Phát triển bền vững Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Hoạt động ngân hàng
TS. Hà Thị Sáu Bền vững trong phát triển là mục tiêu của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp và thậm chí là mỗi cá nhân, gia đình,… Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) Việt Nam là một loại...
aa

TS. Hà Thị Sáu


Bền vững trong phát triển là mục tiêu của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp và thậm chí là mỗi cá nhân, gia đình,… Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) Việt Nam là một loại hình tổ chức tín dụng (TCTD), hình thành trong nền kinh tế thị trường, tồn tại song song với các ngân hàng thương mại (NHTM) và TCTD phi ngân hàng khác cũng không nằm ngoài mục tiêu đó.
Vậy phát triển bền vững của NHCSXH là gì?
NHCSXH là một định chế tài chính của Nhà nước, hoạt động với mục đích phi lợi nhuận, tức là không vì mục tiêu kinh doanh, song phải bảo toàn được vốn và phải đảm bảo được các mục tiêu xã hội mà Quốc hội hay Chính phủ đề ra. Mục tiêu xã hội đó, thường là: giảm nghèo, tạo việc làm, bảo vệ môi trường, khắc phục thiên tai, cải thiện đời sống cho các vùng khó khăn và đồng bào thiểu số, di dân, hồi hương, tái hòa nhập cộng đồng,... Tùy theo điều kiện từng nước mà nhấn mạnh nhóm mục tiêu, song thường là có tính chất tổng hợp các yêu cầu an sinh xã hội. Cụ thể là, NHCSXH phải tham gia tích cực, đóng vai trò tích cực trong việc đạt được mục tiêu phát triển bền vững của một quốc gia, một vùng lãnh thổ.
Từ những phân tích ở trên, tác giả cho rằng, một NHCSXH bền vững là ngân hàng đạt được các mục tiêu hoạt động, phát triển liên tục, bảo toàn và gia tăng vốn, đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý và có hiệu quả của khách hàng, góp phần giải quyết các chính sách xã hội của quốc gia.
Vậy có những tiêu chí nào đánh giá sự phát triển bền vững của NHCSXH?
Về mặt định tính, một NHCSXH phát triển bền vững không chỉ tính đến các yêu cầu phát triển riêng của bản thân ngân hàng. Nếu như khách hàng vay vốn không nâng cao được năng lực, nâng cao hay cải thiện điều kiện sống, sinh hoạt, làm ăn,... sau một hay một số chu kỳ vay vốn thì chưa phải là sự phát triển bền vững của NHCSXH. Hơn thế nữa, các mục tiêu xã hội của nền kinh tế, như: giảm nghèo, tạo việc làm mới và nâng cao thu nhập, bảo vệ môi trường,... không đạt được thì hoạt động của NHCSXH hầu như không có ý nghĩa. Như vậy, sự phát triển bền vững của một NHCSXH đó là đáp ứng được các yêu cầu tồn tại và phát triển của bản thân ngân hàng, của khách hàng và yêu cầu chính sách xã hội của quốc gia.
Về mặt định lượng, có các tiêu chí cơ bản sau đây:
1- Đối với ngân hàng: sự tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước về: quy mô nguồn vốn hoạt động, dư nợ cho vay, số lượng khách hàng; tỷ lệ nợ xấu trong giới hạn cho phép.
2- Đối với người vay vốn: cải thiện được điều kiện làm ăn, điều kiện sống, thu nhập, việc làm, dân trí, tay nghề,... hoàn trả vốn vay và các yêu cầu tài chính khác theo cam kết.
3- Đối với nền kinh tế: tỷ lệ giảm nghèo hàng năm, tỷ lệ việc làm mới gia tăng hay tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm; điều kiện của người dân ở vùng thiên tai, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa,... được cải thiện. Vấn đề bảo vệ môi trường có chuyển biến.
Một số tiêu chí đối với nền kinh tế cần phải đánh giá trong trạng thái động, cụ thể như: tiêu chí hộ nghèo được nâng lên so với mặt bằng chung về phát triển kinh tế, thu nhập quốc dân bình quân đầu người; việc làm mới tạo ra gắn liền với tốc độ tăng dân số,....
Một số liên hệ thực tiễn với NHCSXH Việt Nam
Một là, nhóm chỉ tiêu thuộc về ngân hàng
- Trước khi thành lập NHCSXH Việt Nam, tức là trước tháng 10/2002, có 3 mảng tín dụng chính sách thuộc về 3 tổ chức khác nhau giải ngân cho vay: i) NHNo&PTNT Việt Nam nhận ủy thác cho vay hộ nghèo của Ngân hàng Phục vụ người nghèo, thực hiện từ năm 1995: quy mô dư nợ của lĩnh vực xã hội này là lớn nhất. ii) Ngân hàng Công thương Việt Nam cho học sinh sinh viên vay vốn học tập: kết quả khiêm tốn; iii) Kho bạc Nhà nước cho vay giải quyết việc làm: kết quả rất khiêm tốn, tỷ lệ nợ quá hạn khi bàn giao cho NHCSXH cao.


NHCSXH bền vững là ngân hàng đạt được các mục tiêu hoạt động, phát triển liên tục, bảo toàn và gia tăng vốn,
đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý và có hiệu quả của khách hàng, góp phần giải quyết các chính sách xã hội của quốc gia

Do những hạn chế của 3 kênh nói trên, đồng thời yêu cầu tái cơ cấu TCTD cũng như đáp ứng yêu cầu thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới, NHCSXH được thành lập, tập trung 3 chương trình tín dụng nói trên, đồng thời liên tục phát triển các chương trình, dự án mới. Từ 3 chương trình ban đầu, đến nay, đã lên tới 24 chương trình, dự án; dư nợ cho vay tăng trưởng bình quân khoảng trên 10%/năm. Tổng dư nợ các chương trình tín dụng đến 30/6/2017 đạt 166.426 tỷ đồng, tăng 5,8% so với cuối năm 2016; trong đó, dư nợ tín dụng thực hiện theo chỉ tiêu kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao đạt 148.960 tỷ đồng, hoàn thành 71% kế hoạch, với gần 6,8 triệu người nghèo và các đối tượng chính sách còn dư nợ, dư nợ bình quân 25 triệu đồng/hộ. Như vậy, xét về góc độ này rõ ràng NHCSXH đảm bảo được yêu cầu về phát triển liên tục và phát triển ổn định của sự phát triển bền vững.
- Tỷ lệ nợ xấu thấp. Chất lượng tín dụng chính sách không ngừng được củng cố, nâng cao. Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khoanh hiện nay chỉ chiếm 0,82% tổng dư nợ, trong đó nợ quá hạn chiếm tỷ lệ 0,43%. Các khoản nợ xấu này hầu hết rơi vào nguyên nhân bất khả kháng, nguyên nhân khách quan, người vay đã mất, người vay đi khỏi nơi cư trú không còn thông tin, người đi xuất khẩu lao động phải về nước trước thời hạn, tai nạn, ốm đau kéo dài, thiên tai,... Nguyên nhân chủ quan hầu như không có, tất nhiên là không thể tuyệt đối vấn đề này.
- Nguồn vốn của NHCSXH cũng đang khá đa dạng và tăng trưởng ổn định. Đến ngày 30/6/2017, tổng nguồn vốn đạt trên 173.000 tỷ đồng, tăng 13.816 tỷ đồng so với cuối năm 2016. Trong đó, nguồn vốn nhận ủy thác từ địa phương đạt 8.112 tỷ đồng, chiếm 4,6% tổng nguồn vốn; huy động vốn của các tổ chức kinh tế, cá nhân và dân cư là 8.335 tỷ đồng, tiền gửi tiết kiệm thông qua tổ tiết kiệm và vay vốn 6.101 tỷ đồng.
Hai là, nhóm chỉ tiêu thuộc về người vay
Thực tế về số liệu kế toán của NHCSXH nói trên cũng chứng tỏ trình độ dân trí, nhận thức của người dân về sử dụng vốn tín dụng chính sách, về dịch vụ tài chính chính thức của nhà nước đã được nâng cao, nếu có nguồn thu nhập họ sẵn sàng trả nợ trước hạn. Nếu sử dụng vốn không hiệu quả, không có khả năng đầu tư để thu hồi vốn và có lãi trả nợ thì họ không vay, mặc dù mức cho vay đã được nâng lên. Người vay sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả, có nguồn thu nhập, tạo được việc làm tại chỗ, trả nợ đúng hạn cho NHCSXH để quay vòng tiếp tục cho vay.
Ba là, nhóm chỉ tiêu về nền kinh tế
Báo cáo chính thức quốc gia, báo cáo của Hội đồng Nhân dân các tỉnh, thành phố,... đều cho thấy tỷ lệ hộ nghèo giảm, số người được tạo việc làm mới có chuyển biến, hay ngăn chặn được số người thất nghiệp trong bối cảnh kinh tế khó khăn. Một số báo cáo chính thức khác cũng ghi nhận số lượng sinh viên, học sinh được vay vốn, những chuyển biến trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn,... Đánh giá của một số tổ chức quốc tế cũng ghi nhận những thành công trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề an sinh xã hội của Việt Nam.
Kết quả đó có những đóng góp không thể phủ nhận của NHCSXH Việt Nam mà nhiều bài viết và nhiều tài liệu đã đề cập. Tuy nhiên, trong xu hướng hội nhập cũng như xu hướng vận động của nền kinh tế, còn nhiều vấn đề cần được giải quyết một cách bền vững, mà trọng tâm là giải pháp tín dụng chính sách xã hội, đặ trọng trách lớn cho NHCSXH Việt Nam trong ngắn hạn cũng như trung, dài hạn.
Một số kiến nghị đề xuất
Theo tác giả bài viết, vấn đề đầu tiên là phải giải quyết một cách cơ bản, ổn định nguồn vốn hoạt động của NHCSXH Việt Nam, bởi vì, Ngân hàng này không thể cạnh tranh bình đẳng huy động vốn trên thị trường như các NHTM khác. Chính phủ nên giao cho Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính cần khẩn trương hoạch định chính sách tạo lập nguồn vốn ổn định, bền vững, cơ chế xử lý nợ rủi ro khách quan, cơ chế tài chính Ngành theo hướng nâng cao tính tự chủ, giảm dần tính thụ động, chắp vá trong tổ chức chỉ đạo, điều hành. Nguồn vốn theo kế hoạch hàng năm phải được ghi vào danh mục chi ngân sách nhà nước được Quốc hội phê chuẩn. Có quy định cụ thể về tỷ lệ đóng góp thống nhất trong toàn quốc đối với nguồn vốn tăng thu, tiết kiệm chi thuộc nguồn vốn ngân sách địa phương để lập quỹ cho vay ưu đãi thực hiện các chương trình tín dụng ưu đãi của địa phương. Đồng thời, nghiên cứu, ban hành cụ thể hơn nữa chính sách đa dạng hoá các nguồn vốn để huy động được sự đóng góp của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp tài chính, ngân hàng, nguồn đóng góp tự nguyện của cộng đồng dân cư, của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; có cơ chế cho phép NHCSXH được trực tiếp nhận nguồn vốn ODA. Về góc độ nguồn vốn, bài viết xin đề xuất các giải pháp cụ thể sau:
Một là, tiếp nhận tiền gửi 2% của các TCTD trong nước
Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ quy định: “Các TCTD nhà nước có trách nhiệm duy trì số dư tiền gửi tại NHCSXH bằng 2% số dư nguồn vốn huy động bằng đồng Việt Nam tại thời điểm 31/12 năm trước. Việc thay đổi tỷ lệ số dư tiền gửi nói trên do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Tiền gửi của các TCTD nhà nước tại NHCSXH được trả lãi bằng lãi suất tính trên cơ sở bình quân lãi suất huy động các nguồn vốn hàng năm của TCTD + phí huy động hợp lý do hai bên thỏa thuận”.
Tác giả bài viết đề xuất, thay cho tỷ lệ 2% nói trên với cơ chế lãi suất như trên, bằng tỷ lệ 2% tổng số dư tiền gửi nội tệ, áp dụng cho tất cả các NHTM Việt Nam (không tính ngân hàng liên doanh và ngân hàng nước ngoài) và tỷ lệ 2% đó được tính vào tỷ lệ tiền gửi bắt buộc của NHTM tại NHNN. Về lãi suất, tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng gửi tại NHTM. Do đó, nếu tính 2% thì NHCSXH ước tính sẽ có khoảng 50.000 - 65.000 tỷ đồng, có tính chất tăng trưởng ổn định theo tốc độ tăng tiền gửi nội tệ tại các NHTM Việt Nam.
Hai là, nguồn vốn vay NHNN
NHCSXH thực hiện vay từ NHNN trên cơ sở kế hoạch nguồn vốn hàng năm của NHCSXH đã được Bộ Tài chính thông qua. Vì NHNN là ngân hàng của các ngân hàng, do vậy, NHCSXH khi cần thiết cũng có thể vay từ NHNN.
Đây là nguồn vốn quan trọng của NHCSXH, cần được tổng kết, đánh giá kênh nguồn vốn này trong thời gian qua để có thể đảm bảo ổn định trong thời gian tới. Hay, tính toán trên cơ sở kế hoạch nguồn vốn hàng năm của NHCSXH trừ đi các nguồn vốn khác, thì còn lại được cân đối từ nguồn này.
Ba là, nguồn vốn vay các tổ chức tài chính tín dụng trong nước
Cũng như các ngân hàng khác, việc NHCSXH vay các tổ chức tài chính, tín dụng khác trong nước được quy định trong điều lệ, việc vay vốn thực hiện khi có nhu cầu, vay từng lần và phải đưa vào kế hoạch huy động vốn hàng năm của NHCSXH đã được Bộ Tài chính phê duyệt.
Việc vay vốn trên cơ sở thỏa thuận, lãi suất trả cho khoản vốn vay này trên nguyên tắc thỏa thuận nhưng theo quy định của Bộ Tài chính: lãi suất vay không vượt quá lãi suất tối đa cùng kỳ hạn của các NHTM Nhà nước trên địa bàn.
Thực tế cho thấy, kênh vay vốn này cũng có những khó khăn nhất định và không thể trông chờ có tính chất ổn định lâu dài được.
Bốn là, nguồn vốn vay từ Bảo hiểm Xã hội: Lãi suất tiền vay do Bộ Tài chính quy định từng lần.
Hiện nay, vay từ kênh Bảo hiểm xã hội cần được đánh giá và cân đối chủ động hàng năm. Đồng thời, nên tính toán vay mới từ kênh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Đây là nguồn vốn khá quan trọng.
Năm là, ngồn vốn vay các tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài
NHCSXH được thực hiện vay vốn từ các tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài. Việc vay vốn được Chính phủ bảo lãnh. Lãi suất vay vốn trong trường hợp này phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản.
Kênh vay vốn này không phải dễ dàng vì tùy thuộc vào kết quả đàm phán và tạo lòng tin của các nhà tài trợ quốc tế vào NHCSXH, đồng thời, NHCSXH phải chủ động xây dựng đề án, dự án có tính thuyết phục theo thông lệ quốc tế và theo yêu cầu quốc tế.
Sáu là, nguồn vốn huy động của dân cư
Nguồn vốn này NHCSXH tự tổ chức huy động trên thị trường, theo nguyên tắc thương mại, có sự cạnh tranh của các TCTD khác trên địa bàn.
Như phần trên đã đề cập, giải pháp này không có tính khả thi, không hiệu quả.
Bảy là, nguồn vốn huy động của người nghèo vay vốn
Đối với đối tượng là người nghèo vay vốn, NHCSXH không cho vay từng cá nhân, hộ nghèo riêng lẻ mà thực hiện cho vay trực tiếp đến hộ thông qua các tổ tiết kiệm và vay vốn, có nghĩa là hộ nghèo muốn vay vốn phải tham gia vào tổ tiết kiệm và vay vốn tại địa phương. Các tổ do cộng đồng dân cư tự nguyện thành lập theo sự hướng dẫn, chỉ đạo của các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương, được UBND xã (phường) cho phép thành lập và hoạt động.
Nguồn vốn này tỷ trọng nhỏ, nên không phải kênh huy động vốn chủ đạo.
Tám là, nguồn vốn nhận ủy thác:
Ngoài việc thực hiện huy động vốn, NHCSXH còn tiếp nhận các nguồn vốn từ Chính phủ, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước dưới hình thức vốn nhận ủy thác. Việc nhận vốn ủy thác thường thực hiện thông qua ký kết các văn bản thỏa thuận trong đó nêu rõ: số tiền ủy thác, địa bàn cho vay, đối tượng cho vay, lãi suất và điều kiện cho vay, mức phí ủy thác, thời gian ủy thác, xử lý rủi ro.
Về bản chất, đây là nguồn vốn mà NHCSXH nhận ủy thác cho vay, hưởng phí dịch vụ. Do vậy, nó mang tính tự nguyện giữa hai bên, tùy thuộc vào chính sách và điều kiện cụ thể của mỗi địa phương, mỗi tổ chức, nên không có tính chất ổn định, cần được đánh giá hoạt động nhận ủy thác thời gian qua của NHCSXH để có đề xuất mới, hiệu quả cho thời gian tới.
Trước mắt, trong thời điểm hiện nay, NHCSXH cần chủ động tiếp tục tổ chức tốt việc huy động vốn; theo dõi, bám sát thị trường; phối hợp chặt chẽ với các Vụ, Cục chức năng của NHNN và Bộ Tài chính để đẩy mạnh phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh theo hạn mức đã được Thủ tướng phê duyệt; Tiếp tục tham mưu cho các cấp, các ngành, địa phương tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 401/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tranh thủ nguồn lực từ ngân sách địa phương để bổ sung nguồn vốn cho vay trên
địa bàn.
NHCSXH Việt Nam cũng tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành liên quan đề nghị Quốc hội, Chính phủ phê chuẩn, giao kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020; xem xét nâng mức cho vay chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên; nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; đồng thời rà soát, đánh giá chính sách tín dụng để kiến nghị Chính phủ hoạch định cơ chế phù hợp cho công tác giảm nghèo đối với từng vùng.
Hiện nay, có rất nhiều chương trình, dự án, do các Bộ, ngành khác nhau phụ trách, triển khai từ nguồn vốn ngân sách đầu tư cho người nghèo, đối tượng chính sách, đồng bào thiểu số, vùng thiên tai,… như: chương trình dạy nghề nông thôn, Ủy ban Dân tộc, Hội nông dân,… cần có sự đánh giá tổng thể, tránh chồng chéo, chuyển dần và chuyển từng phần qua kênh tín dụng chính sách.
Xây dựng các chương trình, dự án mới, mở ra các đối tượng mới hưởng thụ tín dụng chính sách, nhất là các chương trình về ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, hộ gia đình chính sách ở đô thị, gia đình công nhân thiếu nhà ở trong các khu công nghiệp, khu chế xuất; nhà ở cho giáo viên miền núi,…; các doanh nghiệp thực hiện các dự án xã hội, dự án chính sách, dự án ở vùng thiên tai.
Hệ thống NHCSXH cần tiếp tục tham mưu cho các cấp, các ngành tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị số
40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 401/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, chủ động tranh thủ nguồn lực từ ngân sách địa phương để bổ sung nguồn vốn cho vay trên địa bàn; Tiếp tục làm tốt công tác kiểm tra kiểm soát.
Được biết, hiện nay, NHCSXH Việt Nam cũng đang tập trung chỉ đạo việc củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng trong toàn hệ thống, đặc biệt, đối với các chi nhánh có chất lượng tín dụng còn thấp hoặc chưa ổn định, gắn liền với việc làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát. Đây là một biện pháp thiết thực góp phần giảm tỷ lệ nợ khoanh, giảm tỷ lệ nợ quá hạn. Bên cạnh đó, NHCSXH cũng tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị - xã hội, tăng cường công tác chỉ đạo, tập huấn nghiệp vụ cho các cán bộ tham gia công tác ủy thác, nhằm đảm bảo sự tham gia ổn định, tích cực của các tổ chức này vào các chương trình tín dụng chính sách xã hội, trong điều kiện năm 2017, các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức Đại hội các cấp, nên có nhiều sự thay đổi nhân sự, nhất là ở cấp cơ sở. Đây cũng là những giải pháp góp phần phát triển bền vững của NHCSXH trong giai đoạn hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Báo cáo NHCSXH Việt Nam.
- Một số nguồn khác.

(Tạp chí Ngân hàng số 20, tháng 10/2017)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Bài viết phân tích yêu cầu về khả năng thanh toán - điều kiện cốt lõi trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp (Emergency Liquidity Assistance - ELA) của ngân hàng trung ương (NHTW), thông qua việc so sánh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xử lý các cuộc khủng hoảng ngân hàng gần đây, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện khuôn khổ hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp tại Việt Nam theo hướng linh hoạt, dựa trên đánh giá triển vọng và tăng cường phối hợp chính sách giữa các cơ quan liên quan.
Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành ngày càng được áp dụng rộng rãi, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng lộ trình áp dụng IFRS phù hợp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhằm nâng cao minh bạch tài chính, năng lực quản trị và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ vai trò của các yếu tố công nghệ, tâm lý và tài chính cá nhân trong việc hình thành hành vi chấp nhận dịch vụ của khách hàng.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Xem thêm
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng