Hạn chế trục lợi chính sách khi thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại

Thị trường tài chính
Sáng 21/11/2024, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 8, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải, Quốc hội đã thảo luận tại Hội trường về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất.
aa

Sáng 21/11/2024, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 8, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải, Quốc hội đã thảo luận tại Hội trường về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất.

Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Đỗ Đức Duy giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

Đa số các đại biểu Quốc hội tán thành với sự cần thiết xây dựng dự thảo Nghị quyết để thể chế hóa chủ trương của Đảng, tăng thêm điều kiện tiếp cận đất đai cho phát triển nhà ở thương mại, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, tăng nguồn cung cấp của nhà ở, đáp ứng nhu cầu của người dân.

Đặc biệt, nội dung của dự thảo Nghị quyết đã thể chế hoá quan điểm, chủ trương của Đảng tại Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

Bảo đảm công bằng, tránh phát sinh cơ chế xin - cho

Tán thành với quy định này, đại biểu Trần Văn Tiến (Vĩnh Phúc) cho rằng, phạm vi thực hiện trên toàn quốc là phù hợp vì sẽ bảo đảm tính công bằng cho tất cả các tỉnh, thành phố có nhu cầu phát triển nhà ở thương mại, tránh phát sinh cơ chế xin-cho.

Đồng tình, đại biểu Trịnh Xuân An (Đồng Tháp) nhận định, dự thảo Nghị quyết đã có đủ các cơ sở chính trị, pháp lý, thực tế như Tờ trình và Báo cáo thẩm tra. Việc Quốc hội ban hành nghị quyết này sẽ là cơ sở khơi thông nguồn lực, tăng thêm nguồn lực đất đai để phát triển kinh tế - xã hội.

Về phạm vi thí điểm, đại biểu Trịnh Xuân An đồng tình với việc thực hiện thí điểm trên phạm vi toàn quốc nhưng "không phải mang tính chất đại trà, chung chung".

Đồng tình, đại biểu Trịnh Xuân An (Đồng Tháp) nhận định, dự thảo Nghị quyết đã có đủ các cơ sở chính trị, pháp lý, thực tế như Tờ trình và Báo cáo thẩm tra.

"Theo quy định của Điều 3 hoặc Điều 4, chắc chắn chỉ áp dụng đối với khu đô thị. Cho nên không có chuyện lấy đất lúa, đất nông nghiệp một cách đại trà, tràn lan để thực hiện Nghị quyết này. Để thực hiện trên phạm vi toàn quốc, các dự án, tiêu chí phải đáp ứng theo yêu cầu của nghị quyết với các điều kiện, điều khoản cụ thể", đại biểu Trịnh Xuân An nêu.

Đại biểu cũng lưu ý, khi Nghị quyết thông qua cũng cần có những nguyên tắc để thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, phù hợp, đáp ứng yêu cầu, tránh tạo sốt đất hoặc vi phạm pháp luật.

Đóng góp ý kiến tại Hội trường, đại biểu Phạm Văn Hòa (tỉnh Đồng Tháp) bày tỏ thống nhất phạm vi áp dụng trong toàn quốc.

"Nếu áp dụng chỉ trong một số tỉnh, thành phố, còn một số tỉnh khác không được áp dụng, sẽ dễ tạo ra cơ chế xin - cho và gây thắc mắc... ", đại biểu Phạm Văn Hòa lý giải.

Nêu một số vấn đề cốt lõi của Nghị quyết, đại biểu Phạm Văn Hòa nhấn mạnh về điều kiện thực hiện nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận quyền sử dụng đất; thời gian áp dụng Nghị quyết.

Đóng góp ý kiến tại Hội trường, đại biểu Phạm Văn Hòa (tỉnh Đồng Tháp) bày tỏ thống nhất phạm vi áp dụng trong toàn quốc.

Đại biểu Phạm Văn Hòa lý giải, tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Khánh Hòa..., nhà ở chung cư đã xây dựng, người dân đã vào ở nhưng đang vướng mắc trong việc làm thủ tục pháp lý. Người dân, doanh nghiệp cần Quốc hội, Chính phủ tháo gỡ cho họ về vấn đề này.

"Chúng ta không hợp thức hóa sai phạm cho doanh nghiệp mà vấn đề cốt lõi là tổ chức thực hiện, tránh lãng phí nguồn lực của xã hội", đại biểu Phạm Văn Hòa nêu.

Phát huy giá trị, hiệu quả đất quốc phòng an ninh

Liên quan đến việc cho phép thí điểm với đất quốc phòng, đất an ninh, đại biểu Trịnh Xuân An cho biết đây là loại đất đã được quy định rất chặt chẽ trong Luật Đất đai, Luật Nhà ở để phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang. Hiện nay đã có thêm Chỉ thị số 34-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát triển nhà ở xã hội trong tình hình mới.

Đây là những cơ chế để chăm lo đời sống cho các cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang cũng như phát huy giá trị, hiệu quả đất quốc phòng an ninh.

Bày tỏ sự ủng hộ cho thí điểm, đại biểu đề nghị bổ sung thêm cho Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thông qua danh mục khu đất dự kiến thực hiện dự án thí điểm đồng thời với việc thông qua danh mục, công trình, dự án thu hồi đất để chủ động.

Khi triển khai các dự án cũng phải theo các quy định chung của nghị quyết này, thực hiện sắp xếp tài sản công như Luật Đất đai, Luật Nhà ở... để bảo đảm tính chặt chẽ.

Theo đại biểu, khi nghị quyết thông qua cũng cần có những nguyên tắc để có một thị trường bất động sản lành mạnh, phù hợp, đáp ứng yêu cầu, tránh tạo ra sốt đất, vi phạm pháp luật.

Đại biểu Trần Văn Tiến.

Liên quan đến nội dung này, đại biểu Trần Văn Tiến cho rằng tại khoản 3 quy định ưu tiên cho Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện dự án nhà ở thương mại trên khu đất thuộc bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an cần đưa ra khỏi đất quốc phòng, an ninh. Đại biểu đề nghị cần quy định thêm “khi Bộ Quốc phòng, bộ Công an có nhu cầu về phát triển nhà ở thương mại thì được ưu tiên” - đại biểu Tiến cho biết.

Khắc phục ngay cơ chế "xin cho"

Giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu, Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Đỗ Đức Duy cho biết, mục đích của việc ban hành Nghị quyết nhằm bổ sung phương thức tiếp cận đất đai để thực hiện các dự án nhà ở thương mại mà Luật Đất đai hiện chưa cho phép.

Lý giải về cơ chế dịch chuyển quyền sử dụng đất và phương thức tiếp cận đất đai để thực hiện dự án nhà thương mại, Bộ trưởng Đỗ Đức Duy cho biết, Luật nhà ở năm 2014 được ban hành và có hiệu lực từ 1/1/2015 hạn chế 2 hình thức tiếp cận đất đai (hình thức tự thỏa thuận với người sử dụng đất và hình thức đang có quyền sử dụng đất thì xin chuyển mục đích) để thực hiện dự án nhà thương mại. Luật Đất đai năm 2024 kế thừa quy định này của Luật Nhà ở năm 2014, thậm chí còn quy định chặt chẽ hơn.

Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Đỗ Đức Duy giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

Như vậy, đối với các dự án nhà ở thương mại quy mô đất dưới 20ha, theo quy định của Luật Đất đai năm 2024 sẽ không có phương thức tiếp cận đất đai vì không thuộc diện nhà nước thu hồi đất và cũng không thuộc diện được thỏa thuận nhận chuyển quyền hoặc được chuyển mục đích sử dụng đất, nếu như trong diện tích lũy không có đất ở.

"Vì vậy, mục đích ban hành nghị quyết này nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc xảy ra với tất cả các địa phương trên cả nước, nhất là các tỉnh nhỏ, thị trường bất động sản quy mô không lớn, không có nhiều dự án quy mô khu đô thị 20 ha trở lên. Các dự án còn lại không có phương thức tiếp cận đất đai nên không thể thực hiện được. Do vướng mắc trên phạm vi cả nước, nên cần thực hiện trên phạm vi cả nước để bảo đảm công bằng, khắc phục cơ chế xin-cho", Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường nêu.

Vấn đề về để bảo đảm an ninh lương thực, bảo vệ đất trồng lúa, đất trồng rừng, Bộ trưởng Đỗ Đức Duy nhấn mạnh, vấn đề này được kiểm soát chặt chẽ ngay từ khâu lập quy hoạch sử dụng đất quốc gia cho đến quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh cũng như lập quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị.

Theo đó, các quy hoạch, kế hoạch đã xác định rõ diện tích đất nông nghiệp được chuyển mục đích sang phi nông nghiệp để thực hiện các dự án phát triển kinh tế-xã hội, trong đó bao gồm cả các diện tích đất để thực hiện dự án theo nghị quyết này cũng như các dự án phát triển nhà ở thương mại theo quy định của Luật Đất đai năm 2024.

"Như vậy, dù thực hiện theo Luật Đất đai hay thực hiện theo cơ chế thí điểm của Nghị quyết này, tất cả các dự án đó đều phải tuân thủ các quy hoạch. Mà các quy hoạch này đã phải bảo đảm việc giữ ổn định 3,5 triệu ha đất lúa và bảo đảm độ che phủ rừng", Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường nhấn mạnh.

Theo Sơn Bách (Ảnh: Duy Linh)/nhandan.vn


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ kiến tạo đến động lực phát triển đất nước

Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ kiến tạo đến động lực phát triển đất nước

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động mạnh bởi căng thẳng địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng và sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế, Việt Nam đang thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa trên đổi mới sáng tạo, chất lượng thể chế và năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng được xem là bước đi chiến lược trong tiến trình “Đổi mới 2.0” hay Đổi mới lần 2 - là giai đoạn chuyển mình chiến lược nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, hướng tới hình thành hệ sinh thái tài chính hiện đại, kết nối sâu với thị trường toàn cầu. Trên cơ sở các định hướng lớn của Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ đang từng bước hoàn thiện khung pháp lý cùng các cơ chế đặc thù để triển khai IFC với tinh thần chủ động, quyết liệt, vừa làm vừa hoàn thiện thực tiễn, qua đó tạo nền tảng thúc đẩy tăng trưởng chất lượng cao và nâng tầm vị thế kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới.
Phát triển tài chính biển xanh ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển tài chính biển xanh ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn huy động nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế biển xanh tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát triển tài chính biển xanh, khơi thông dòng vốn cho các ngành kinh tế biển bền vững và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh quốc gia.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Phát triển thị trường chứng khoán hóa tài sản gắn với xử lý nợ xấu: Kinh nghiệm Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển thị trường chứng khoán hóa tài sản gắn với xử lý nợ xấu: Kinh nghiệm Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy chứng khoán hóa tài sản có thể trở thành công cụ thị trường quan trọng trong xử lý nợ xấu nếu được đặt trên nền tảng pháp lý đồng bộ, minh bạch thông tin và kỷ luật thị trường chặt chẽ, qua đó mở ra nhiều hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động hai mặt của số hóa tài chính đối với sức khỏe tài chính hộ gia đình, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, bao trùm và bền vững trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
Phát triển sàn giao dịch các-bon: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho hệ thống ngân hàng Việt Nam

Phát triển sàn giao dịch các-bon: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho hệ thống ngân hàng Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, làm rõ cơ hội và thách thức trong quá trình hình thành, vận hành sàn giao dịch các-bon tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng trong tham gia thanh toán, quản lý dòng tiền, hỗ trợ doanh nghiệp và phát triển các sản phẩm tài chính gắn với các-bon.
Phát triển thị trường công cụ phái sinh: Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và đề xuất cho Việt Nam

Phát triển thị trường công cụ phái sinh: Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và đề xuất cho Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế ngày càng sâu rộng, thị trường công cụ phái sinh đang từng bước khẳng định vai trò then chốt trong việc quản trị rủi ro, đồng thời nâng cao hiệu quả phân bổ dòng vốn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững.
Xem thêm
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam