Ngân hàng trung ương và vàng: Phân tích và hàm ý

Thị trường tài chính
Vàng giữ vai trò rất quan trọng trong chiến lược tài chính của các ngân hàng trung ương toàn cầu. Những động thái gia tăng nắm giữ vàng không chỉ phản ánh sự thay đổi trong cách thức bảo vệ tài sản dự trữ mà còn cho thấy vai trò chiến lược của vàng trong việc đối phó với các biến động kinh tế - chính trị toàn cầu. Việc nắm giữ vàng có hàm ý lớn đối với các nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách, yêu cầu sự linh hoạt, thận trọng trong việc ra quyết định về tiền tệ cũng như quản lý tài sản dự trữ quốc gia.
aa

Tóm tắt: Bài viết này nhằm lý giải việc các ngân hàng trung ương (NHTW) trên thế giới gia tăng nắm giữ vàng (hành vi vàng) trong thời gian gần đây. Cơ sở dữ liệu cho phân tích là từ Hội đồng Vàng Thế giới, Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) và các nguồn hiện có khác. Nhận định rút ra từ bằng chứng thực tế rằng, vàng vẫn còn có ý nghĩa ổn định tiền tệ (khi nó tồn tại trong bảng cân đối kế toán của NHTW). Việc tăng nắm giữ vàng có thể là chính sách cân bằng lại với việc bơm tiền ồ ạt ra thị trường của các NHTW lớn trong bối cảnh suy thoái kinh tế và bất định toàn cầu. Nghiên cứu này hàm ý rằng, cần quan tâm hơn tới các hành vi tài chính liên quan đến vàng của NHTW qua biến động về tài sản do NHTW nắm giữ.

Từ khóa: NHTW, vàng, dự trữ ngoại hối.

CENTRAL BANK AND GOLD: ANALYSIS AND IMPLICATIONS

Abstract: This article seeks to explain the recent surge in gold holdings (gold behavior) by some central banks in the world. The analysis draws on data from the World Gold Council, World Bank (WB), the Bank for International Settlements (BIS) and other available sources. Evidence suggests that gold retains its role as a currency stabilizer, particularly when it appears on central banks’ balance sheets. The increase in gold reserves may serve as a counter balance to the massive money injections into markets by major central banks amid economic downturns and global uncertainty. The study implies a need for greater attention to central banks’ gold-related financial behaviors, as reflected in fluctuations in their asset holdings.

Keywords: Central banks, gold, national foreign exchange reserves.

1. Đặt vấn đề

Trước khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ, vàng có vai trò đối ứng với đồng tiền do NHTW phát hành. Sự đối ứng này có thể nhìn thấy qua dự trữ ngoại hối và tài sản của các NHTW. Kể từ khi hệ thống này tan rã, có những giai đoạn, vai trò của vàng dường như không đáng kể đối với NHTW một số nước, thậm chí năm 2008, một số NHTW lớn trên thế giới đã giảm tỉ trọng dự trữ vàng trong cơ cấu quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia. Tuy nhiên, một thực tế đáng chú ý là trong thập kỷ qua, các NHTW lại trở thành những chủ sở hữu vàng lớn nhất thế giới; NHTW đã nắm giữ khoảng 17% tổng lượng vàng từng được khai thác trong lịch sử tính tới cuối năm 2024 (Hội đồng Vàng Thế giới, 2025a). Tuy nhiên, tỉ lệ nắm giữ vàng trong cơ cấu dự trữ ngoại hối của các quốc gia lại rất khác nhau, dẫn đến sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng tới giá vàng quốc tế của các NHTW khi giao dịch với các mục đích khác nhau. Rõ ràng, “hành vi vàng” của các NHTW trên thế giới thời gian qua là cần được nghiên cứu để đưa ra hàm ý cho các bên có liên quan.

2. NHTW và vàng

2.1. NHTW có xu hướng gia tăng nắm giữ vàng

Trước năm 2008, nhiều NHTW phương Tây coi vàng là tài sản "lỗi thời" do không sinh lãi và ưu tiên trái phiếu chính phủ, dẫn đến việc bán ròng vàng. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã phơi bày rủi ro hệ thống của các tài sản tài chính truyền thống. Sự sụp đổ của Lehman Brothers và khủng hoảng thanh khoản toàn cầu khiến lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ (kỳ hạn 10 năm) giảm từ 4% (2007) xuống 2,25% (2009), làm giảm sức hấp dẫn của trái phiếu. Trong khi giá tài sản tài chính sụt giảm mạnh, giá vàng tăng 5,5% năm 2008 và tiếp tục tăng 24% năm 2009 (Reuters, 2023). Trong năm 2009, các NHTW và tổ chức như BIS, IMF... đã trở thành người mua ròng vàng, thay vì người bán (Leyland, 2010) như được thể hiện trong Biểu đồ 1.

Biểu đồ 1: Mua ròng vàng của NHTW giai đoạn 2002 - 2024

Nguồn: Số liệu tổng hợp từ Hội đồng Vàng Thế giới
Nguồn: Hội đồng Vàng Thế giới

Trong thời gian gần đây, các NHTW trên toàn cầu tiếp tục thể hiện xu hướng tăng cường mua vàng, đây là một động thái đáng chú ý nhằm bảo đảm sự ổn định tài sản dự trữ. Nhu cầu tăng không ngừng đối với việc dự trữ vàng của các NHTW đã đạt được một cột mốc quan trọng vào năm 2024. Sau khi bổ sung 712 tấn vàng trong ba quý đầu của năm 2024, các NHTW đã mua thêm 333 tấn vàng trong quý 4, đưa tổng mức mua ròng hằng năm lên 1.045 tấn. Như vậy, họ đã kéo dài chuỗi mua ròng lên 15 năm liên tiếp. Đáng chú ý, năm 2024 là năm thứ ba liên tiếp nhu cầu vượt qua mốc 1.000 tấn - vượt xa mức trung bình hằng năm là 473 tấn trong giai đoạn 2010 - 2021 và góp phần tăng hiệu suất hằng năm của vàng (Hội đồng Vàng Thế giới, 2025b).

Theo dữ liệu từ Hội đồng Vàng Thế giới, đến tháng 12/2024, các NHTW và tổ chức như BIS, IMF... đã tích lũy hơn 37.000 tấn vàng. Trong đó, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Azerbaijan và Ba Lan là những quốc gia dẫn đầu về tốc độ mua ròng vàng (Gopaul và Salim, 2025). Các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và BIS nắm giữ khoảng 8% lượng vàng chính thức của thế giới; phần còn lại được phân bổ giữa các quốc gia, với các nền kinh tế phát triển chiếm khoảng 2/3 và các thị trường mới nổi chiếm phần còn lại (Alimukhamedov, 2024). Mỹ và các thành viên Khu vực đồng Euro hiện đang là những chủ sở hữu vàng chính thức chiếm ưu thế, nắm giữ hơn 50% tổng dự trữ vàng. Các quốc gia như Liên bang Nga, Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ nắm giữ lượng vàng lớn nhất trong số các thị trường mới nổi. Điều này khẳng định vai trò quan trọng của vàng trong tài sản dự trữ quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu đầy biến động (Bảng 1).

Bảng 1: Dự trữ vàng chính thức trên thế giới tính tới cuối năm 2024

Nguồn: Số liệu tổng hợp từ Hội đồng vàng Thế giới
Nguồn: Số liệu tổng hợp từ Hội đồng Vàng Thế giới

Hội đồng Vàng Thế giới năm 2024 đã khảo sát trên tệp đối tượng là 70 NHTW, trong đó có 24 NHTW đến từ nền kinh tế phát triển (chiếm 34%), số còn lại tới từ những nước đang phát triển, bao quát trên tất cả khu vực trên thế giới cho thấy: Về tổng thể, năm 2024, các NHTW đánh giá triển vọng của vàng như một tài sản dự trữ trong 12 tháng tới tích cực hơn so với năm 2023, với 81% cho rằng lượng vàng dự trữ của các NHTW toàn cầu sẽ tăng trong 12 tháng tới (Trọng, N. V., Trung, N., 2024). Đồng thời, có tới 29% NHTW được khảo sát trả lời rằng, họ có ý định tiếp tục mua vàng trong 12 tháng tới. Cả hai phản hồi này đều đại diện cho mức độ tích cực cao nhất đối với vàng kể từ khi khảo sát bắt đầu được thực hiện vào năm 2019 (Hội đồng Vàng Thế giới, 2024). (Biểu đồ 2).

Biểu đồ 2: Kỳ vọng thay đổi lượng vàng nắm giữ của các trong 12 tháng tới

 (*Lựa chọn “Không biết” đã bị xóa khỏi tùy chọn từ cuộc khảo sát năm 2023 trở đi.) Nguồn: Hội đồng Vàng Thế giới

(*Lựa chọn “Không biết” đã bị xóa khỏi tùy chọn từ cuộc khảo sát năm 2023 trở đi)

Nguồn: Hội đồng Vàng Thế giới

Kết quả khảo sát cũng đã liệt kê các yếu tố chính giải thích cho quyết định tăng dự trữ vàng của các NHTW này. Trong năm 2024, yếu tố được đánh giá quan trọng nhất là: “Cân bằng lại phân bổ dự trữ đến mức chiến lược ưa thích”, theo sau là các yếu tố: “Mua thêm từ chương trình mua vàng trong nước”, “mua vàng để làm công cụ bảo vệ” và “giá vàng đang ở mức hợp lý”. Ngoài ra, các yếu tố mới nổi như rủi ro tài chính, chính trị gia tăng ở cả các nền kinh tế tiên tiến và mới nổi cũng đang thúc đẩy quyết định tăng cường dự trữ vàng. Đến năm 2025, khi giá vàng liên tiếp đạt các đỉnh cao mới, nhiều quốc gia vẫn có xu hướng tích trữ thêm vàng. Tuy nhiên việc mua thêm này chủ yếu vẫn diễn ra nhiều ở các quốc gia có tỉ lệ dự trữ vàng trong cơ cấu quỹ dự trữ ngoại hối thấp như Trung Quốc (khoảng 5,5%), Nhật Bản (5,8%), Ấn Độ (11,4%), Hàn Quốc (2,1%)… Các quốc gia như Mỹ (74,9%), Đức (74,3%), Italia (70,7%)… vẫn duy trì cơ cấu ổn định như trước. Thậm chí, trong năm 2024, ba quốc gia Ba Lan, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ mua nhiều nhất, với 1.045 tấn vàng (Hội đồng Vàng Thế giới, 2025b).

2.2. Phân tích lý do NHTW tăng cường nắm giữ vàng hiện nay

“Hành vi vàng” của NHTW được hàm ý về động cơ khiến NHTW nắm giữ vàng. Trong hơn một thập kỷ qua, các NHTW liên tục tăng cường nắm giữ vàng. Dựa trên đặc tính của tài sản vàng, gắn với chức năng của NHTW và bối cảnh thực tế, có 5 nguyên nhân ảnh hưởng nhiều nhất tới quyết định nắm giữ vàng của các NHTW:

Thứ nhất, lưu giữ giá trị dài hạn/phòng ngừa lạm phát.

Từ hành vi của các NHTW cho thấy, vàng được coi là một công cụ bảo vệ giá trị tiền tệ quốc gia, giảm thiểu sự biến động của tỉ giá và sự mất giá của đồng tiền trong bối cảnh lạm phát. NHTW đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định kinh tế và tài chính của quốc gia. Đặc biệt, trong các giai đoạn khủng hoảng tài chính, vàng giúp ngăn chặn sự mất giá của đồng tiền mạnh như USD, như trường hợp của Thổ Nhĩ Kỳ, khi họ đã mua ròng 75 tấn vàng vào năm 2024 (Hội đồng Vàng Thế giới, 2025b) để ổn định đồng Lira sau khi lạm phát vượt quá 50%.

Thứ hai, vàng là tài sản an toàn trong các thời kỳ khủng hoảng.

Ổn định giá trị của vàng không phải là trách nhiệm của bất kỳ ai; không giống như bất kỳ loại tiền tệ nào, giá trị của nó không phụ thuộc vào chính sách kinh tế của bất kỳ quốc gia nào; vàng thường được coi là nơi trú ẩn an toàn của các hoạt động tài chính, có thể được coi là biện pháp phòng thủ chống lại những tình huống bất trắc (Leyland, 2010).

Trong nửa đầu năm 2007, trước khi cuộc khủng hoảng nổ ra, nền kinh tế thế giới phát triển ổn định trong thời gian dài, nhiều NHTW vẫn duy trì cơ cấu vàng tương đối nhỏ trong quỹ dự trữ ngoại hối, giá của nó trung bình là 658 USD/Ounce. Trong 6 tháng cuối năm 2009, giá vàng trung bình là 1.029 USD/Ounce, tăng 56%. Theo giá Euro, vàng đã tăng 42% trong cùng kỳ. Hay khi có các cuộc khủng hoảng địa chính trị như căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc, xung đột Nga - Ukraine, vàng luôn là "nơi trú ẩn an toàn" đối với các NHTW. Vàng trở thành công cụ bảo vệ tài sản trong bối cảnh các thị trường tài chính - tiền tệ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các yếu tố địa chính trị và kinh tế vĩ mô. Trước những căng thẳng kể trên, cùng với cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, các NHTW tăng dự trữ vàng lên mức kỷ lục 1.051 tấn (2023) và 1.045 tấn (2024).

Thứ ba, đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm phụ thuộc vào USD.

Việc đưa vàng vào danh mục đầu tư tiền tệ thường giúp đa dạng hóa lợi nhuận từ vàng. Trên thực tế, giá trị của vàng được xác định bởi cung và cầu trên thị trường vàng thế giới, trong khi tiền tệ và chứng khoán chính phủ phụ thuộc vào sự cam kết của chính phủ cũng như sự thay đổi trong chính sách tiền tệ của các NHTW (Leyland, 2010). Do đó, giá vàng hoạt động theo cách hoàn toàn khác so với giá tiền tệ hoặc tỉ giá hối đoái giữa các loại tiền tệ.

Với mục tiêu giảm sự phụ thuộc vào đồng USD và đa dạng hóa danh mục dự trữ ngoại hối, các quốc gia như Trung Quốc và Nga đã tăng cường tích lũy vàng. Ví dụ, Trung Quốc đã mua 44 tấn vàng trong năm 2024, nâng dự trữ lên 2.280 tấn, chiếm 5,5% tổng dự trữ ngoại hối, mức cao kỷ lục (Jia, 2024), với mục tiêu giảm tỉ trọng USD trong dự trữ và chuẩn bị cho khả năng định giá lại đồng Nhân dân tệ bằng vàng. Nga cũng tăng mua vàng sau các lệnh trừng phạt từ phương Tây.

Thứ tư, không có rủi ro vỡ nợ.

Vàng là một tài sản hữu hình, không phải là một khoản nợ hay công cụ tài chính phát sinh nghĩa vụ trả nợ. Khác với tài sản tài chính như trái phiếu chính phủ có thể bị vỡ nợ hoặc mất giá trị do các yếu tố như lạm phát, khủng hoảng tài chính, vàng không phụ thuộc vào khả năng thanh toán của một quốc gia hay tổ chức nào. Vì vậy, việc nắm giữ vàng giúp các NHTW đa dạng hóa dự trữ và bảo vệ giá trị tài sản của mình trước những biến động kinh tế và tài chính.

Ngoài ra, sự hạn chế về lựa chọn đầu tư khiến NHTW phụ thuộc vào trái phiếu của các nền kinh tế phát triển, tạo ra sự mất cân đối trong các khoản đầu tư của họ. Tuy nhiên, lợi suất thực của những trái phiếu chính phủ này vẫn rất thấp, thậm chí là âm. Điều này cũng đồng nghĩa với việc các NHTW có nguy cơ chịu thiệt hại lớn trong trường hợp các nền kinh tế phát triển không thể trả nợ được (Vũ, 2023), ví dụ như cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu bắt đầu từ nửa sau năm 2009.

Thứ năm, vị thế trong lịch sử của vàng.

Trong những năm qua, các NHTW coi vị thế lịch sử của vàng là lý do chính để mua vàng. Người dân thường mong muốn quốc gia của họ dự trữ lượng vàng lớn do lịch sử lâu đời cũng như sự hiện diện vật lý và danh tiếng của nó (Leyland, 2010). Từ xa xưa, người dân thuộc mọi nền văn hóa đều coi trọng vàng và những nhà cai trị tích trữ nó để củng cố vị thế, quyền lực kinh tế của họ. Ngoài vai trò là tiền, vàng còn là một mặt hàng tương đối khan hiếm (ví dụ như so với đồng hoặc sắt). Việc vàng được sử dụng trong nhiều thế kỷ làm thước đo giá trị đã mang lại cho nó một vị trí lịch sử vững chắc (Trọng và Trung, 2024). Do đó, sự tồn tại của dự trữ vàng có thể làm tăng niềm tin của công chúng vào NHTW.

3. Hàm ý cho các bên liên quan

Từ những phân tích trên, nhóm tác giả đề xuất một số hàm ý cho các bên liên quan như sau:

Đối với các NHTW: Từ việc phân tích hành vi vàng của NHTW, có thể thấy NHTW liên tục tăng cường dự trữ vàng và duy trì một lượng lớn vàng trong tài sản dự trữ có một số hàm ý quan trọng cho các nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách như sau: Thứ nhất, NHTW đã và đang tác động khá mạnh đến cung - cầu vàng thế giới trong thời gian qua, qua đó tác động đến giá vàng thế giới trong tương lai. Thứ hai, quan điểm của NHTW về vàng vẫn là khó đoán định. Thứ ba, vàng vẫn có vai trò nhất định với NHTW và nhà đầu tư trong thời gian qua, hiện nay cũng như tương lai gần.

Đối với các nhà đầu tư: Nên có quan điểm phù hợp về sự quan trọng của vàng trong danh mục đầu tư, đặc biệt khi nền kinh tế toàn cầu phải đối mặt với các yếu tố bất ổn như lạm phát cao, sự suy giảm của các đồng tiền mạnh và các khủng hoảng tài chính. Vàng có thể đóng vai trò như một công cụ bảo vệ giá trị tài sản, tránh bị ảnh hưởng bởi sự biến động của các tài sản tài chính truyền thống.

Đối với nhà hoạch định chính sách tiền tệ: Nên quan tâm đến xu hướng gia tăng tích lũy vàng của các NHTW và coi đó là các tín hiệu cho các biện pháp bảo vệ giá trị tiền tệ quốc gia. Việc duy trì ổn định tỉ giá, kiểm soát lạm phát là yếu tố quan trọng để ngăn chặn sự mất giá của đồng tiền và bảo vệ nền kinh tế khỏi các cú sốc tài chính. Việc hiểu rõ tầm quan trọng của vàng trong hệ thống tài chính quốc gia giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra các quyết định phù hợp trong bối cảnh biến động toàn cầu.

4. Kết luận

Vàng giữ vai trò rất quan trọng trong chiến lược tài chính của các NHTW toàn cầu. Những động thái gia tăng nắm giữ vàng không chỉ phản ánh sự thay đổi trong cách thức bảo vệ tài sản dự trữ mà còn cho thấy vai trò chiến lược của vàng trong việc đối phó với các biến động kinh tế - chính trị toàn cầu. Việc nắm giữ vàng của NHTW có hàm ý lớn đối với các nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách, yêu cầu sự linh hoạt, thận trọng trong việc ra quyết định về tiền tệ cũng như quản lý tài sản dự trữ quốc gia.

Tài liệu tham khảo

1. Alimukhamedov, K. (2024). Gold investing handbook for asset managers. https://documents1.worldbank.org/curated/en/099610302282427760/pdf/IDU136aee178198b114722197d515b4a9f9ef84a.pdf

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (2009). Công bố "Báo cáo Kinh tế Việt Nam 2008". https://ciem.org.vn/tin-tuc/3654/cong-bo-bao-cao-kinh-te-viet-nam-2008

3. Goldman Sachs. (2024a). Gold predicted to climb higher than expected as records shatter. Goldman Sachs. https://www.goldmansachs.com/insights/articles/gold-predicted-to-climb-higher-than-expected-as-records-shatter

4. Goldman Sachs. (2024b). Gold prices forecast to climb to record high. Retrieved 17/02/2025 from https://www.goldmansachs.com/insights/articles/gold-prices-forecast-to-climb-to-record-high

5. Gopaul, K., & Salim, M. (2025). Central bank gold statistics December 2024. https://www.gold.org

6. Jia, R. (2024). China's gold market update - Seasonal strength in December 2024. https://www.gold.org

7. Leyland, J. (2010). The evolution in cenTral bank attitudes toward gold. https://www.gold.org/goldhub/research/evolution-central-bank-attitudes-toward-gold

8. Reuters. (2023). Central banks bought the most gold on record last year, WGC says. Retrieved 17/02/2025 from https://www.reuters.com/markets/commodities/central-banks-bought-most-gold-since-1967-last-year-wgc-says-2023-01-31/

9. Shan, L. Y. (2025). Several commodities face headwinds in 2025 - but this metal’s record rally is set to continue. CNBC. Retrieved 17/02/2025 from https://www.cnbc.com/2025/01/06/gold-copper-oil-price-outlook-2025.html

10. Trọng, N. V., & Trung, N. (2024). Tại sao các NHTW mua vàng? https://tapchinganhang.gov.vn/tai-sao-cac-ngan-hang-trung-uong-mua-vang-11627.html

11. Vũ, Đ. (2023). Vì sao các NHTW mua vàng? https://vneconomy.vn/vi-sao-cac-ngan-hang-trung-uong-mua-vang.htm?utm_source=chatgpt.com

12. Hội đồng Vàng Thế giới. (2024). Central Bank Gold Reserves Survey https://www.gold.org

13. Hội đồng Vàng Thế giới. (2025a). Above-ground stock. https://www.gold.org/goldhub/data/how-much-gold

14. Hội đồng Vàng Thế giới. (2025b). Gold Demand Trends: Q4 and Full Year 2024. https://www.gold.org

GVCC. TS. Nguyễn Tường Vân; NCS. Lê Văn Hinh
Học viện Ngân hàng

Tin bài khác

Mô hình sàn giao dịch bất động sản điện tử: Giải pháp minh bạch hóa thị trường trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Mô hình sàn giao dịch bất động sản điện tử: Giải pháp minh bạch hóa thị trường trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Chuyển đổi số đang mở ra cơ hội tái cấu trúc thị trường bất động sản theo hướng minh bạch, hiện đại và hiệu quả hơn, trong đó mô hình sàn giao dịch bất động sản điện tử được kỳ vọng sẽ góp phần số hóa toàn bộ quy trình giao dịch, tăng cường kết nối dữ liệu và nâng cao năng lực quản lý thị trường.
Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Vai trò của thể chế, năng suất và năng lực đổi mới sáng tạo - Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Vai trò của thể chế, năng suất và năng lực đổi mới sáng tạo - Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Vượt qua bẫy thu nhập trung bình không phụ thuộc vào một mô hình phát triển duy nhất mà đòi hỏi sự kết hợp giữa cải cách thể chế, nâng cao năng suất và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Từ kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở những ưu tiên chính sách giúp Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao.
Kinh tế thế giới nửa đầu năm 2026: Biến động giá cả, rủi ro thương mại và hàm ý chính sách

Kinh tế thế giới nửa đầu năm 2026: Biến động giá cả, rủi ro thương mại và hàm ý chính sách

Nửa đầu năm 2026 chứng kiến nhiều biến động lớn của kinh tế thế giới khi các rủi ro địa chính trị, năng lượng và thương mại diễn ra đồng thời và có tác động lan tỏa mạnh mẽ tới thị trường tài chính cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều quốc gia. Là nền kinh tế có độ mở cao và phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu năng lượng cũng như xuất khẩu sang các thị trường lớn, Việt Nam chịu ảnh hưởng tương đối rõ nét từ các cú sốc bên ngoài. Trong bối cảnh đó, việc đánh giá đầy đủ cơ chế truyền dẫn, phân tích tác động đối với nền kinh tế Việt Nam và đề xuất các giải pháp ứng phó có ý nghĩa quan trọng đối với công tác điều hành chính sách trong ngắn hạn cũng như nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trong trung và dài hạn.
Mối quan hệ giữa tài chính toàn diện dựa trên Fintech và sự ổn định của các ngân hàng: Bằng chứng  từ các quốc gia đang phát triển

Mối quan hệ giữa tài chính toàn diện dựa trên Fintech và sự ổn định của các ngân hàng: Bằng chứng từ các quốc gia đang phát triển

Bài viết phân tích tác động của tài chính toàn diện dựa trên công nghệ tài chính (Fintech) đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng tại các quốc gia mới nổi, qua đó khẳng định vai trò của đổi mới tài chính và chuyển đổi số trong nâng cao năng lực chống chịu của ngân hàng, đồng thời đề xuất các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển hệ thống tài chính bền vững.
Xây dựng mô hình kinh tế - tài chính của Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Xây dựng mô hình kinh tế - tài chính của Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh kinh tế số và công nghệ tài chính (Fintech) phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại, lấy lĩnh vực tài chính làm động lực tăng trưởng mới, được xem là hướng đi chiến lược để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy tăng trưởng bền vững và từng bước khẳng định vị thế trong hệ thống tài chính quốc tế.
VIFC-DN: Xác lập vị thế Việt Nam trên bản đồ tài chính toàn cầu

VIFC-DN: Xác lập vị thế Việt Nam trên bản đồ tài chính toàn cầu

Không đi theo quỹ đạo phát triển của các Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) truyền thống, IFC Việt Nam (VIFC) tại Đà Nẵng (VIFC-DN) được định vị theo hướng trở thành một “phòng thí nghiệm tài chính” hiện đại. Mô hình này nhấn mạnh tính chuyên biệt, gắn kết chặt chẽ với các trụ cột kinh tế số và tài chính xanh, qua đó tạo không gian thử nghiệm và triển khai các sáng kiến tài chính mới. Với định hướng này, Đà Nẵng được kỳ vọng hình thành cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính quốc tế.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ kiến tạo đến động lực phát triển đất nước

Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ kiến tạo đến động lực phát triển đất nước

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động mạnh bởi căng thẳng địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng và sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế, Việt Nam đang thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa trên đổi mới sáng tạo, chất lượng thể chế và năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng được xem là bước đi chiến lược trong tiến trình “Đổi mới 2.0” hay Đổi mới lần 2 - là giai đoạn chuyển mình chiến lược nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, hướng tới hình thành hệ sinh thái tài chính hiện đại, kết nối sâu với thị trường toàn cầu. Trên cơ sở các định hướng lớn của Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ đang từng bước hoàn thiện khung pháp lý cùng các cơ chế đặc thù để triển khai IFC với tinh thần chủ động, quyết liệt, vừa làm vừa hoàn thiện thực tiễn, qua đó tạo nền tảng thúc đẩy tăng trưởng chất lượng cao và nâng tầm vị thế kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới.
Xem thêm
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Thu hút FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và triển vọng

Thu hút FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và triển vọng

Bài viết phân tích xu hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 trên các phương diện quy mô, cơ cấu và động lực tăng trưởng, đồng thời đánh giá những thách thức, cơ hội và đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút FDI trong giai đoạn tới.
Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng gia tăng, xây dựng quốc gia biển mạnh không chỉ dựa vào khai thác tài nguyên và sức mạnh hàng hải, mà phải được đặt trên nền tảng quản trị biển hiện đại, nâng cao năng lực khoa học - công nghệ cũng như bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ hiện đại đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy