Tác động của AI đến hoạt động của các ngân hàng trung ương

Công nghệ & ngân hàng số
Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) có tác động lớn đến các ngân hàng trung ương (NHTW) trong những năm gần đây. Theo đó, các NHTW có thể tận dụng AI để đạt được các mục tiêu chính sách, tăng cường thu thập thông tin, phân tích kinh tế và giám sát sự ổn định tài chính.
aa

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) có tác động lớn đến các ngân hàng trung ương (NHTW) trong những năm gần đây. Theo đó, các NHTW có thể tận dụng AI để đạt được các mục tiêu chính sách, tăng cường thu thập thông tin, phân tích kinh tế và giám sát sự ổn định tài chính. Việc sử dụng AI tại các NHTW mang lại nhiều lợi ích đáng kể, nhưng cũng đòi hỏi phải giải quyết các vấn đề về tính bảo mật dữ liệu để khai thác tối đa tiềm năng của AI. Bài viết này tập trung phân tích tác động của AI đến các NHTW và việc áp dụng AI nhằm thực hiện hiệu quả các mục tiêu chính sách của NHTW.

Từ khóa: AI, ngân hàng trung ương, chính sách.

THE IMPACT OF AI ON CENTRAL BANKS ’OPERATION


Abstract: The rapid development of artificial intelligence (AI) has had a significant impact on central banks in recent years. Accordingly, central banks can leverage AI to achieve policy objectives, enhance information collection, economic analysis and financial stability monitoring. Although the AI application in central banks has substantial benefits, it requires addressing data and security to fully make use of AI's potential in policy implementation. This article focuses on analyzing the impact of AI on central banks and the AI application in achieving central banks' policy objectives for optimal effectiveness.

Keywords: AI, central banks, policy.

1. Giới thiệu

Sự hình thành các mô hình ngôn ngữ lớn (LLMs) đã đưa AI tạo sinh (GenAI) vào nhiều cuộc tranh luận. Trong đó, LLMs đang tạo ra sự di chuyển trong cách thức tác động giữa con người và máy tính khỏi các giao diện lõi và lập trình sang ngôn ngữ thông thường. Khả năng này chuyển đổi thông qua các ngôn ngữ thường nhật, cũng như khả năng giống con người của AI tạo sinh trong việc tạo ra nội dung vốn đang thâu tóm trí tưởng tượng của con người.

Dưới nền tảng này, thuật toán cơ bản của các mô hình AI mới nhất dựa trên các nguyên tắc cơ bản tương tự với các thế hệ máy tính trước đây. Khi các từ ngữ hay thuật ngữ được chuyển đổi sang các dãy số, buộc nó phải tuân thủ các thuật toán với khả năng tính toán vượt trội.



Sự phát triển mạnh mẽ của AI có nhiều tác động lên hoạt động của các NHTW (Nguồn: Internet)


Cái mới ở đây là khả năng đưa trật tự thuật toán quy mô lớn sang dữ liệu không cấu trúc hàng ngày, bất kể dữ liệu là các bài khóa, hình ảnh, nhạc hay video. Xu hướng AI gần đây được thúc đẩy bởi hai yếu tố. Thứ nhất, truyền thông cả kho dữ liệu rộng lớn, theo đó, LLMs hiện đại có khả năng phác họa trên Internet toàn bộ tập dữ liệu. Thứ hai, với sức mạnh khổng lồ của máy tính và phần cứng thế hệ mới, nó cũng chuyển dịch các mô hình AI sang các máy dự báo với khả năng tinh chế rất cao, có khả năng rõ rệt trong việc phát hiện các mẫu và bù đắp hỗ hổng dữ liệu.

Tranh luận hiện tại tập trung vào việc liệu sự thừa nhận các mẫu cải tiến có đủ để đạt đến "AI tổng hợp" (AGI) hay không? Cho dù có thể đạt được AGI, khả năng áp đặt các dữ liệu cấu trúc sang dữ liệu phi cấu trúc cũng đã tạo ra khả năng mới trong nhiều nhiệm vụ được cho là vượt quá khả năng của các công cụ AI thế hệ trước. Các mô hình AI thế hệ mới có thể thay đổi nhiều hoạt động và có tác động sâu rộng đến hệ thống tài chính cũng như toàn bộ nền kinh tế. Những khả năng tương tự cũng có thể được NHTW khai thác vì các mục tiêu chính sách hay chuyển đổi các lĩnh vực hoạt động chủ chốt.

Tiềm năng kinh tế của AI đang bùng nổ trong nền kinh tế là vô cùng to lớn. Sự chấp nhận LLMs và các công cụ GenAI được xử lí với tốc độ chớp nhoáng, dễ dàng vượt qua những làn sóng chấp nhận công nghệ trước đây. Ví dụ, chỉ riêng ChatGPT đã thu hút được 1 triệu người dùng trong thời gian chưa đầy một tuần lễ, gần 50% số hộ gia đình tại Mỹ đã sử dụng các công cụ GenAI trong 12 tháng qua. Việc theo dõi tốc độ chấp nhận nhanh chóng của người dùng, doanh nghiệp đang kết nối AI trong hoạt động hằng ngày, các doanh nghiệp tại tất cả các ngành cũng đã sử dụng các công cụ GenAI làm phương tiện chính. Để tiến hành công việc này, họ phải đầu tư rất nhiều vào công nghệ AI để phù hợp với nhu cầu đặc thù và sử dụng lao động có kĩ năng liên quan đến AI.

2. Tác động của AI đối với các NHTW

Đối với các NHTW, tác động của AI thể hiện qua hai kênh cơ bản: Thứ nhất, AI sẽ tác động đến các hoạt động lõi của NHTW với vai trò quản lí nền kinh tế. AI sẽ tác động đến các hệ thống tài chính cũng như năng suất, tiêu dùng, đầu tư và thị trường lao động, đây là những yếu tố có tác động trực tiếp đến giá cả và ổn định tài chính. Việc chấp nhận rộng rãi AI cũng có thể nâng cao năng lực của doanh nghiệp với những thay đổi nhanh chóng của giá cả nhằm đối phó với những thay đổi về kinh tế vĩ mô. Thứ hai, việc sử dụng AI sẽ gắn kết trực tiếp với hoạt động của NHTW thông qua tác động đến hệ thống tài chính. Trước hết, khi các định chế tài chính sử dụng các công cụ AI sẽ làm thay đổi cách thức tương tác với NHTW và những công cụ này sẽ chịu sự giám sát của NHTW. Ngoài ra, NHTW và những cơ quan khác đang tăng cường sử dụng AI để thực hiện nhiệm vụ về chính sách tiền tệ, giám sát và ổn định tài chính.

Về tổng thể, sự chấp nhận AI một cách nhanh chóng và rộng khắp đặt ra sự cần thiết của việc các NHTW phải ứng dụng AI vào điều hành chính sách tiền tệ. Trong quá trình này, khi đối mặt với nhiều thách thức mới, đòi hỏi các NHTW phải nâng cao năng lực theo dõi, quan sát tác động của AI nói riêng và công nghệ nói chung đến hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ. Với vai trò quan sát, các NHTW cần dự báo trước những tác động của AI đối với nền kinh tế thông qua tác động của nó đến tổng cung và tổng cầu, đồng thời cần xây dựng kiến thức trong việc kết hợp chặt chẽ AI với các dữ liệu phi truyền thống trong các công cụ phân tích chính sách tiền tệ. Các NHTW sẽ đối mặt với sự đánh đổi lớn giữa việc cung cấp thông tin dữ liệu nội bộ với các nhà cung cấp bên ngoài. Sự nổi lên của AI cũng đòi hỏi phải xem xét lại vai trò truyền thống của NHTW trong việc tạo lập, sử dụng và cung cấp dữ liệu. Để khai thác tối đa các lợi ích của AI, việc phối hợp và chia sẻ kinh nghiệm với các NHTW đi trước cũng là mấu chốt để các NHTW giảm bớt những yêu cầu lớn về hạ tầng công nghệ thông tin và tăng cường chất lượng nguồn nhân lực trong việc ứng dụng AI vào các nghiệp vụ của mình.

3. Tác động của AI đến hệ thống tài chính

Hệ thống tài chính với những yêu cầu cao về nhận thức và dữ liệu phải đối mặt với cả cơ hội và rủi ro từ AI. Tác động của AI thể hiện trong bốn lĩnh vực chủ chốt, bao gồm: Thanh toán, cho vay, bảo hiểm và quản lí tài sản. Trong những lĩnh vực này, AI có thể nâng cao hiệu quả đáng kể và giảm chi phí trong quy trình xử lí dữ liệu, tuân thủ các quy định quản lí, phát hiện gian lận và nâng cao dịch vụ khách hàng. Những hoạt động này phát huy đầy đủ năng lực của các mô hình AI để xác định các mô hình lợi ích cụ thể trong các dữ liệu phi cấu trúc. Ví dụ nổi bật là AI đã cải tiến quy trình KYC thông qua việc xử lí nhanh chóng các dữ liệu và tăng cường khả năng phát hiện gian lận, cho phép các định chế tài chính tuân thủ nghiêm túc các quy định trong khi vẫn giảm chi phí. Tương tự, LLMs cũng ngày càng được khai thác cho các hoạt động cung cấp dịch vụ khách hàng thông qua Chatbots (chương trình kết hợp với AI để tương tác với con người) và giúp hiểu rõ hơn về thông tin được cung cấp bởi khách hàng và ngân hàng.

Đối với lĩnh vực thanh toán, tình trạng dư thừa các dữ liệu giao dịch giúp các mô hình AI khắc phục các sự cố kéo dài triền miên trong hệ thống thanh toán hiện hành. Đây là lĩnh vực liên quan trực tiếp đến các ngân hàng đại lí. Sự xuất hiện của các mô hình AI sẽ giúp các định chế tài chính xử lí phần lớn những thách thức hiện nay như phát hiện gian lận và xác định những tổn thương về an ninh, bảo mật. Kết quả khảo sát toàn cầu cho thấy, khoảng 70% số công ty tài chính đang sử dụng AI để cải tiến các dự báo về dòng tiền và quản lí thanh khoản, chấm điểm tín dụng và nâng cao khả năng phát hiện gian lận.

Đối với hoạt động cho vay và chấm điểm tín dụng, các ngân hàng đã sử dụng học máy từ nhiều năm nay và AI có thể tiếp tục nâng cao năng lực liên quan. AI sẽ cải tiến quy trình chấm điểm tín dụng bằng cách tạo ra khả năng sử dụng các dữ liệu phi cấu trúc. Các công cụ dựa trên AI sẽ giúp các ngân hàng đánh giá mức độ tin cậy của khách hàng cá nhân và doanh nghiệp dựa trên những dữ liệu khác nhau, làm cơ sở để đưa ra quyết định cho vay. Các công cụ AI cũng có thể được sử dụng trong phân tích các hành vi khác của khách hàng như nắm bắt thói quen mua hàng trực tuyến hay giúp tăng cường phổ cập tài chính đến khách hàng.

Các mô hình AI cũng được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực bảo hiểm, đặc biệt là về đánh giá rủi ro từ nhiều sự cố khác nhau, cả chủ quan và khách quan. Về quản lí rủi ro, các mô hình AI được sử dụng để dự báo doanh thu, đánh giá rủi ro cân bằng thu nhập và tối ưu hóa việc phân bổ danh mục đầu tư.

Tuy nhiên, xu thế mở rộng các ứng dụng AI trong lĩnh vực tài chính cũng dẫn đến những thách thức mới trong lĩnh vực an ninh mạng hay việc duy trì tính bền vững và ổn định tài chính. Các nhóm tội phạm có xu hướng lợi dụng tiến bộ công nghệ và AI để tiến hành các hoạt động tấn công mạng, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản. Các GenAI giúp tin tặc bắt chước giọng nói và cách hành văn, thậm chí nhập vai giả, có thể tiến hành những đợt tấn công mạng nguy hiểm. Ngoài ra, tin tặc cũng thực hiện các cuộc tấn công “prompt injection” (tận dụng những lỗ hổng của mô hình LLMs để đưa ra những hướng dẫn bổ sung cho AI hoặc biến đổi mô hình thói quen mà không có sự đồng ý của người dùng). Ví dụ, tin tặc có thể điều chỉnh các dữ liệu đầu vào đến mức mô hình AI không thể phát hiện ra các cuộc tấn công rất nguy hiểm vào các hòm thư điện tử (emails).

Sự phụ thuộc vào một số ít nhà cung cấp AI làm tăng rủi ro bên thứ ba và rủi ro tập trung thị trường. Việc tập trung dữ liệu và chi phí triển khai ban đầu cao dẫn đến sự thu hút dữ liệu với một vài doanh nghiệp có lợi thế trong việc cung cấp các công cụ AI sẵn có. Điều này tạo ra rủi ro nếu xảy ra sai sót hoặc tấn công mạng. Mọi sai sót hay tấn công mạng liên quan đến các doanh nghiệp (hay mô hình) cung cấp AI đều gây ra rủi ro cho những định chế tài chính lệ thuộc vào doanh nghiệp này.

Sự lệ thuộc của các định chế tài chính vào một vài thuật toán cũng dẫn đến bất ổn tài chính. Rủi ro này nổi lên từ sự chấp nhận AI một cách rộng khắp thông qua hệ thống tài chính và sự gia tăng khả năng đưa ra các quyết định độc lập và không cần sự can thiệp của con người với tốc độ vượt xa khả năng của con người. Thói quen của các định chế tài chính trong việc sử dụng những thuật toán giống nhau cũng có thể gây tác động tiêu cực đến thị trường bằng cách làm giảm dự trữ thanh khoản và gây xáo trộn đến việc thanh lí tài sản.

4. Áp dụng AI vào việc thực hiện các mục tiêu chính sách của NHTW

Các NHTW không chỉ quan sát, phân tích tác động của AI đối với hệ thống tài chính và nền kinh tế mà còn có thể sử dụng các công cụ AI để thực hiện các mục tiêu chính sách tiền tệ. Cụ thể là, việc sử dụng LLMs và AI có thể hỗ trợ các nhiệm vụ chủ chốt của NHTW trong việc thu thập thông tin, thống kê, phân tích tài chính và kinh tế vĩ mô, làm cơ sở để hỗ trợ thực thi chính sách tiền tệ, giám sát hệ thống thanh toán và duy trì ổn định tài chính.

Đối với các NHTW, việc sử dụng GenAI để tăng cường an ninh mạng cũng mang lại lợi ích rất lớn, nhất là trong các lĩnh vực như tự động hóa công việc hằng ngày, với tốc độ xử lí nhanh hơn nhiều so với lao động thủ công truyền thống. Ngoài ra, AI cũng mang lại nhiều lợi ích về an ninh mạng, bao gồm khả năng phát hiện rủi ro, nhanh chóng phản ứng và xử lí các cuộc tấn công mạng, nắm bắt được chiều hướng phát triển mới.

Đối với các NHTW, thách thức trong việc sử dụng các công cụ AI bắt nguồn từ hai vấn đề. Thứ nhất, sự sẵn sàng của các dữ liệu hợp thời - điều kiện cần thiết cho mọi ứng dụng học máy. Thứ hai, khả năng của LLMs trong việc chuyển hóa các dữ liệu phi cấu trúc có nguồn gốc khác nhau thành dữ liệu cấu trúc trong thời gian thực. Ngoài ra, bằng cách chuyển đổi các dữ liệu chuỗi thời gian vào tin nhắn mã hóa liên tục, có thể áp dụng LLMs cho hàng loạt mô hình dự báo dãy thời gian. Năng lực này có nhiều hứa hẹn đối với dự báo tức thời - kĩ thuật sử dụng các dữ liệu thời gian thực để dự báo, xác định đối tượng khách hàng một cách kịp thời. Phương pháp này có thể cải thiện đáng kể mức độ chính xác và kịp thời của các dự báo kinh tế, nhất là vào thời điểm bất ổn thị trường tăng cao. Tuy nhiên, phương pháp này đang đối mặt với hai thách thức lớn, đó là tính khả dụng hạn chế của các dữ liệu hợp thời và sự cần thiết phải cụ thể hóa các mô hình cho những nhiệm vụ cụ thể. LLMs và GenAI được đánh giá là sẽ có nhiều hứa hẹn trong việc xử lí cả hai thách thức trên. Ví dụ, một LLM điều chỉnh vi cấp (tinh chỉnh) các bản tin tài chính có thể chiết xuất thông tin từ các trạm truyền thông xã hội hay các báo cáo thu được và tạo lập chỉ số cảm nhận xã hội. Sau đó, chỉ số này có thể được sử dụng để dự báo tức thời các điều kiện tài chính, theo dõi sự hình thành rủi ro hay dự báo khả năng suy thoái kinh tế.

Bên cạnh các ứng dụng tài chính, dự báo tức thì dựa trên AI cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các diễn biến trong nền kinh tế thực. Ví dụ, dựa trên các dữ liệu về giao dịch giữa các hộ gia đình và doanh nghiệp và các mô hình học máy có thể cải tiến dự báo tức thì về tiêu dùng và đầu tư.

Khả năng tiếp cận các dữ liệu chi tiết của AI cũng có thể giúp nâng cao khả năng của NHTW trong việc theo dõi diễn biến giữa các ngành, nghề và khu vực kinh tế khác nhau. Ví dụ, với sự hỗ trợ của AI, từ việc phân tích các dữ liệu về việc làm hay bán lẻ trực tuyến, NHTW có thể theo dõi diễn biến lương và động lực lao động giữa các công việc, ngành, nghề hay khu vực kinh tế khác nhau.

Ngoài ra, các NHTW cũng có thể sử dụng AI để xác định tốt hơn những yếu tố gây lạm phát. So với các mô hình kinh tế lượng truyền thống, các mạng trung tính có thể vận dụng nhiều đầu vào khác nhau để xử lí các bộ dữ liệu chi tiết hơn là chỉ lệ thuộc đơn thuần vào dữ liệu tổng thể. Các mạng trung tính có thể tiếp tục phản ánh các mối quan hệ phi tuyến tính phức tạp, đưa ra những thông tin có giá trị nổi bật trong giai đoạn lạm phát thay đổi nhanh chóng. Nếu AI gây tác động khác nhau đến các ngành, những lợi thế này có ý nghĩa đặc biệt cho việc đánh giá các động lực lạm phát.

Liên quan đến dự báo lạm phát, xu hướng gần đây đang được tiến hành là tách tổng lạm phát thành những cấu phần khác nhau. Theo phương pháp này, học thuyết kinh tế được sử dụng để cụ thể hóa bốn yếu tố gây ra tổng lạm phát: Mô hình lạm phát trong quá khứ, kì vọng lạm phát, chênh lệch sản lượng và giá cả quốc tế. Sau đó, một mạng trung tính sẽ sử dụng các dãy dữ liệu tổng thể (về thất nghiệp hay lạm phát dịch vụ) và các dãy dữ liệu chia tách để ước lượng mức độ đóng góp của bốn cấu phần trên đây trong lạm phát tổng thể.

Việc sử dụng AI sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các phân tích về ổn định tài chính như xác định rủi ro trong mẫu quan sát quy mô lớn, góp phần phát hiện rủi ro giữa các khu vực tài chính và phi tài chính. Bên cạnh đó, các mô hình AI có thể được sử dụng để giám sát và điều chỉnh kinh tế vĩ mô. Cụ thể là, các công cụ GenAI kết hợp với các bộ dữ liệu phong phú có thể giúp xây dựng các chỉ số cảnh báo sớm có thể gây áp lực liên quan đến rủi ro toàn hệ thống.

5. Kết luận

Công cụ AI đang tạo cơ hội cho các NHTW trong việc xác định những diễn biến của nền kinh tế. Nhờ các bộ dữ liệu cấu trúc và phi cấu trúc phong phú và dữ liệu bổ sung, NHTW có thể nhanh chóng thu thập và phân tích dữ liệu. Theo phương pháp này, AI giúp phân tích các hoạt động kinh tế một cách cụ thể theo thời gian thực. So với sức mạnh quản lí của máy tính, các mô hình học máy có tính năng vượt trội về khả năng áp dụng các dữ liệu cấu trúc sang dữ liệu phi cấu trúc, nhờ sự gia tăng các ứng dụng AI với tốc độ chưa từng có và được chấp nhận trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Sự phát triển của AI cũng gây ra những hệ lụy đối với hệ thống tài chính cũng như đối với nền kinh tế thông qua những thay đổi về tổng cung và tổng cầu. Sự gia tăng ứng dụng AI đang có tác động lớn đến hệ thống tài chính và nền kinh tế, đòi hỏi NHTW phải có các biện pháp phù hợp nhằm khai thác và sử dụng AI một cách hiệu quả nhất.

Tài liệu tham khảo:
Báo cáo thường niên của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) năm 2024.

ThS. Vũ Xuân Thanh
NHNN
https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và những tác động đối với lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và những tác động đối với lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân (Luật số 91/2025/QH15) đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ quyền riêng tư và quản trị dữ liệu tại Việt Nam. Với đặc thù xử lý khối lượng lớn dữ liệu khách hàng, lĩnh vực ngân hàng chịu tác động trực tiếp và sâu sắc từ các quy định mới. Bài viết phân tích những nội dung cốt lõi của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, đặc biệt về nguyên tắc xử lý dữ liệu, quyền của chủ thể dữ liệu và nghĩa vụ của tổ chức xử lý dữ liệu; đồng thời đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm giúp ngành Ngân hàng thích ứng hiệu quả với khung pháp lý mới, hướng tới phát triển an toàn và bền vững.
Khai thác dữ liệu đảm bảo tính riêng tư trong lĩnh vực ngân hàng: Phương pháp tiếp cận đáp ứng yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân

Khai thác dữ liệu đảm bảo tính riêng tư trong lĩnh vực ngân hàng: Phương pháp tiếp cận đáp ứng yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân

Trong kỷ nguyên của dữ liệu hiện nay, khai thác dữ liệu đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện ra tri thức và thông tin có giá trị tiềm ẩn trong các tập dữ liệu lớn hỗ trợ nhà quản trị đưa ra các quyết định đúng đắn. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác dữ liệu của một số ngành đặc thù như ngân hàng, những thông tin bí mật và nhạy cảm của khách hàng (như thông tin cá nhân, thu nhập, quan hệ tín dụng, dư nợ…) nếu không được bảo vệ an toàn sẽ trở thành lỗ hổng để tội phạm mạng lợi dụng thực hiện các hành vi độc hại. Bài viết này giới thiệu các nhóm giải pháp kỹ thuật điển hình về khai thác dữ liệu có đảm bảo tính riêng tư (PPDD) và phân tích khả năng áp dụng cho những bài toán khai thác dữ liệu ngân hàng trong bối cảnh yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân nghiêm ngặt hiện nay.
Xu hướng nghiên cứu toàn cầu về sự giao thoa giữa AI, tài chính xanh và lòng trung thành của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng

Xu hướng nghiên cứu toàn cầu về sự giao thoa giữa AI, tài chính xanh và lòng trung thành của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng

Bài viết phân tích xu hướng nghiên cứu toàn cầu tại giao điểm giữa tài chính xanh, trí tuệ nhân tạo (AI) và lòng trung thành của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng, qua đó làm rõ vai trò của AI như một động lực thúc đẩy phát triển bền vững và tăng cường gắn kết khách hàng, đồng thời đề xuất các hàm ý quản trị và chính sách liên quan.
Khung pháp lý về quản trị dữ liệu cá nhân trong ngân hàng: Giải pháp quản lý hiệu quả và đảm bảo quyền lợi khách hàng

Khung pháp lý về quản trị dữ liệu cá nhân trong ngân hàng: Giải pháp quản lý hiệu quả và đảm bảo quyền lợi khách hàng

Bài viết phân tích khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân và thực tiễn quản trị dữ liệu trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, trên cơ sở tham chiếu đến Quy định chung về bảo vệ dữ liệu cá nhân của Liên minh châu Âu từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực quản lý và tăng cường bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng đối với quá trình xử lý dữ liệu cá nhân nói chung trong lĩnh vực ngân hàng.
Quản lý và giám sát tài sản mã hóa: Kinh nghiệm Thái Lan và bài học đối với Việt Nam

Quản lý và giám sát tài sản mã hóa: Kinh nghiệm Thái Lan và bài học đối với Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quản lý tài sản mã hóa của Thái Lan, qua đó gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả giám sát thị trường tài sản số tại Việt Nam.
Tích hợp thanh toán không dùng tiền mặt và quản lý thuế thương mại điện tử tại Việt Nam: Khung phân tích và hàm ý chính sách

Tích hợp thanh toán không dùng tiền mặt và quản lý thuế thương mại điện tử tại Việt Nam: Khung phân tích và hàm ý chính sách

Bài viết xây dựng khung phân tích tích hợp để khảo sát mối quan hệ giữa thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) và quản lý thuế thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, từ đó đề xuất các trụ cột chính sách về dữ liệu số và cải cách thể chế nhằm hiện đại hóa hệ thống thuế trong kỷ nguyên kinh tế nền tảng.
Ứng dụng học tập liên kết trong chấm điểm tín dụng và an ninh tài chính tại Việt Nam

Ứng dụng học tập liên kết trong chấm điểm tín dụng và an ninh tài chính tại Việt Nam

Bài viết phân tích giải pháp Học tập liên kết như một hạ tầng công nghệ thiết yếu giúp ngành Ngân hàng tối ưu hóa việc chấm điểm tín dụng và phát hiện gian lận, đồng thời đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát tại Việt Nam.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Xem thêm
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành