộ... Những hộ gia đình thực hiện đa dạng hóa sẽ dẫn đến thu nhập của họ tăng thêm so với những hộ chưa đa dạng hoá; trong đó, thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp đóng vai trò quan trọng góp phần tăng thu nhập cho hộ gia đình tại tỉnh Đồng Tháp.

4.2. Hàm ý chính sách

Một là, tăng cường tuyên truyền vận động người dân nhất là các chủ hộ nâng cao trình độ học vấn, đồng thời giúp cho người lao động có khả năng lựa chọn nghề phù hợp với năng lực bản thân và đáp ứng nhu cầu xã hội. Thường xuyên mở các lớp cập nhật kiến thức. Mở rộng đào tạo nghề, đặc biệt là những nghề hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp. Để tạo điều kiện cho người lao động nông thôn tham gia học nghề, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ học phí, cấp học bổng cho người học, ưu tiên giới thiệu việc làm hay hỗ trợ vốn cho người lao động sản xuất, kinh doanh ngay sau khi học xong.

Hai là, có chính sách khuyến khích các tổ chức tín dụng cho vay với mục đích mở rộng sản xuất, kinh doanh. Thông tin đến người dân qua các kênh thông tin đại chúng về các gói vay hỗ trợ lãi suất thấp, nhằm tạo nguồn vốn tín dụng cho người dân để sản xuất, kinh doanh. Chú trọng tạo nguồn vốn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tăng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế để bảo đảm vốn cho phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là vốn sản xuất của hộ nông dân để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi.

Ba là, chú trọng giải quyết việc làm cho những hộ ít hoặc không đất sản xuất. Thực hiện đào tạo nghề cho lực lượng lao động tại địa phương. Đồng thời, tăng cường công tác khuyến nông, xây dựng điểm mô hình thu nhập cao, phát triển các loại đặc sản, cây có giá trị kinh tế cao phù hợp với điều kiện đất đai, thổ nhưỡng của tỉnh Đồng Tháp.

Bốn là, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên nông nghiệp. Đối với những hộ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, để tăng thu nhập thì cần tập trung tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng tăng giá trị gia tăng trên các sản phẩm chủ lực của tỉnh. Đồng thời, đổi mới và hoàn thiện các chính sách kinh tế liên quan để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế.

Năm là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghiệp, nông thôn, cụ thể như: Thực hiện các công trình đê bao khép kín, chủ động tưới tiêu trong sản xuất; phát triển đồng bộ mạng lưới truyền tải điện gắn với các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung để tạo điều kiện đưa máy móc, thiết bị cơ giới vào phục vụ sản xuất; tiếp tục nâng cấp và phát triển mạng lưới chợ, hình thành chợ nông sản để giải quyết tốt đầu ra của sản phẩm; nâng cấp, sửa chữa các tuyến đường liên xã, tiếp tục thực hiện chủ trương xã hội hóa, huy động tối đa mọi nguồn lực để thực hiện hoàn thành các tuyến đường liên ấp phục vụ tốt nhu cầu đi lại và giao thương của nhân dân.

Tài liệu tham khảo:

1. Cục Thống kê (2025), Niên giám thống kê năm 2024. Nxb. Thống kê, Hà Nội.

2 Chi cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp (2025), Niên giám thống kê năm 2024. Nxb. Thống kê, Hà Nội.

3. Đàm Thị Thu Trang (2023), Tác động của đa dạng sinh kế đến thu nhập hộ gia đình ở Việt Nam: Kết quả từ mô hình hồi quy với biến công cụ. Tạp chí kinh tế và dự báo, 3, trang 16 - 19.

4. Đinh Phi Hổ, Hoàng Thị Thu Huyên (2010), Một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của nông hộ vùng Trung du ở tỉnh Phú Thọ. Tạp chí Phát triển Kinh tế, 236, trang 26 - 30.

5. Huỳnh Ngọc Chương, Trần Thị Bảo Ngọc, Lê Hoàng Đạt, Nguyễn Thị Hải Yến (2021), Các yếu tố ảnh hưởng đến sự đa dạng hóa sinh kế của nông hộ ở Việt Nam, Tạp chí phát triển Khoa học và Công nghệ - Kinh tế - Luật và Quản lý, 6(1), trang 2073-2082.

6. Hứa Thị Phương Chi, Nguyễn Minh Đức (2016), Những nhân tố ảnh hưởng đến đa dạng hóa thu nhập của nông hộ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí Khoa học Đại học Văn Hiến, 4(3), trang 46 - 55.

7. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp (2025), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2025, số 330/BC-UBND, ngày 17/5/2025.

8. Barrett, C.B. & Reardon, T. (2001). Nonfarm income diversification and livelihood strategies in rural Africa: concepts, dynamics, and policy implication. Food Policy, 26(4), pages 315-331.

9. Ellis, F. (1998), Household strategies and rural livelihood diversification, The Journal of Development Studies, 35(1), pages 1-38.

10. Ellis, F. (2000), The determinants of rural livelihood diversification in developing countries, The Journal of Agricultural Economics, 51(2), pages 289 - 302.

11. Khai T. T., and Danh N. N. (2014), Determinants of income diversification and its effect on household income in rural Viet Nam, Journal of economic development, 221(7), pages 20 - 41.

12. United Nations (2007), The Wye Group Handbook: On Rural Household’s Livelihood and Well-Being: Statistics on Rural Development and Agriculture Household Income. New York and Geneva, United Nation.

Phạm Ngọc Hòa
Học viên cao học, Trường Đại học Đồng Tháp

Tin bài khác

Ảnh hưởng yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận phương pháp DEA-Bootstrap

Ảnh hưởng yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận phương pháp DEA-Bootstrap

Bài viết phân tích tác động của các yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giai đoạn 2014 - 2024, qua đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm nhằm gợi mở các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động và quản trị rủi ro của hệ thống ngân hàng.
Hiệu quả kinh tế vĩ mô và hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Hiệu quả kinh tế vĩ mô và hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết sử dụng bộ dữ liệu từ Khảo sát Môi trường Kinh doanh và Hiệu quả Doanh nghiệp (BEEPS) của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu (EBRD) và Khảo sát Doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới giai đoạn 2018 - 2025 để phân tích vai trò của điều kiện kinh tế vĩ mô đối với quyết định quản lý năng lượng và theo dõi phát thải CO₂ của doanh nghiệp, qua đó làm rõ những động lực và rào cản cấu trúc trong tiến trình chuyển đổi xanh. Thông qua bộ dữ liệu đa quốc gia gồm 59.846 doanh nghiệp tại 68 quốc gia trong giai đoạn 2018 - 2025, nhóm tác giả sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu thông thường (OLS) với các đặc tả trọng số khác nhau và phân tích theo châu lục. Từ đó, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò khác biệt của cấu trúc sở hữu đối với quyết định giảm phát thải của doanh nghiệp, đồng thời làm rõ sự chi phối của điều kiện tài chính và bối cảnh thể chế trong việc thúc đẩy hành động khí hậu ở cấp độ doanh nghiệp.
Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý: Các ngân hàng cần định hình và vận dụng khẩu vị rủi ro như một chiếc la bàn xuyên suốt quá trình quản trị; đồng thời, cần chủ động trích lập dự phòng dựa trên các dự báo và kịch bản kinh tế vĩ mô, tăng cường giám sát sớm để phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu một cách dứt khoát nhằm tránh hiệu ứng tích tụ rủi ro.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Xác định phong cách đầu tư: Góc nhìn tài chính hành vi

Xác định phong cách đầu tư: Góc nhìn tài chính hành vi

Bài viết làm rõ phân loại nhà đầu tư, phong cách đầu tư tương ứng, đồng thời, phân tích ý nghĩa của việc xác định phong cách từ góc độ tài chính hành vi và trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm đánh giá về việc áp dụng các phong cách đầu tư làm gia tăng hiệu quả của danh mục, cũng như hiệu quả quản lý thị trường chứng khoán.
Ngân hàng xanh: Phân tích trắc lượng thư mục và xu hướng nghiên cứu tiềm năng

Ngân hàng xanh: Phân tích trắc lượng thư mục và xu hướng nghiên cứu tiềm năng

Ngân hàng xanh đã trở thành một xu hướng quan trọng trong ngành Ngân hàng hiện đại, phản ánh cam kết của các tổ chức tài chính đối với phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng và áp lực từ các bên liên quan, ngân hàng xanh không chỉ là một trách nhiệm xã hội mà còn là cơ hội kinh doanh chiến lược...
Cơ chế tác động của công nghệ tài chính đến phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Một số phân tích chính yếu

Cơ chế tác động của công nghệ tài chính đến phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Một số phân tích chính yếu

Bài viết đánh giá về sự phát triển của Fintech tại Việt Nam trong giai đoạn vừa qua, đồng thời dự báo Fintech đã, đang và sẽ trở thành một yếu tố quan trọng trong việc định hình nền kinh tế số của Việt Nam. Việc triển khai Fintech đã dẫn đến giảm đáng kể chi phí giao dịch, tăng tốc độ giao dịch tài chính và cải thiện hiệu quả hoạt động tổng thể, từ đó củng cố nền kinh tế số.
Tác động của chuyển đổi số đến kinh doanh bền vững tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến kinh doanh bền vững tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở việc cải tiến công nghệ mà còn là đòn bẩy chiến lược giúp thúc đẩy phát triển bền vững doanh nghiệp. Vấn đề này được xem như một mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hàng đầu. Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá vai trò trung gian của quản trị doanh nghiệp, hiệu suất cảm nhận và hiệu quả tài chính trong mối quan hệ giữa chuyển đổi số đối với kinh doanh bền vững tại các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam...
Xem thêm
Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Bài viết phân tích các quy định mới của Nghị định số 06/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), qua đó làm rõ vai trò của việc hoàn thiện khung pháp lý trong nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách, thúc đẩy tài chính toàn diện và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Bài viết phân tích thực trạng khung pháp lý thúc đẩy Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG) trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị hoàn thiện chính sách nhằm tăng cường quản trị rủi ro bền vững và định hướng dòng vốn theo mục tiêu phát triển xanh.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Thông tư số 60/2025/TT-NHNN và thủ tục chấp thuận góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng: Từ kỷ luật an toàn đến chi phí tuân thủ

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN và thủ tục chấp thuận góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng: Từ kỷ luật an toàn đến chi phí tuân thủ

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN ngày 30/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng (TCTD) là một bước tiến quan trọng trong việc cụ thể hóa các thủ tục hành chính, đảm bảo mọi hoạt động góp vốn, mua cổ phần đều phải phục vụ mục tiêu hàng đầu là bảo vệ an toàn vốn và tuân thủ giới hạn đầu tư theo Luật Các TCTD.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành