Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành

Nghiên cứu - Trao đổi
Với những đặc thù về quy mô, đối tượng khách hàng và tính liên kết hệ thống, các QTDND phải đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng và nguy cơ đổ vỡ hệ thống.
aa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, đánh giá quy định của pháp luật về trích nộp, thu phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) (Quỹ bảo toàn) và thực tiễn thi hành quy định về trích nộp phí Quỹ bảo toàn từ thời điểm thành lập năm 2014 đến nay. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả trong việc trích nộp và thu phí Quỹ bảo toàn.

Từ khóa: Quỹ bảo toàn, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Ngân hàng HTX), QTDND, trích nộp phí.

THE LEGAL REGULATIONS ON FEES FOR THE SAFETY FUND
AND THE PRACTICE OF IMPLEMENTATION

Abstract: This article analyzes and evaluates the legal regulations on deduction and collection of fees for the Safety Fund and the practice of implementing regulations on deduction and payment of fees for the Safety Fund from the time of its establishment in 2014 to present. On that basis, the author proposes some of solutions and recommendations for improving the law as well as enhancing efficiency in the payment and collection of Safety Fund fees.

Keywords: Safety fund; Cooperative Bank, People’s Credit Fund; fee deduction.

1. Đặt vấn đề

Với những đặc thù về quy mô, đối tượng khách hàng và tính liên kết hệ thống, các QTDND phải đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng và nguy cơ đổ vỡ hệ thống. Chính vì thế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) rất quan tâm đến các biện pháp bảo đảm an toàn hệ thống QTDND. Từ thực tiễn thí điểm Quỹ bảo toàn tại 03 tỉnh (Hưng Yên, Thái Bình, An Giang) và kinh nghiệm của hệ thống Ngân hàng Hợp tác xã của Cộng hòa liên bang Đức; hệ thống Quỹ Tín dụng Desjardins của Canada, ngày 23/01/2014, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 03/2014/TT-NHNN quy định về Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND. Qua hơn 09 năm hoạt động chính thức (từ năm 2014 đến năm 2023), Quỹ bảo toàn đã phát huy tính hiệu quả, khẳng định tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tính liên kết và tương trợ trong hệ thống QTDND. Quỹ bảo toàn đã tạo ra một thiết chế quan trọng bảo đảm an toàn cho hoạt động của hệ thống QTDND thông qua hoạt động cho vay hỗ trợ đối với các QTDND gặp khó khăn tài chính, khó khăn chi trả để có thể khắc phục trở lại hoạt động bình thường. Bên cạnh đó, Quỹ bảo toàn còn là công cụ cảnh báo sớm cho Ngân hàng HTX và NHNN về những yếu kém trong hoạt động của hệ thống QTDND.

Nguồn vốn Quỹ bảo toàn được hình thành trên cơ sở phí trích nộp của Ngân hàng HTX và các QTDND thành viên, cùng với đó là lợi nhuận được để lại từ nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước tại Ngân hàng HTX và chênh lệch thu từ lãi và chi phí trong hoạt động của Quỹ bảo toàn. Trong đó, nguồn vốn từ phí trích nộp của Ngân hàng HTX và các QTDND chiếm tỉ trọng cao nhất trong nguồn vốn hoạt động của Quỹ bảo toàn. Quy định của pháp luật liên quan đến việc trích nộp và thu phí Quỹ bảo toàn không chỉ quyết định quy mô, khả năng bảo đảm an toàn của Quỹ bảo toàn mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng HTX và các QTDND. Bài viết nghiên cứu, đánh giá quy định của pháp luật về trích nộp phí Quỹ bảo toàn và thực tiễn thi hành quy định về trích nộp phí Quỹ bảo toàn từ thời điểm thành lập năm 2014 đến nay, trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả trong việc trích nộp và thu phí Quỹ bảo toàn1.

2. Quy định của pháp luật về trích nộp phí Quỹ bảo toàn

2.1. Đối tượng có nghĩa vụ trích nộp phí Quỹ bảo toàn và mức trích nộp

Theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 03/2014/TT-NHNN, Ngân hàng HTX, QTDND (trừ trường hợp đang bị áp dụng kiểm soát đặc biệt) có trách nhiệm trích nộp phí tham gia đầy đủ, đúng hạn vào Quỹ bảo toàn một năm một lần trước ngày 31/01 của năm tiếp theo. Việc trích nộp phí tham gia Quỹ bảo toàn của Ngân hàng HTX, QTDND bắt đầu thực hiện từ năm tài chính 2014. Theo quy định của Thông tư số 03/2014/TT-NHNN, mức phí trích nộp được quy định là 0,08% dư nợ cho vay bình quân của năm liền kề trước kết thúc vào ngày 31/12 của Ngân hàng HTX, QTDND. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện đã cho thấy mức trích nộp 0,08% dư nợ cho vay bình quân của năm liền kề trước là lớn và phần nào đó đã gây khó khăn cho các QTDND. Chính vì vậy, năm 2019, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 21/2019/TT-NHNN ngày 14/11/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư quy định về Ngân hàng HTX, QTDND và Quỹ bảo toàn, theo đó từ năm tài chính 2019, mức phí trích nộp phí bảo toàn là 0,05% dư nợ cho vay bình quân của năm liền kề trước kết thúc vào ngày 31/12 của Ngân hàng HTX, QTDND2.

Việc thay đổi mức trích nộp phí là cần thiết và phù hợp với thực trạng tài chính của hệ thống các QTDND tại Việt Nam. Tuy nhiên, căn cứ vào dư nợ cho vay bình quân của năm liền kề trước để tính mức phí trích nộp Quỹ bảo toàn là vấn đề cần bàn luận thêm. Quỹ bảo toàn được thành lập và sử dụng để cho vay hỗ trợ các QTDND khi gặp khó khăn tài chính, khó khăn chi trả, tránh nguy cơ phá sản và đổ vỡ, bảo đảm an toàn cho hệ thống QTDND nói riêng và hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) nói chung. Khó khăn tài chính, khó khăn chi trả của các QTDND sẽ biểu hiện trực tiếp và rõ ràng nhất thông qua khả năng chi trả đối với người gửi tiền hoặc tổng tài sản có của QTDND. Chính vì vậy, sử dụng số dư tiền gửi hay tổng tài sản của QTDND làm cơ sở để tính mức phí trích nộp Quỹ bảo toàn sẽ phù hợp hơn việc sử dụng dư nợ cho vay bình quân của năm liền kề trước làm cơ sở. Trên thế giới, pháp luật các quốc gia cũng sử dụng số dư tiền gửi hay tổng tài sản của quỹ tín dụng để xác định mức trích nộp phí Quỹ bảo toàn. Cụ thể, pháp luật Jamaica quy định mức trích nộp phí Quỹ bảo toàn là 0,35% tiền gửi tiết kiệm, pháp luật Ireland quy định mức trích nộp phí là 0,58% tài sản của QTDND3.

2.2. Thời điểm dừng trích nộp phí và quy mô của Quỹ bảo toàn

Theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 03/2014/TT-NHNN, “Khi tổng nguồn vốn hoạt động của Quỹ bảo toàn đạt 1,5 lần tổng tài sản có của hệ thống TCTD là HTX, Quỹ bảo toàn sẽ tạm thời ngừng thu phí tham gia của các thành viên và tiếp tục thu phí khi tổng nguồn vốn hoạt động của Quỹ bảo toàn thấp hơn mức nêu trên”4. Quy định trên sau đó được sửa đổi thành “Việc trích nộp Quỹ bảo toàn của năm tài chính chỉ được thực hiện khi tổng nguồn vốn hoạt động của Quỹ bảo toàn trước khi trích nộp thấp hơn 1,5% tổng tài sản có của hệ thống QTDND”5.

Con số “1,5 lần tổng tài sản có của hệ thống TCTD là HTX” theo quy định của Thông tư số 03/2014/TT-NHNN là quá lớn và không thật sự cần thiết. Tuy nhiên, việc thay đổi từ 1,5 lần xuống còn 1,5% là rất lớn (100 lần). Thời điểm ngừng thu phí tham gia của các thành viên có liên quan đến quy mô của Quỹ bảo toàn, bởi như đã nói, phí trích nộp từ các thành viên chiếm tỉ trọng lớn nhất trong quy mô, nguồn vốn hoạt động của Quỹ bảo toàn.

Trên thế giới, pháp luật các quốc gia có quy định khác nhau về quy mô của Quỹ bảo toàn. Tại Lithuania, Quỹ ổn định được thành lập bởi Liên hiệp tín dụng Trung ương (CCU). CCU không có quy định giới hạn quy mô của Quỹ ổn định mà chỉ quy định số dư của Quỹ ổn định không thấp hơn 1% tổng tài sản của tất cả các liên hiệp thành viên trong CCU và không thấp hơn giá trị tài sản trung bình của một thành viên tại thời điểm cuối năm tài chính6. Tại Jamaica, năm 1977, Liên đoàn Liên hiệp tín dụng hợp tác xã Jamaica (JCCUL) đã thành lập Quỹ ổn định. Theo quy định của JCCUL, mỗi năm JCCUL đều tiến hành đánh giá tất cả các liên hiệp tín dụng thành viên để xác định tỉ lệ đóng phí vào Quỹ ổn định của mỗi liên hiệp tín dụng thành viên, nhưng không vượt quá 0,35% tổng số tiền gửi và tiết kiệm của liên hiệp tín dụng đó. Trong trường hợp số dư Quỹ bảo toàn dưới 1% tổng số tiền gửi và tiết kiệm của tất cả các liên hiệp tín dụng thành viên thì các liên hiệp tín dụng thành viên cần phải đóng bổ sung, số tiền đóng bổ sung do JCCUL quyết định. Quỹ ổn định sẽ ngừng thu phí khi số tiền trong Quỹ bằng 3% tổng số tiền gửi và tiết kiệm của tất cả các liên hiệp tín dụng thành viên7.

Trở lại với Việt Nam, tổng tài sản có của hệ thống QTDND tính đến ngày 30/4/2023 là 171.374 tỉ đồng. Theo quy định hiện tại, quy mô của Quỹ bảo toàn sẽ bị giới hạn ở mức khoảng 2.500 tỉ đồng. Con số 2.500 tỉ đồng là quá nhỏ so với các số liệu về tổng dư nợ và tổng số dư tiền gửi của hệ thống các TCTD là HTX (tính đến ngày 30/4/2023, tổng dư nợ của hệ thống TCTD là HTX là 160.833 tỉ đồng (trong đó dư nợ của các QTDND là 131.562 tỉ đồng, dư nợ của Ngân hàng HTX là 29.271 tỉ đồng), tổng số dư tiền gửi của hệ thống TCTD là HTX là 190.931 tỉ đồng (trong đó tổng tiền gửi của các QTDND là 151.227 tỉ đồng, số dư tiền gửi của Ngân hàng HTX là 39.704 tỉ đồng)8.

Từ kinh nghiệm của các nước và thực trạng hệ thống QTDND tại Việt Nam có thể khẳng định, việc pháp luật Việt Nam quy định “Việc trích nộp Quỹ bảo toàn của năm tài chính chỉ được thực hiện khi tổng nguồn vốn hoạt động của Quỹ bảo toàn trước khi trích nộp thấp hơn 1,5% tổng tài sản có của hệ thống QTDND” là chưa thật sự phù hợp. Như vậy, theo quy định tại Thông tư số 06/2017/TT-NHNN ngày 05/7/2017 của Thống đốc NHNN về quy mô của Quỹ bảo toàn chưa thể bảo đảm hỗ trợ an toàn cho hoạt động của hệ thống khi các QTDND gặp khó khăn tài chính, khó khăn chi trả.

2.3. Quy định về báo cáo hoạt động và báo cáo thu phí Quỹ bảo toàn

Theo quy định tại Điều 9 Thông tư số 03/2014/TT-NHNN, hằng năm, chậm nhất vào ngày 15/7, Ngân hàng HTX có trách nhiệm gửi báo cáo tình hình hoạt động 6 tháng đầu năm của Quỹ bảo toàn cho NHNN qua Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng. Hằng năm, chậm nhất sau 45 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính, Ngân hàng HTX có trách nhiệm gửi các báo cáo cho NHNN qua Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng các nội dung sau:

(i) Tình hình hoạt động và báo cáo tình hình tài chính năm trước của Quỹ bảo toàn.

(ii) Báo cáo về kết quả giám sát, kiểm toán nội bộ của Ban kiểm soát Ngân hàng HTX về hình hình hoạt động và kết quả tài chính của Quỹ bảo toàn.

Ngoài ra, Ngân hàng HTX phải báo cáo đột xuất theo yêu cầu của NHNN. Các báo cáo của Ngân hàng HTX phải được lập thành văn bản giấy, gửi trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính đến NHNN qua Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng.

3. Thực tiễn thi hành quy định về trích nộp phí Quỹ bảo toàn

3.1. Thực tiễn thi hành nghĩa vụ trích nộp phí Quỹ bảo toàn của Ngân hàng HTX

Căn cứ vào quy định của pháp luật và các quy định về thu phí bảo toàn trong Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ bảo toàn. Hằng năm, căn cứ vào dư nợ cho vay (nhóm 1, nhóm 2) bình quân năm liền kề trước của các QTDND, Ban quản lý Quỹ bảo toàn lập Bảng tổng hợp tính phí tham gia Quỹ bảo toàn của các QTDND gửi các chi nhánh Ngân hàng HTX đối chiếu. Các chi nhánh Ngân hàng HTX phối hợp cùng Ban quản lý Quỹ bảo toàn đối chiếu, kiểm tra danh sách. Sau khi đối chiếu, thống nhất, bảng tổng hợp tính phí tham gia Quỹ bảo toàn của các QTDND sẽ được gửi cho các QTDND.

Các QTDND kiểm tra, nếu có thắc mắc sẽ phản hồi thông qua chi nhánh Ngân hàng HTX. Sau khi nhận được thắc mắc của các QTDND, chi nhánh Ngân hàng HTX sẽ phối hợp với Ban quản lý Quỹ bảo toàn đối chiếu, kiểm tra, thống nhất số phí QTDND phải nộp. Sau đó, Ban quản lý Quỹ bảo toàn gửi văn bản thông báo số phí bảo toàn tới các QTDND thông qua chi nhánh Ngân hàng HTX. Chi nhánh Ngân hàng HTX gửi thông báo bản cứng số phí phải nộp về từng QTDND. Đối với các QTDND không nộp phí tham gia Quỹ bảo toàn hoặc nộp không đầy đủ, đúng hạn, Quỹ bảo toàn sẽ phối hợp với chi nhánh Ngân hàng HTX nhắc nhở, đôn đốc. Dựa vào số liệu báo cáo của Ngân hàng HTX gửi NHNN có thể đưa ra một số đánh giá về tình hình thu phí Quỹ bảo toàn như sau:

Thứ nhất, trong các năm đầu việc thu phí Quỹ bảo toàn của các QTDND còn gặp nhiều khó khăn, do nhiều QTDND chưa hiểu đúng về ý nghĩa, vai trò của Quỹ bảo toàn và nghĩa vụ của các QTDND trong việc trích nộp phí Quỹ bảo toàn theo quy định. Tuy nhiên, qua thời gian, cùng với đó là sự đôn đốc, nhắc nhở của Ngân hàng HTX, các QTDND đã nhận thức đúng về vai trò, ý nghĩa của Quỹ bảo toàn và nghĩa vụ của các QTDND trong việc trích nộp phí Quỹ bảo toàn theo quy định. Chính vì vậy, theo thời gian các QTDND đã dần nghiêm túc hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ trích nộp phí Quỹ bảo toàn theo quy định. Tính đến ngày 31/12/2022, số tiền phí Quỹ bảo toàn của các năm từ 2014 đến 2021 đã được Ngân hàng HTX và các QTDND nộp đầy đủ, tổng số phí Quỹ bảo toàn Ngân hàng HTX và các QTDND đã trích nộp là: 490,6 tỉ đồng. Riêng năm 2022, tổng số phí Quỹ bảo toàn là 64,1 tỉ đồng, trong đó Ngân hàng HTX phải nộp 9,9 tỉ đồng, các QTDND phải nộp 54,2 tỉ đồng. Tính đến ngày 31/12/2022, Ngân hàng HTX và 602 QTDND đã thực hiện trích nộp phí Quỹ bảo toàn năm 2022 với tổng số tiền là: 37,1 tỉ đồng. (Bảng 1)

Bảng 1: Số tiền phí Quỹ bảo toàn thu của Ngân hàng HTX và các QTDND


Đơn vị: Tỉ đồng

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Ngân hàng HTX về tình hình hoạt động và tình hình tài chính

các năm gửi NHNN (số liệu được làm tròn đến 01 số thập phân)

Tuy nhiên, cá biệt vẫn tồn tại một số QTDND không thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ trích nộp phí Quỹ bảo toàn. Cụ thể: (i) Theo Báo cáo tình hình hoạt động của Quỹ bảo toàn năm 2016, Ngân hàng HTX gửi NHNN ngày 25/01/2017, tính đến ngày 25/01/2017, QTDND Thành Đô, tỉnh Ninh Bình vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trích nộp phí Quỹ bảo toàn năm 2014; (ii) Theo Báo cáo tình hình hoạt động và tình hình tài chính năm 2021 của Quỹ bảo toàn, Ngân hàng HTX gửi NHNN ngày 10/02/2022, QTDND Long Bình, tỉnh Đồng Nai đến 07/01/2022 mới hoàn thành việc nộp phí năm 2019.

Thứ hai, theo quy định các QTDND phải hoàn thành việc trích nộp phí Quỹ bảo toàn của năm liền kề trước ngày 31/01 của năm tiếp theo. Tuy nhiên, số liệu trong báo cáo của Ngân hàng HTX gửi NHNN cho thấy, số lượng các QTDND chậm trích nộp phí Quỹ bảo toàn là khá phổ biến. (Bảng 2)

Bảng 2: Số liệu về các QTDND trích nộp phí Quỹ bảo toàn qua các năm


Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Ngân hàng HTX

về tình hình hoạt động và tình hình tài chính các năm gửi NHNN

Vấn đề đặt ra là pháp luật Việt Nam hiện tại không có quy định về biện pháp xử lí với các QTDND không trích nộp phí Quỹ bảo toàn hoặc trích nộp muộn so với thời gian quy định. Chính vì vậy, thực tế để thu đúng, thu đủ phí Quỹ bảo toàn, Ngân hàng HTX - đơn vị được giao nhiệm vụ quản lí và sử dụng Quỹ bảo toàn chỉ có thể dừng lại ở việc đôn đốc, nhắc nhở các QTDND thực hiện nghiêm túc quy định về trích nộp phí Quỹ bảo toàn. Trong Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ bảo toàn (Quy chế số 03/QC-NHHT ngày 23/9/2022 của Ngân hàng HTX) quy định một trong những điều kiện để QTDND được vay vốn từ Quỹ bảo toàn là: QTDND là thành viên của Ngân hàng HTX và đóng đầy đủ, kịp thời các khoản phí theo quy định9. Có thể hiểu, quy định trên được đặt ra với mục đích tạo sức ép để các QTDND thực hiện việc trích nộp phí Quỹ bảo toàn đúng quy định. Tuy nhiên, quy định trên là điều kiện để QTDND được vay vốn từ Quỹ bảo toàn chứ không phải là biện pháp xử lí và thực tế cho thấy không có nhiều ý nghĩa trong việc buộc các QTDND phải trích nộp phí Quỹ bảo toàn đúng quy định và hơn nữa đó chỉ là quy định nội bộ, không phải quy định của pháp luật.

Thứ ba, Ngân hàng HTX đã thực hiện nghiêm túc việc trích nộp phí Quỹ bảo toàn theo quy định. Tổng số tiền trích nộp phí Quỹ bảo toàn của Ngân hàng HTX tính đến năm 2022 là 80,4 tỉ đồng (Bảng 1). Ngoài việc trích nộp phí Quỹ bảo toàn, Ngân hàng HTX cũng thực hiện nghiêm túc quy định về việc thu phí Quỹ bảo toàn của các QTDND. Việc tính số phí phải nộp, quy trình thông báo, giải quyết thắc mắc, khiếu nại và đôn đốc nhắc nhở các QTDND trích nộp phí bảo toàn được thực hiện nghiêm túc và khoa học.

3.2. Thực tiễn thi hành quy định về báo cáo thu phí Quỹ bảo toàn

Thực tế cho thấy, Ngân hàng HTX được giao nhiệm vụ quản lí và sử dụng Quỹ bảo toàn đã thực hiện nghiêm túc các báo cáo 6 tháng và báo cáo năm gửi NHNN qua Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng.

(i) Về thời gian báo cáo: Tất cả các báo cáo 6 tháng của Ngân hàng HTX đều được thực hiện và gửi NHNN trước ngày 15/7 hằng năm. Các báo cáo năm của Quỹ bảo toàn đều được thực hiện và gửi NHNN trước ngày 31/01 hằng năm.

(ii) Về tên gọi của báo cáo và các nội dung báo cáo: Thông tư số 03/2014/TT-NHNN không có quy định, hướng dẫn cụ thể về mẫu báo cáo. Đến Thông tư số 14/2019/TT-NHNN mới có quy định, hướng dẫn cụ thể về báo cáo 6 tháng và báo cáo năm. Chính vì vậy, trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2019 báo cáo của Ngân hàng HTX không có sự thống nhất về tên báo cáo, nội dung và bố cục. Từ năm 2020 đến nay, báo cáo 6 tháng và báo cáo năm của Ngân hàng HTX được thực hiện theo đúng mẫu báo cáo được ban hành kèm theo Thông tư số 14/2019/TT-NHNN.

Các thông tin được trình bày trong các báo cáo 6 tháng bao gồm:

- Thông tin về thu phí Quỹ bảo toàn của năm liền trước (tổng số tiền phí đã thu được; số QTDND và số tiền phí đã nộp; số tiền phí Ngân hàng HTX đã nộp; số QTDND chưa nộp phí và số tiền phí chưa thu được).

- Thông tin về thu nhập và chi phí của Quỹ bảo toàn (tổng thu nhập, trong đó lãi tiền gửi và lãi tiền vay; tổng chi phí, chi phí cho các hạng mục, nội dung cụ thể).

- Thông tin về cho vay hỗ trợ các QTDND gặp khó khăn về tài chính, khó khăn chi trả để có thể khắc phục trở lại hoạt động bình thường (số QTDND vay vốn, số tiền cho vay với từng QTDND, thời hạn vay, lãi suất cho vay).

Các thông tin được trình bày trong các báo cáo năm bao gồm:

- Thông tin về thu phí Quỹ bảo toàn của năm trước nữa (tổng số tiền phí đã thu được; số QTDND và số tiền phí đã nộp; số tiền phí Ngân hàng HTX đã nộp).

- Thông tin về thu phí Quỹ bảo toàn của năm vừa rồi: Tổng số tiền phí đã thu được; số QTDND và số tiền phí đã nộp; số tiền phí Ngân hàng HTX đã nộp; số QTDND chưa nộp phí và số tiền phí chưa thu được.

- Thông tin về nguồn vốn của Quỹ bảo toàn: Tổng số phí bảo toàn đã thu; lợi nhuận được để lại từ nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước tại Ngân hàng HTX; chênh lệch thu, chi từ hoạt động của Quỹ bảo toàn; trích lập dự phòng; tổng nguồn vốn của Quỹ bảo toàn.

- Chi phí hoạt động của Quỹ bảo toàn: Tổng chi phí; các nội dung và số tiền chi phí cụ thể.

- Số liệu về cho vay hỗ trợ các QTDND gặp khó khăn về tài chính, khó khăn chi trả và cho vay đặc biệt: Doanh số cho vay cộng dồn của các năm; doanh số thu nợ cộng dồn của các năm; tổng dư nợ còn lại; số QTDND vay vốn trong năm vừa rồi, số tiền cho vay, thời hạn vay, lãi suất vay; số liệu về công tác thu hồi nợ, số nợ gốc thu hồi, tiền lãi thu hồi, số tiền thu hồi cụ thể đối với từng QTDND.

- Số liệu về trích lập dự phòng rủi ro: Số liệu trích lập năm vừa rồi và tổng số tiền trích lập.

- Số liệu về sử dụng nguồn vốn của Quỹ bảo toàn: Số dư tiền gửi; số tiền gửi có kì hạn; số tiền gửi không kì hạn.

Trên cơ sở nghiên cứu, xem xét thực tế các báo cáo 6 tháng, báo cáo năm của Ngân hàng HTX gửi NHNN qua Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng có thể khẳng định: Ngân hàng HTX đã thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật về thời gian báo cáo, nội dung báo cáo. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật, thời hạn để các QTDND hoàn thành nghĩa vụ đóng phí là ngày 31/01 của năm sau, trong khi thời hạn để Ngân hàng HTX gửi báo cáo năm là 45 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Khoảng thời gian 15 ngày là không đủ để Ngân hàng HTX tổng hợp số liệu và hoàn thiện báo cáo. Chính vì vậy, Ngân hàng HTX thường phải chốt số liệu xây dựng báo cáo gửi NHNN trước ngày 31/01 hằng năm và đó chính là nguyên nhân dẫn đến thực trạng các thông tin, số liệu được thể hiện trong các báo cáo năm chưa có sự thống nhất.

4. Một số đề xuất, kiến nghị

Từ những phân tích đánh giá quy định của pháp luật liên quan đến nghĩa vụ trích nộp phí Quỹ bảo toàn và thực tiễn thi hành, tác giả đề xuất một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành quy định của pháp luật về trích nộp, thu phí Quỹ bảo toàn như sau:

Thứ nhất, các cơ quan nhà nước cần căn cứ vào thực tế quy mô, tổ chức và hoạt động của hệ thống QTDND tại Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm quốc tế để điều chỉnh thời điểm ngừng thu phí Quỹ bảo toàn theo hướng tăng giới hạn quy mô để bảo đảm Quỹ bảo toàn phát huy được vai trò cho vay hỗ trợ khó khăn tài chính, khó khăn chi trả giúp cho các QTDND trở lại hoạt động bình thường, không ảnh hưởng đến an toàn hệ thống.

Thứ hai, để nâng cao hiệu quả thi hành quy định của pháp luật về nghĩa vụ trích nộp phí bảo toàn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động thu phí Quỹ bảo toàn của Ngân hàng HTX, quy định của pháp luật về Quỹ bảo toàn cần hoàn thiện theo hướng:

(i) Bổ sung quy định về các biện pháp xử lí (chế tài) áp dụng với QTDND không thực hiện đúng quy định về trích nộp phí Quỹ bảo toàn. Quy định thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lí (chế tài) đối với QTDND không thực hiện đúng quy định về trích nộp phí Quỹ bảo toàn cho các NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố.

(ii) Bổ sung quy định xác định trách nhiệm của NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trong việc tuyên truyền, phổ biến đối với các QTDND về ý nghĩa, vai trò của Quỹ bảo toàn và nghĩa vụ trích nộp phí bảo toàn; đôn đốc, nhắc nhở các QTDND không thực hiện đúng nghĩa vụ trích nộp phí Quỹ bảo toàn.

Thứ ba, để Ngân hàng HTX có thêm thời gian tổng hợp, đánh giá số liệu báo cáo của Ban quản lý Quỹ bảo toàn và xây dựng báo cáo gửi NHNN, qua đó bảo đảm số liệu báo cáo được đầy đủ, chính xác và thống nhất, quy định về thời hạn gửi báo cáo tình hình hoạt động và tình hình tài chính của Quỹ bảo toàn của Ngân hàng HTX về NHNN tại khoản 2 Điều 9 Thông tư số 03/2014/TT-NHNN cần được sửa đổi theo hướng lùi thời hạn thực hiện báo cáo năm về tình hình hoạt động của Quỹ bảo toàn đối với Ngân hàng HTX.

Thứ tư, NHNN, Ngân hàng HTX và các QTDND cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và cao hơn nữa là đào tạo để nâng cao nhận thức, hiểu biết của độ ngũ lãnh đạo, cán bộ QTDND về ý nghĩa, vai trò của Quỹ bảo toàn và quy định của pháp luật về Quỹ bảo toàn.

1 Các số liệu được sử dụng trong bài viết được tổng hợp từ các Báo cáo 6 tháng và Báo cáo năm của Ngân hàng HTX về Quỹ bảo toàn từ năm 2014 đến năm 2022.
2 Dư nợ cho vay bình quân năm được tính bằng tổng dư nợ cho vay (nhóm 1 và nhóm 2 theo quy định về phân loại nợ của NHNN) tại thời điểm cuối mỗi tháng trong năm chia cho số tháng phải tính thực tế. Riêng đối với Ngân hàng HTX, số dư nợ cho vay nêu trên được loại trừ phần dư nợ cho vay điều hòa vốn đối với các QTDND thành viên.
3 Trích lại theo: Jones, P.A. (2010). “Stabilising British Credit Unions: A Research Study into the International Rationale and Design of Credit Union Stabilisation Programmes.” Research Report published by the Faculty of Health and Applied Social Sciences, Liverpool John Moores University.
4 Ngoài nguồn thu từ trích nộp phí của Ngân hàng HTX, QTDND, Quỹ bảo toàn còn được bổ sung từ các nguồn: (i) Chênh lệch thu từ lãi và chi phí trong hoạt động của Quỹ bảo toàn; (ii) Lợi nhuận được để lại từ nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước tại Ngân hàng HTX theo quy định pháp luật được sử dụng bổ sung Quỹ bảo toàn. (Từ năm 2016 đến nay đã dừng nộp Quỹ bảo toàn)
5 Điều 1 Thông tư số 06/2017/TT-NHNN.
6 Trích lại theo: Credit Unions’ System In Lithuania, Jurgita Liutvinskienė, Head of Marketing and Product Development Department, Lithuanian Central Credit Union, Savanoriu pages 363-211, Kaunas, Lithuania.
7 Trích lại theo: Jones, P.A. (2010). “Stabilising British Credit Unions: A Research Study into the International Rationale and Design of Credit Union Stabilisation Programmes.” Research Report published by the Faculty of Health and Applied Social Sciences, Liverpool John Moores University.
8 Các số liệu trên được lấy từ hệ thống PRMS của Ngân hàng HTX.

9 Điều 8 Quy chế số 03/QC-NHHT ngày 23/9/2022 của Ngân hàng HTX.


Tài liệu tham khảo:

1. Lê Hà Diễm Chi (2022), Quỹ bảo toàn hỗ trợ QTDND: Thực trạng và giải pháp, đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ năm 2020.

2. Credit Unions’ System In Lithuania, Jurgita Liutvinskienė, Head of Marketing and Product Development Department, Lithuanian Central Credit Union, Savanoriu pages 363-211, Kaunas, Lithuania.

3. Jones, P.A. (2010). “Stabilising British Credit Unions: A Research Study into the International Rationale and Design of Credit Union Stabilisation Programmes.” Research Report published by the Faculty of Health and Applied Social Sciences, Liverpool John Moores University.

4. Quy chế số 179/QC-NHHT ngày 28/3/2014 của Ngân hàng HTX.

5. Quy chế số 2095/QC-NHHT ngày 31/12/2019 của Ngân hàng HTX.

6. Quy chế số 03/QC-NHHT ngày 23/9/2022 của Ngân hàng HTX.

7. Báo cáo tình hình hoạt động và tài chính của Quỹ bảo toàn từ năm 2014 đến năm 2022.

8. Báo cáo 6 tháng Quỹ bảo toàn từ năm 2014 đến năm 2022.


TS. Đỗ Mạnh Phương (Phó Trưởng Khoa Luật - Học viện Ngân hàng)

ThS. Nguyễn Thị Duyên (Tạp chí Ngân hàng)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi

Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi".
Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới không chỉ là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn là nhiệm vụ then chốt để củng cố nền tảng tư tưởng, bảo vệ định hướng phát triển quốc gia và khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Xem thêm
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng