Ngân hàng trung ương và vàng: Phân tích và hàm ý

Thị trường tài chính
Vàng giữ vai trò rất quan trọng trong chiến lược tài chính của các ngân hàng trung ương toàn cầu. Những động thái gia tăng nắm giữ vàng không chỉ phản ánh sự thay đổi trong cách thức bảo vệ tài sản dự trữ mà còn cho thấy vai trò chiến lược của vàng trong việc đối phó với các biến động kinh tế - chính trị toàn cầu. Việc nắm giữ vàng có hàm ý lớn đối với các nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách, yêu cầu sự linh hoạt, thận trọng trong việc ra quyết định về tiền tệ cũng như quản lý tài sản dự trữ quốc gia.
aa

Tóm tắt: Bài viết này nhằm lý giải việc các ngân hàng trung ương (NHTW) trên thế giới gia tăng nắm giữ vàng (hành vi vàng) trong thời gian gần đây. Cơ sở dữ liệu cho phân tích là từ Hội đồng Vàng Thế giới, Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) và các nguồn hiện có khác. Nhận định rút ra từ bằng chứng thực tế rằng, vàng vẫn còn có ý nghĩa ổn định tiền tệ (khi nó tồn tại trong bảng cân đối kế toán của NHTW). Việc tăng nắm giữ vàng có thể là chính sách cân bằng lại với việc bơm tiền ồ ạt ra thị trường của các NHTW lớn trong bối cảnh suy thoái kinh tế và bất định toàn cầu. Nghiên cứu này hàm ý rằng, cần quan tâm hơn tới các hành vi tài chính liên quan đến vàng của NHTW qua biến động về tài sản do NHTW nắm giữ.

Từ khóa: NHTW, vàng, dự trữ ngoại hối.

CENTRAL BANK AND GOLD: ANALYSIS AND IMPLICATIONS

Abstract: This article seeks to explain the recent surge in gold holdings (gold behavior) by some central banks in the world. The analysis draws on data from the World Gold Council, World Bank (WB), the Bank for International Settlements (BIS) and other available sources. Evidence suggests that gold retains its role as a currency stabilizer, particularly when it appears on central banks’ balance sheets. The increase in gold reserves may serve as a counter balance to the massive money injections into markets by major central banks amid economic downturns and global uncertainty. The study implies a need for greater attention to central banks’ gold-related financial behaviors, as reflected in fluctuations in their asset holdings.

Keywords: Central banks, gold, national foreign exchange reserves.

1. Đặt vấn đề

Trước khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ, vàng có vai trò đối ứng với đồng tiền do NHTW phát hành. Sự đối ứng này có thể nhìn thấy qua dự trữ ngoại hối và tài sản của các NHTW. Kể từ khi hệ thống này tan rã, có những giai đoạn, vai trò của vàng dường như không đáng kể đối với NHTW một số nước, thậm chí năm 2008, một số NHTW lớn trên thế giới đã giảm tỉ trọng dự trữ vàng trong cơ cấu quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia. Tuy nhiên, một thực tế đáng chú ý là trong thập kỷ qua, các NHTW lại trở thành những chủ sở hữu vàng lớn nhất thế giới; NHTW đã nắm giữ khoảng 17% tổng lượng vàng từng được khai thác trong lịch sử tính tới cuối năm 2024 (Hội đồng Vàng Thế giới, 2025a). Tuy nhiên, tỉ lệ nắm giữ vàng trong cơ cấu dự trữ ngoại hối của các quốc gia lại rất khác nhau, dẫn đến sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng tới giá vàng quốc tế của các NHTW khi giao dịch với các mục đích khác nhau. Rõ ràng, “hành vi vàng” của các NHTW trên thế giới thời gian qua là cần được nghiên cứu để đưa ra hàm ý cho các bên có liên quan.

2. NHTW và vàng

2.1. NHTW có xu hướng gia tăng nắm giữ vàng

Trước năm 2008, nhiều NHTW phương Tây coi vàng là tài sản "lỗi thời" do không sinh lãi và ưu tiên trái phiếu chính phủ, dẫn đến việc bán ròng vàng. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã phơi bày rủi ro hệ thống của các tài sản tài chính truyền thống. Sự sụp đổ của Lehman Brothers và khủng hoảng thanh khoản toàn cầu khiến lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ (kỳ hạn 10 năm) giảm từ 4% (2007) xuống 2,25% (2009), làm giảm sức hấp dẫn của trái phiếu. Trong khi giá tài sản tài chính sụt giảm mạnh, giá vàng tăng 5,5% năm 2008 và tiếp tục tăng 24% năm 2009 (Reuters, 2023). Trong năm 2009, các NHTW và tổ chức như BIS, IMF... đã trở thành người mua ròng vàng, thay vì người bán (Leyland, 2010) như được thể hiện trong Biểu đồ 1.

Biểu đồ 1: Mua ròng vàng của NHTW giai đoạn 2002 - 2024

Nguồn: Số liệu tổng hợp từ Hội đồng Vàng Thế giới
Nguồn: Hội đồng Vàng Thế giới

Trong thời gian gần đây, các NHTW trên toàn cầu tiếp tục thể hiện xu hướng tăng cường mua vàng, đây là một động thái đáng chú ý nhằm bảo đảm sự ổn định tài sản dự trữ. Nhu cầu tăng không ngừng đối với việc dự trữ vàng của các NHTW đã đạt được một cột mốc quan trọng vào năm 2024. Sau khi bổ sung 712 tấn vàng trong ba quý đầu của năm 2024, các NHTW đã mua thêm 333 tấn vàng trong quý 4, đưa tổng mức mua ròng hằng năm lên 1.045 tấn. Như vậy, họ đã kéo dài chuỗi mua ròng lên 15 năm liên tiếp. Đáng chú ý, năm 2024 là năm thứ ba liên tiếp nhu cầu vượt qua mốc 1.000 tấn - vượt xa mức trung bình hằng năm là 473 tấn trong giai đoạn 2010 - 2021 và góp phần tăng hiệu suất hằng năm của vàng (Hội đồng Vàng Thế giới, 2025b).

Theo dữ liệu từ Hội đồng Vàng Thế giới, đến tháng 12/2024, các NHTW và tổ chức như BIS, IMF... đã tích lũy hơn 37.000 tấn vàng. Trong đó, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Azerbaijan và Ba Lan là những quốc gia dẫn đầu về tốc độ mua ròng vàng (Gopaul và Salim, 2025). Các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và BIS nắm giữ khoảng 8% lượng vàng chính thức của thế giới; phần còn lại được phân bổ giữa các quốc gia, với các nền kinh tế phát triển chiếm khoảng 2/3 và các thị trường mới nổi chiếm phần còn lại (Alimukhamedov, 2024). Mỹ và các thành viên Khu vực đồng Euro hiện đang là những chủ sở hữu vàng chính thức chiếm ưu thế, nắm giữ hơn 50% tổng dự trữ vàng. Các quốc gia như Liên bang Nga, Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ nắm giữ lượng vàng lớn nhất trong số các thị trường mới nổi. Điều này khẳng định vai trò quan trọng của vàng trong tài sản dự trữ quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu đầy biến động (Bảng 1).

Bảng 1: Dự trữ vàng chính thức trên thế giới tính tới cuối năm 2024

Nguồn: Số liệu tổng hợp từ Hội đồng vàng Thế giới
Nguồn: Số liệu tổng hợp từ Hội đồng Vàng Thế giới

Hội đồng Vàng Thế giới năm 2024 đã khảo sát trên tệp đối tượng là 70 NHTW, trong đó có 24 NHTW đến từ nền kinh tế phát triển (chiếm 34%), số còn lại tới từ những nước đang phát triển, bao quát trên tất cả khu vực trên thế giới cho thấy: Về tổng thể, năm 2024, các NHTW đánh giá triển vọng của vàng như một tài sản dự trữ trong 12 tháng tới tích cực hơn so với năm 2023, với 81% cho rằng lượng vàng dự trữ của các NHTW toàn cầu sẽ tăng trong 12 tháng tới (Trọng, N. V., Trung, N., 2024). Đồng thời, có tới 29% NHTW được khảo sát trả lời rằng, họ có ý định tiếp tục mua vàng trong 12 tháng tới. Cả hai phản hồi này đều đại diện cho mức độ tích cực cao nhất đối với vàng kể từ khi khảo sát bắt đầu được thực hiện vào năm 2019 (Hội đồng Vàng Thế giới, 2024). (Biểu đồ 2).

Biểu đồ 2: Kỳ vọng thay đổi lượng vàng nắm giữ của các trong 12 tháng tới

 (*Lựa chọn “Không biết” đã bị xóa khỏi tùy chọn từ cuộc khảo sát năm 2023 trở đi.) Nguồn: Hội đồng Vàng Thế giới

(*Lựa chọn “Không biết” đã bị xóa khỏi tùy chọn từ cuộc khảo sát năm 2023 trở đi)

Nguồn: Hội đồng Vàng Thế giới

Kết quả khảo sát cũng đã liệt kê các yếu tố chính giải thích cho quyết định tăng dự trữ vàng của các NHTW này. Trong năm 2024, yếu tố được đánh giá quan trọng nhất là: “Cân bằng lại phân bổ dự trữ đến mức chiến lược ưa thích”, theo sau là các yếu tố: “Mua thêm từ chương trình mua vàng trong nước”, “mua vàng để làm công cụ bảo vệ” và “giá vàng đang ở mức hợp lý”. Ngoài ra, các yếu tố mới nổi như rủi ro tài chính, chính trị gia tăng ở cả các nền kinh tế tiên tiến và mới nổi cũng đang thúc đẩy quyết định tăng cường dự trữ vàng. Đến năm 2025, khi giá vàng liên tiếp đạt các đỉnh cao mới, nhiều quốc gia vẫn có xu hướng tích trữ thêm vàng. Tuy nhiên việc mua thêm này chủ yếu vẫn diễn ra nhiều ở các quốc gia có tỉ lệ dự trữ vàng trong cơ cấu quỹ dự trữ ngoại hối thấp như Trung Quốc (khoảng 5,5%), Nhật Bản (5,8%), Ấn Độ (11,4%), Hàn Quốc (2,1%)… Các quốc gia như Mỹ (74,9%), Đức (74,3%), Italia (70,7%)… vẫn duy trì cơ cấu ổn định như trước. Thậm chí, trong năm 2024, ba quốc gia Ba Lan, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ mua nhiều nhất, với 1.045 tấn vàng (Hội đồng Vàng Thế giới, 2025b).

2.2. Phân tích lý do NHTW tăng cường nắm giữ vàng hiện nay

“Hành vi vàng” của NHTW được hàm ý về động cơ khiến NHTW nắm giữ vàng. Trong hơn một thập kỷ qua, các NHTW liên tục tăng cường nắm giữ vàng. Dựa trên đặc tính của tài sản vàng, gắn với chức năng của NHTW và bối cảnh thực tế, có 5 nguyên nhân ảnh hưởng nhiều nhất tới quyết định nắm giữ vàng của các NHTW:

Thứ nhất, lưu giữ giá trị dài hạn/phòng ngừa lạm phát.

Từ hành vi của các NHTW cho thấy, vàng được coi là một công cụ bảo vệ giá trị tiền tệ quốc gia, giảm thiểu sự biến động của tỉ giá và sự mất giá của đồng tiền trong bối cảnh lạm phát. NHTW đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định kinh tế và tài chính của quốc gia. Đặc biệt, trong các giai đoạn khủng hoảng tài chính, vàng giúp ngăn chặn sự mất giá của đồng tiền mạnh như USD, như trường hợp của Thổ Nhĩ Kỳ, khi họ đã mua ròng 75 tấn vàng vào năm 2024 (Hội đồng Vàng Thế giới, 2025b) để ổn định đồng Lira sau khi lạm phát vượt quá 50%.

Thứ hai, vàng là tài sản an toàn trong các thời kỳ khủng hoảng.

Ổn định giá trị của vàng không phải là trách nhiệm của bất kỳ ai; không giống như bất kỳ loại tiền tệ nào, giá trị của nó không phụ thuộc vào chính sách kinh tế của bất kỳ quốc gia nào; vàng thường được coi là nơi trú ẩn an toàn của các hoạt động tài chính, có thể được coi là biện pháp phòng thủ chống lại những tình huống bất trắc (Leyland, 2010).

Trong nửa đầu năm 2007, trước khi cuộc khủng hoảng nổ ra, nền kinh tế thế giới phát triển ổn định trong thời gian dài, nhiều NHTW vẫn duy trì cơ cấu vàng tương đối nhỏ trong quỹ dự trữ ngoại hối, giá của nó trung bình là 658 USD/Ounce. Trong 6 tháng cuối năm 2009, giá vàng trung bình là 1.029 USD/Ounce, tăng 56%. Theo giá Euro, vàng đã tăng 42% trong cùng kỳ. Hay khi có các cuộc khủng hoảng địa chính trị như căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc, xung đột Nga - Ukraine, vàng luôn là "nơi trú ẩn an toàn" đối với các NHTW. Vàng trở thành công cụ bảo vệ tài sản trong bối cảnh các thị trường tài chính - tiền tệ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các yếu tố địa chính trị và kinh tế vĩ mô. Trước những căng thẳng kể trên, cùng với cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, các NHTW tăng dự trữ vàng lên mức kỷ lục 1.051 tấn (2023) và 1.045 tấn (2024).

Thứ ba, đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm phụ thuộc vào USD.

Việc đưa vàng vào danh mục đầu tư tiền tệ thường giúp đa dạng hóa lợi nhuận từ vàng. Trên thực tế, giá trị của vàng được xác định bởi cung và cầu trên thị trường vàng thế giới, trong khi tiền tệ và chứng khoán chính phủ phụ thuộc vào sự cam kết của chính phủ cũng như sự thay đổi trong chính sách tiền tệ của các NHTW (Leyland, 2010). Do đó, giá vàng hoạt động theo cách hoàn toàn khác so với giá tiền tệ hoặc tỉ giá hối đoái giữa các loại tiền tệ.

Với mục tiêu giảm sự phụ thuộc vào đồng USD và đa dạng hóa danh mục dự trữ ngoại hối, các quốc gia như Trung Quốc và Nga đã tăng cường tích lũy vàng. Ví dụ, Trung Quốc đã mua 44 tấn vàng trong năm 2024, nâng dự trữ lên 2.280 tấn, chiếm 5,5% tổng dự trữ ngoại hối, mức cao kỷ lục (Jia, 2024), với mục tiêu giảm tỉ trọng USD trong dự trữ và chuẩn bị cho khả năng định giá lại đồng Nhân dân tệ bằng vàng. Nga cũng tăng mua vàng sau các lệnh trừng phạt từ phương Tây.

Thứ tư, không có rủi ro vỡ nợ.

Vàng là một tài sản hữu hình, không phải là một khoản nợ hay công cụ tài chính phát sinh nghĩa vụ trả nợ. Khác với tài sản tài chính như trái phiếu chính phủ có thể bị vỡ nợ hoặc mất giá trị do các yếu tố như lạm phát, khủng hoảng tài chính, vàng không phụ thuộc vào khả năng thanh toán của một quốc gia hay tổ chức nào. Vì vậy, việc nắm giữ vàng giúp các NHTW đa dạng hóa dự trữ và bảo vệ giá trị tài sản của mình trước những biến động kinh tế và tài chính.

Ngoài ra, sự hạn chế về lựa chọn đầu tư khiến NHTW phụ thuộc vào trái phiếu của các nền kinh tế phát triển, tạo ra sự mất cân đối trong các khoản đầu tư của họ. Tuy nhiên, lợi suất thực của những trái phiếu chính phủ này vẫn rất thấp, thậm chí là âm. Điều này cũng đồng nghĩa với việc các NHTW có nguy cơ chịu thiệt hại lớn trong trường hợp các nền kinh tế phát triển không thể trả nợ được (Vũ, 2023), ví dụ như cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu bắt đầu từ nửa sau năm 2009.

Thứ năm, vị thế trong lịch sử của vàng.

Trong những năm qua, các NHTW coi vị thế lịch sử của vàng là lý do chính để mua vàng. Người dân thường mong muốn quốc gia của họ dự trữ lượng vàng lớn do lịch sử lâu đời cũng như sự hiện diện vật lý và danh tiếng của nó (Leyland, 2010). Từ xa xưa, người dân thuộc mọi nền văn hóa đều coi trọng vàng và những nhà cai trị tích trữ nó để củng cố vị thế, quyền lực kinh tế của họ. Ngoài vai trò là tiền, vàng còn là một mặt hàng tương đối khan hiếm (ví dụ như so với đồng hoặc sắt). Việc vàng được sử dụng trong nhiều thế kỷ làm thước đo giá trị đã mang lại cho nó một vị trí lịch sử vững chắc (Trọng và Trung, 2024). Do đó, sự tồn tại của dự trữ vàng có thể làm tăng niềm tin của công chúng vào NHTW.

3. Hàm ý cho các bên liên quan

Từ những phân tích trên, nhóm tác giả đề xuất một số hàm ý cho các bên liên quan như sau:

Đối với các NHTW: Từ việc phân tích hành vi vàng của NHTW, có thể thấy NHTW liên tục tăng cường dự trữ vàng và duy trì một lượng lớn vàng trong tài sản dự trữ có một số hàm ý quan trọng cho các nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách như sau: Thứ nhất, NHTW đã và đang tác động khá mạnh đến cung - cầu vàng thế giới trong thời gian qua, qua đó tác động đến giá vàng thế giới trong tương lai. Thứ hai, quan điểm của NHTW về vàng vẫn là khó đoán định. Thứ ba, vàng vẫn có vai trò nhất định với NHTW và nhà đầu tư trong thời gian qua, hiện nay cũng như tương lai gần.

Đối với các nhà đầu tư: Nên có quan điểm phù hợp về sự quan trọng của vàng trong danh mục đầu tư, đặc biệt khi nền kinh tế toàn cầu phải đối mặt với các yếu tố bất ổn như lạm phát cao, sự suy giảm của các đồng tiền mạnh và các khủng hoảng tài chính. Vàng có thể đóng vai trò như một công cụ bảo vệ giá trị tài sản, tránh bị ảnh hưởng bởi sự biến động của các tài sản tài chính truyền thống.

Đối với nhà hoạch định chính sách tiền tệ: Nên quan tâm đến xu hướng gia tăng tích lũy vàng của các NHTW và coi đó là các tín hiệu cho các biện pháp bảo vệ giá trị tiền tệ quốc gia. Việc duy trì ổn định tỉ giá, kiểm soát lạm phát là yếu tố quan trọng để ngăn chặn sự mất giá của đồng tiền và bảo vệ nền kinh tế khỏi các cú sốc tài chính. Việc hiểu rõ tầm quan trọng của vàng trong hệ thống tài chính quốc gia giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra các quyết định phù hợp trong bối cảnh biến động toàn cầu.

4. Kết luận

Vàng giữ vai trò rất quan trọng trong chiến lược tài chính của các NHTW toàn cầu. Những động thái gia tăng nắm giữ vàng không chỉ phản ánh sự thay đổi trong cách thức bảo vệ tài sản dự trữ mà còn cho thấy vai trò chiến lược của vàng trong việc đối phó với các biến động kinh tế - chính trị toàn cầu. Việc nắm giữ vàng của NHTW có hàm ý lớn đối với các nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách, yêu cầu sự linh hoạt, thận trọng trong việc ra quyết định về tiền tệ cũng như quản lý tài sản dự trữ quốc gia.

Tài liệu tham khảo

1. Alimukhamedov, K. (2024). Gold investing handbook for asset managers. https://documents1.worldbank.org/curated/en/099610302282427760/pdf/IDU136aee178198b114722197d515b4a9f9ef84a.pdf

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (2009). Công bố "Báo cáo Kinh tế Việt Nam 2008". https://ciem.org.vn/tin-tuc/3654/cong-bo-bao-cao-kinh-te-viet-nam-2008

3. Goldman Sachs. (2024a). Gold predicted to climb higher than expected as records shatter. Goldman Sachs. https://www.goldmansachs.com/insights/articles/gold-predicted-to-climb-higher-than-expected-as-records-shatter

4. Goldman Sachs. (2024b). Gold prices forecast to climb to record high. Retrieved 17/02/2025 from https://www.goldmansachs.com/insights/articles/gold-prices-forecast-to-climb-to-record-high

5. Gopaul, K., & Salim, M. (2025). Central bank gold statistics December 2024. https://www.gold.org

6. Jia, R. (2024). China's gold market update - Seasonal strength in December 2024. https://www.gold.org

7. Leyland, J. (2010). The evolution in cenTral bank attitudes toward gold. https://www.gold.org/goldhub/research/evolution-central-bank-attitudes-toward-gold

8. Reuters. (2023). Central banks bought the most gold on record last year, WGC says. Retrieved 17/02/2025 from https://www.reuters.com/markets/commodities/central-banks-bought-most-gold-since-1967-last-year-wgc-says-2023-01-31/

9. Shan, L. Y. (2025). Several commodities face headwinds in 2025 - but this metal’s record rally is set to continue. CNBC. Retrieved 17/02/2025 from https://www.cnbc.com/2025/01/06/gold-copper-oil-price-outlook-2025.html

10. Trọng, N. V., & Trung, N. (2024). Tại sao các NHTW mua vàng? https://tapchinganhang.gov.vn/tai-sao-cac-ngan-hang-trung-uong-mua-vang-11627.html

11. Vũ, Đ. (2023). Vì sao các NHTW mua vàng? https://vneconomy.vn/vi-sao-cac-ngan-hang-trung-uong-mua-vang.htm?utm_source=chatgpt.com

12. Hội đồng Vàng Thế giới. (2024). Central Bank Gold Reserves Survey https://www.gold.org

13. Hội đồng Vàng Thế giới. (2025a). Above-ground stock. https://www.gold.org/goldhub/data/how-much-gold

14. Hội đồng Vàng Thế giới. (2025b). Gold Demand Trends: Q4 and Full Year 2024. https://www.gold.org

GVCC. TS. Nguyễn Tường Vân; NCS. Lê Văn Hinh
Học viện Ngân hàng

Tin bài khác

Phát triển thị trường công cụ phái sinh: Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và đề xuất cho Việt Nam

Phát triển thị trường công cụ phái sinh: Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và đề xuất cho Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế ngày càng sâu rộng, thị trường công cụ phái sinh đang từng bước khẳng định vai trò then chốt trong việc quản trị rủi ro, đồng thời nâng cao hiệu quả phân bổ dòng vốn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững.
Huy động nguồn lực tư nhân cho đầu tư xanh: Thực tiễn triển khai và hàm ý chính sách

Huy động nguồn lực tư nhân cho đầu tư xanh: Thực tiễn triển khai và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích khung pháp lý, thực trạng các kênh huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khó khăn, thách thức và đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường thu hút nguồn lực tư nhân phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh.
Kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: Vai trò dẫn dắt của ngành Ngân hàng

Kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: Vai trò dẫn dắt của ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ nhu cầu vốn rất lớn của khu vực kinh tế tư nhân giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời phân tích vai trò trung tâm của hệ thống ngân hàng, dưới sự điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong dẫn vốn, ổn định vĩ mô và đồng hành chiến lược với phát triển bền vững của kinh tế tư nhân.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Thị trường tài chính toàn cầu: Một số thách thức và triển vọng

Thị trường tài chính toàn cầu: Một số thách thức và triển vọng

Bài viết phân tích những thách thức lớn của thị trường tài chính toàn cầu năm 2025, từ gánh nặng nợ công gia tăng, khủng hoảng bất động sản tại các nền kinh tế chủ chốt đến rủi ro địa chính trị và an ninh tài chính, đồng thời đánh giá triển vọng và hàm ý chính sách trong bối cảnh mới.
Phân mảnh kinh tế toàn cầu: Hàm ý đối với Việt Nam khi hướng đến thịnh vượng và Net-Zero

Phân mảnh kinh tế toàn cầu: Hàm ý đối với Việt Nam khi hướng đến thịnh vượng và Net-Zero

Bài viết phân tích tác động của phân mảnh kinh tế toàn cầu đối với Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu nâng cấp ngoại thương theo hướng xanh và bền vững, hiện đại hóa hệ thống ngân hàng như hạ tầng chiến lược và đặt phát triển con người ở vị trí lõi để vừa củng cố năng lực cạnh tranh, vừa hiện thực hóa mục tiêu Net-Zero vào năm 2050.
Dấu ấn thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2025 và giải pháp trọng tâm năm 2026

Dấu ấn thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2025 và giải pháp trọng tâm năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2025 với dấu ấn phục hồi mạnh mẽ, cải thiện chất lượng thể chế và bước tiến nâng hạng, đồng thời phân tích bối cảnh, cơ hội, thách thức và các giải pháp trọng tâm nhằm hướng tới giai đoạn phát triển minh bạch, bền vững và hội nhập sâu hơn trong năm 2026.
Phát huy vai trò của kinh tế nhà nước trong ổn định và tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Phát huy vai trò của kinh tế nhà nước trong ổn định và tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Bài viết phân tích vị trí, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong ổn định vĩ mô và dẫn dắt tăng trưởng, kiến tạo không gian phát triển cũng như thúc đẩy các động lực mới của nền kinh tế Việt Nam.
Xem thêm
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành