Giải pháp phát triển tài chính toàn diện tại Ngân hàng Chính sách xã hội

Hoạt động ngân hàng
Tài chính toàn diện mang đến cho người dân các dịch vụ tài chính thuận tiện và chất lượng, mở rộng khả năng tiếp cận cho tất cả các tầng lớp dân cư, đặc biệt là tầng lớp dân cư có thu nhập thấp, đồng thời tạo cơ hội đồng đều và hạn chế bất bình đẳng trong nền kinh tế.
aa

Tóm tắt: Tài chính toàn diện mang đến cho người dân các dịch vụ tài chính thuận tiện và chất lượng, mở rộng khả năng tiếp cận cho tất cả các tầng lớp dân cư, đặc biệt là tầng lớp dân cư có thu nhập thấp, đồng thời tạo cơ hội đồng đều và hạn chế bất bình đẳng trong nền kinh tế. Nghiên cứu phân tích thực trạng phát triển tài chính toàn diện tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (NHCSXH), từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển tài chính toàn diện tại NHCSXH.

Từ khóa: Tài chính toàn diện, phát triển tài chính toàn diện, NHCSXH.

SOLUTIONS FOR THE FINANCIAL INCLUSION DEVELOPMENT
AT VIETNAM BANK FOR SOCIAL POLICIES

Abstract: Financial inclusion brings people convenient and quality financial services, expands access to all classes of people, especially the population of low income and create equal opportunities and limit inequality in the economy. The study focuses on analyzing current situation regarding the promotion of financial inclusion at the Vietnam Bank For Social Policies (VBSP). Based on these findings, the authors propose some solutions to promote financial inclusion at VBSP.

Keywords: Financial inclusion, promoting financial inclusion, Vietnam Bank for Social Policies.

1. Tài chính toàn diện và vai trò của tài chính toàn diện


Theo Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030: “Tài chính toàn diện là việc mọi người dân và doanh nghiệp được tiếp cận và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính một cách thuận tiện, phù hợp nhu cầu, với chi phí hợp lí, được cung cấp một cách có trách nhiệm và bền vững, trong đó chú trọng đến nhóm người nghèo, người thu nhập thấp, người yếu thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ”.

Vai trò của tài chính toàn diện đối với phát triển kinh tế - xã hội được thể hiện qua các khía cạnh sau:

Thứ nhất, tài chính toàn diện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tăng cường khả năng huy động các khoản tiết kiệm và đầu tư để phát triển sản xuất.

Johnson và Nino-Lazarawa (2009) đã chỉ ra rằng, tài chính toàn diện góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua huy động tiết kiệm và đầu tư vào lĩnh vực sản xuất. Việc huy động tiết kiệm tạo điều kiện cho các đối tượng bị loại trừ trong hệ thống tài chính chính thức có thể tiếp cận tiết kiệm, tín dụng và các dịch vụ giảm nghèo để đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, cải thiện phúc lợi. Theo Levine (2005), cơ sở hạ tầng của hệ thống tài chính toàn diện góp phần hạn chế thông tin tài chính bất đối xứng, giảm chi phí giao dịch kí kết hợp đồng. Chính sách tài chính toàn diện hiệu quả tác động lên các ngành kinh tế, góp phần giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nhanh. Mối tương quan giữa tài chính toàn diện và tăng trưởng kinh tế một lần nữa được khẳng định thông qua mô hình nghiên cứu của ATISG (2010). (Hình 1)

Hình 1: Mối tương quan giữa tài chính

toàn diện và phát triển kinh tế

Nguồn: Báo cáo của Tiểu nhóm Tiếp cận thông qua đổi mới (ATISG), Nhóm chuyên gia tài chính toàn diện G.20


Thứ hai, tài chính toàn diện giúp người nghèo được tiếp cận các dịch vụ tài chính phù hợp với giá cả phải chăng.

Một vấn đề quan trọng đối với người nghèo là thu nhập của họ không chỉ thấp mà còn không ổn định. Họ cần có khả năng tự quản lí thu nhập thấp và bấp bênh của mình để đảm bảo dòng tiền mặt thường xuyên và tích lũy đủ số tiền để trang trải các chi phí có thể phát sinh như tiền học cho con, hiếu, hỉ; các tình huống khẩn cấp như bệnh tật hoặc mất việc bất ngờ, tuy nhiên, khả năng quản lí của họ còn thấp. Khi các nhu cầu tài chính xuất hiện, người nghèo phải tìm đến các dịch vụ tài chính phi chính thức nếu họ không thể tiếp cận các dịch vụ chính thức và bán chính thức. Mặc dù các dịch vụ phi chính thức dễ tiếp cận hơn, song, nhiều trường hợp chưa đáng tin cậy, kém an toàn và phải trả chi phí cao hơn so với các dịch vụ bán chính thức và chính thức. Điều này có thể gia tăng gánh nặng chi phí với người nghèo. Báo cáo tài chính toàn diện G20 (2015) cho thấy, hầu hết tại các nước đang phát triển, chỉ có từ 20 - 50% dân số được tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức, người nghèo và cận nghèo nằm ngoài khu vực này. Đảm bảo đối tượng nghèo và cận nghèo tiếp cận tốt hơn các dịch vụ tài chính chính thức, góp phần cải thiện cuộc sống, tạo công ăn việc làm, từ đó thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển.

Tài chính toàn diện mang lại cơ hội tiếp cận hệ thống tài chính chính thức với mức chi phí hợp lí cho tất cả các thành phần của nền kinh tế, đặc biệt là nhóm dân cư yếu thế, từ đó ảnh hưởng tích cực đến vấn đề công bằng tài chính và phát triển các hoạt động kinh tế. Ở khu vực thành thị, viên chức lương thấp hoặc cá nhân tự kinh doanh như bán hàng rong cũng như những người nông dân và những đối tượng khác mưu sinh bằng các công việc với thu nhập eo hẹp như chế biến thực phẩm, buôn bán nhỏ, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em trong độ tuổi quy định sẽ được hưởng lợi từ các hoạt động tài chính như trên. Do đó, Ogunleye (2009) đã khẳng định tài chính toàn diện đem lại ổn định tài chính, thúc đẩy tăng trưởng toàn diện.

Thứ ba, tài chính toàn diện góp phần tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo và tăng phúc lợi cho người nghèo.

Tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ tài chính như tiết kiệm, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền kiều hối và bảo hiểm sẽ giúp người nghèo tăng khả năng tích lũy tài sản, chống chịu trước những cú sốc kinh tế; đồng thời, tăng khả năng tạo công ăn việc làm, cải thiện thu nhập thông qua các khoản tín dụng tiếp cận được. Theo các nghiên cứu chuyên sâu về dân tộc học, Collins và các cộng sự (2009) thực hiện bằng cách theo dõi nhật kí tài chính của tầng lớp dân nghèo ở Bangladesh, Ấn Độ và Nam Phi, tiếp cận các dịch vụ tài chính phù hợp, giá cả phải chăng giúp người nghèo giảm rủi ro ảnh hưởng từ các biến động kinh tế, cải thiện phúc lợi và trong nhiều trường hợp còn tăng thu nhập. Nghiên cứu của Robinson (2001) cũng chỉ ra rằng, ngoài lợi ích về mặt tiết kiệm, thu nhập an toàn và cơ hội vay vốn lớn hơn, tài chính toàn diện cũng mang lại nhiều kết quả tích cực như hạn chế lao động trẻ em và tăng năng suất nông nghiệp.

Trong một nghiên cứu phân tích về tầng lớp thu nhập thấp ở Bangladesh, Ấn Độ và Nam Phi, Collins (2009) đã tìm ra mối quan hệ nhân quả giữa khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính phù hợp, giá cả phải chăng và sự cải thiện phúc lợi, thu nhập cho người nghèo. Demirguc-kunt và cộng sự (2008) cũng nhận thấy rằng, tiếp cận tài chính không chỉ thúc đẩy tăng trưởng mà còn thúc đẩy giảm nghèo cũng như giảm bất bình đẳng thu nhập và cải thiện phúc lợi. Xét trên bối cảnh rộng hơn, tài chính toàn diện đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thông qua tạo giá trị cho các doanh nghiệp nhỏ, đem lại tác động lớn cho việc cải thiện các chỉ số phát triển con người như y tế, dinh dưỡng, giáo dục và đẩy lùi bất bình đẳng, nghèo đói (CIMP, 2011, Obstfield, 1994 và Ghali, 1999).

2. Thực trạng phát triển tài chính toàn diện tại NHCSXH

Thứ nhất, NHCSXH đã cung cấp những sản phẩm, dịch vụ tài chính cơ bản cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách như các sản phẩm tín dụng, sản phẩm tiết kiệm và sản phẩm thanh toán. Những sản phẩm này đã được khách hàng là hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác đón nhận tích cực. Đặc biệt là sản phẩm tín dụng đã tăng trưởng dư nợ qua các năm từ năm 2019 đến năm 2023. Nguồn vốn tín dụng chính sách đã phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội, góp phần giúp trên 1 triệu lượt hộ vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm cho gần 3 triệu lao động từ Quỹ Quốc gia về việc làm; giúp gần 400 nghìn học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng hơn 82 nghìn căn nhà ở cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác; giúp hơn 30 nghìn lao động được vay vốn đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và giúp xây gần 7 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Bên cạnh sản phẩm tín dụng hỗ trợ tích cực về nguồn vốn cho vay để phát triển sản xuất, tăng thu nhập, vốn tín dụng chính sách cũng giúp khách hàng vay vốn tại NHCSXH nâng cao đời sống tinh thần, phụ nữ có tiếng nói hơn trong gia đình, tự tin và tham gia tích cực hơn vào các hoạt động tại thôn, xã.

Về sản phẩm tiết kiệm: NHCSXH đã có các sản phẩm tiết kiệm phù hợp với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, đặc biệt là sản phẩm tiền gửi tổ viên thông qua tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) và tiền gửi tiết kiệm cá nhân tại Điểm giao dịch xã. Hai sản phẩm này được hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác đón nhận tích cực; số lượng tiền gửi và tiền tiết kiệm đã tăng lên, cụ thể: Tiền gửi tổ viên tăng từ 10.720 tỉ đồng (năm 2019) lên 16.465 tỉ đồng (năm 2023) và tiền tiết kiệm cá nhân tại Điểm giao dịch xã tăng từ 13.168 tỉ đồng (năm 2019) lên 20.109 tỉ đồng (năm 2023).

Thứ hai, các chương trình tín dụng chính sách ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện cho các đối tượng yếu thế (đối tượng mục tiêu của tài chính toàn diện) tiếp cận tín dụng để giải quyết các nhu cầu thiết yếu trong đời sống, phát triển sản xuất, kinh doanh, vươn lên thoát nghèo.

Hiện nay, tín dụng chính sách đã và đang triển khai thực hiện hơn 20 chương trình và một số chương trình, dự án do các địa phương, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ủy thác cho NHCSXH thực hiện. Từ nguồn vốn 7.105 tỉ đồng năm 2002, đến cuối năm 2023, tổng nguồn vốn tín dụng chính sách đạt 346.278 tỉ đồng, tăng gấp hơn 48 lần. Tổng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách đến hết năm 2023 đạt 332.000 tỉ đồng với hơn 6,8 triệu khách hàng còn dư nợ. Vốn tín dụng chính sách được đầu tư cho phát triển sản xuất, tạo sinh kế, việc làm và đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong đời sống của người nghèo và các đối tượng chính sách khác, tập trung ở một số chương trình như: Cho vay giải quyết việc làm (chiếm 27,04% tổng dư nợ), cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (16,2%), cho vay hộ mới thoát nghèo (13,32%), cho vay hộ cận nghèo (12,51%), cho vay hộ nghèo (10,11%), cho vay hộ gia đình sản xuất, kinh doanh vùng khó khăn và thương nhân hoạt động thương mại thường xuyên tại vùng khó khăn (7,34%), cho vay nhà ở xã hội (5,09%), cho vay học sinh, sinh viên (4,66%). NHCSXH đã hoàn thành việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách một cách nhanh chóng, giải ngân kịp thời đến các đối tượng thụ hưởng, góp phần tích cực trong việc phát huy hiệu quả tín dụng chính sách xã hội, được người dân, các doanh nghiệp đồng tình, ủng hộ và đánh giá cao.

Thứ ba, đối tượng yếu thế tiếp cận tín dụng chính sách xã hội tại NHCSXH ngày càng nhiều, đối tượng được mở rộng.

Từ năm 2022 trở về trước, đối tượng yếu thế trong quan hệ tín dụng với NHCSXH gồm: Người nghèo (hộ gia đình, cá nhân trong hộ gia đình nghèo, bao gồm cả cận nghèo hoặc mới thoát nghèo), doanh nghiệp siêu nhỏ hoặc nhỏ, người dân tộc thiểu số, phụ nữ, người khuyết tật, người cao tuổi, người nhiễm HIV, người sau cai nghiện ma túy, người bán dâm hoàn lương. Đến năm 2023, NHCSXH có thêm chương trình tín dụng cho người chấp hành xong án phạt tù. (Hình 2)


Hình 2: Người yếu thế trong quan hệ tín dụng với NHCSXH

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả


Trong giai đoạn từ năm 2019 - 2023, dư nợ bình quân của khách hàng vay vốn tại NHCSXH tăng từ 31,8 triệu đồng (năm 2019) lên 48,8 triệu đồng (năm 2023). Số lượng khách hàng vay vốn cũng tăng lên từ 6,5 triệu người (năm 2019) lên 6,8 triệu người (năm 2023).

Thứ tư, mạng lưới hoạt động của NHCSXH trải rộng trên địa bàn cả nước nên dễ dàng thúc đẩy tài chính toàn diện.

Mạng lưới hoạt động giao dịch tại xã của NHCSXH đến ngày 31/12/2023 có 10.452 Điểm giao dịch xã, phường, thị trấn. Trong đó, có 10.395 Điểm giao dịch xã độc lập, 57 Điểm giao dịch liên phường của 130 phường và 78 xã, phường, thị trấn, thực hiện giao dịch vào một ngày cố định trong tháng tại trụ sở Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã hoặc trụ sở NHCSXH nơi cho vay. Thông tin về địa điểm, thời gian giao dịch tại các Điểm giao dịch xã được niêm yết công khai trên website của NHCSXH và được cập nhật thường xuyên khi có thay đổi. Trong đó, tỉ lệ giao dịch giải ngân tại Điểm giao dịch xã là 96,91% (tăng 0,79% so với năm 2022); tỉ lệ giao dịch thu lãi tại Điểm giao dịch xã đạt 99,54% (tăng 0,20% so với năm 2022); tỉ lệ giao dịch thu nợ gốc tại Điểm giao dịch xã đạt 93,91% (tăng 0,68% so với năm 2022).

Trong đó, tổ TK&VV đóng vai trò nền tảng trong hoạt động của NHCSXH, mạng lưới tổ TK&VV là cầu nối giữa NHCSXH với người vay, giúp chuyển tải nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Chính phủ đến các đối tượng được thụ hưởng nhanh chóng, hiệu quả, tiết giảm tối đa chi phí. Ban quản lí tổ TK&VV được NHCSXH ủy nhiệm thực hiện một số nội dung công việc trong quy trình cho vay, như: Tuyên truyền về tín dụng chính sách, hỗ trợ tổ viên gia nhập tổ, tiếp nhận Giấy đề nghị vay vốn, bình xét cho vay, hỗ trợ quá trình sử dụng vốn, đôn đốc người vay trả nợ, trả lãi, thu lãi, thu tiền gửi của tổ viên và giao dịch với NHCSXH định kì vào ngày giao dịch tại trụ sở UBND xã. Vì vậy, hoạt động ủy nhiệm của Ban quản lí tổ TK&VV đóng vai trò lớn, thể hiện chất lượng hoạt động tín dụng của NHCSXH.

Với mạng lưới trải rộng đến từng bản, làng (điểm giao dịch xã trên địa bàn cả nước, các tổ TK&VV đến từng thôn, ấp, bản, làng), các chương trình tín dụng chính sách đã giúp hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác vốn yếu thế, dễ bị tổn thương được tiếp cận nguồn vốn, vươn lên trong cuộc sống. Đồng thời, với mạng lưới gần dân, sát dân cũng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiết giảm chi phí, thời gian giao dịch với ngân hàng; ngân hàng, cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội tiếp cận, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của người dân để có những giải pháp phù hợp, đẩy mạnh việc tiếp cận và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính chính thức, hạn chế “tín dụng đen”.

Thứ năm, tín dụng chính sách là cầu nối để thúc đẩy các đối tượng yếu thế tiếp cận với các dịch vụ thanh toán, tiết kiệm và tiếp cận công nghệ số trong quan hệ tín dụng.

Việc triển khai các Điểm giao dịch xã, thành lập tổ TK&VV và đưa các nghiệp vụ về thực hiện tại cơ sở không chỉ giúp đảm bảo mục tiêu cho vay đúng đối tượng, đúng hộ vay, thuận lợi trong việc thực hiện quy trình, thủ tục vay vốn, nâng cao hiệu quả vốn tín dụng mà còn tạo điều kiện để người nghèo, các đối tượng chính sách, người dân biết và tiếp cận, sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính khác ngoài tín dụng. Chẳng hạn, hoạt động nhận tiền gửi của tổ viên tổ TK&VV đã tạo ý thức cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác thực hành tiết kiệm để tạo lập vốn tự có, tạo nguồn hỗ trợ cho việc trả nợ, trả lãi. Đến cuối năm 2023, gần 100% số tổ TK&VV thực hiện nghiệp vụ nhận tiền gửi của tổ viên, 6,8 triệu tổ viên tham gia với số dư tiền gửi đạt 16.465 tỉ đồng. Các hộ nghèo, hộ thu nhập thấp và đối tượng chính sách khác, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ do phụ nữ điều hành, những đối tượng hiện đang thiếu sự tiếp cận tới các dịch vụ tài chính chính thức đã bắt đầu quen với dịch vụ Mobile Banking của NHCSXH. Tính đến ngày 20/6/2024, có hơn 53 triệu tin nhắn được gửi thành công đến gần 90% khách hàng của NHCSXH; 100.000 người dùng phần mềm App giáo dục số tích hợp trên ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách (NHCSXH - QLTDCS); 50.084 Tổ trưởng tổ TK&VV sử dụng quản lí tín dụng chính sách với trên 19 triệu giao dịch, tương ứng 8.285 tỉ đồng. Dịch vụ Mobile Banking đã được NHCSXH triển khai tới khách hàng từ tháng 6/2022; đến ngày 30/4/2024, đã có 232.797 khách hàng đăng kí sử dụng hệ thống Mobile Banking với 4.269.968 giao dịch, đạt tổng số tiền là 26.985 tỉ đồng.

Thứ sáu, thông qua các chương trình tín dụng chính sách, đặc biệt, thông qua phương thức cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội, ủy nhiệm qua tổ TK&VV và sự tham gia của cả hệ thống chính trị vào hoạt động tín dụng chính sách giúp kiến thức và kĩ năng tài chính của các đối tượng yếu thế được cải thiện.

Hơn 20 năm triển khai các chương trình tín dụng chính sách, các đối tượng thụ hưởng tín dụng chính sách, nhất là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số đã có niềm tin tuyệt đối với NHCSXH và có sự chuyển biến tích cực trong tư duy, thay đổi cách nghĩ, cách làm, mạnh dạn vay vốn, chủ động tiếp cận ứng dụng khoa học, kĩ thuật vào sản xuất, kinh doanh nhằm sử dụng vốn vay hiệu quả. Bên cạnh đó, việc phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác, tổ TK&VV trong việc triển khai nhanh chóng các chính sách tín dụng đến người nghèo và các đối tượng chính sách khác, chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức tài chính đã giúp nâng cao ý thức của người vay trong việc tuân thủ nguyên tắc tín dụng “có vay - có trả”; quản lí, sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả; thực hành tiết kiệm, gửi góp định kì hằng tháng. Thông qua phương thức cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội đã huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở để chuyển tải nguồn vốn của Nhà nước đến hàng triệu người nghèo và các đối tượng chính sách khác, giúp đỡ họ biết cách sử dụng vốn vay có hiệu quả, nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống, góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và đảm bảo an sinh xã hội. Giúp hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác tiếp cận được với dịch vụ tín dụng - tài chính của NHCSXH thuận lợi, nhanh chóng, tiết giảm được thời gian và chi phí đi lại. Việc cho vay thông qua tổ TK&VV đã được thực hiện công khai, dân chủ, tăng cường sự đoàn kết, tình làng, nghĩa xóm, nâng cao trách nhiệm của người vay trong việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, trả nợ NHCSXH.

Đồng thời, ứng dụng App Giáo dục tài chính thông qua điện thoại di động cũng là một kênh hữu ích cung cấp thông tin, kiến thức, kĩ năng tài chính cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.

3. Giải pháp phát triển tài chính toàn diện tại NHCSXH

3.1. Nhóm giải pháp đối với chủ thể cung cấp sản phẩm, dịch vụ tài chính là NHCSXH

3.1.1. Tập trung nguồn lực, nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình tín dụng chính sách để tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, nhất là đối tượng chính sách

Đây là giải pháp căn cơ, lâu dài được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, triển khai thực hiện tích cực, đồng bộ và quyết liệt.

NHCSXH là một trong các định chế tài chính chuyên biệt có định hướng hoạt động phù hợp với mục tiêu tài chính toàn diện. Do vậy, cần tập trung nguồn lực cho NHCSXH triển khai có hiệu quả Chiến lược phát triển NHCSXH đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 05/QĐ-TTg ngày 04/01/2023. Theo đó, chú trọng: Nâng cao năng lực tài chính đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững; tập trung nguồn lực Nhà nước thực hiện có hiệu quả các chương trình tín dụng cho các đối tượng chính sách, các chương trình mục tiêu quốc gia, đảm bảo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2024 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội.

Tập trung các nguồn vốn tín dụng cho đối tượng chính sách có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn có tính chất từ thiện và các nguồn vốn hợp pháp khác vào NHCSXH nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu ngày một lớn của các đối tượng chính sách như đưa Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sang đầu mối là NHCSXH để cho vay; rà soát, sắp xếp lại các Quỹ hỗ trợ theo nhóm các đối tượng là nông dân, phụ nữ, thanh niên khởi nghiệp… vào một đầu mối là NHCSXH. Phấn đấu đến năm 2030, nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp chiếm 30% tổng nguồn vốn tín dụng cho đối tượng chính sách. Bên cạnh đó, tập trung huy động, đa dạng hóa nguồn vốn với phương châm “Nhà nước, doanh nghiệp và Nhân dân cùng làm”, “Trung ương và địa phương cùng làm”.

3.1.2. Hoàn thiện chính sách và quy trình tín dụng tại NHCSXH


NHCSXH cần tiếp tục hoàn thiện quy trình tín dụng hiện tại với mô hình quản lí đặc thù và cách thức hoạt động nghiệp vụ sáng tạo, giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình ủy thác cho vay qua 4 tổ chức chính trị - xã hội: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên. Quản lí chặt chẽ hoạt động của các tổ TK&VV, phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra ở cấp tổ, nhóm.

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống đánh giá xếp hạng tín nhiệm nội bộ với khách hàng tiềm năng, kết hợp dữ liệu tài chính và hành vi. Thu thập thông tin khách hàng thông qua các kênh offline và online một cách chọn lọc để có thể phân tích mức độ rủi ro sớm của khách hàng.

Tiếp tục đơn giản hóa thủ tục giải quyết công việc, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác trong quá trình vay vốn và tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ do NHCSXH cung cấp.

Tiếp tục hoàn thiện công tác kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Đối với các hộ nghèo, việc phân tách giữa hoạt động sản xuất, kinh doanh với chi tiêu thường xuyên thường không rõ ràng do họ ít có kiến thức về tài chính, quy mô chi tiêu nhỏ. Hơn nữa, nguồn tiền để chi trả cho hoạt động tiêu dùng hằng ngày có thể xuất phát từ hoạt động sản xuất, kinh doanh mà người nghèo vay vốn ngân hàng. Đơn cử như hộ nghèo vay tiền để chăn nuôi, hằng ngày họ có thể bán con gà, quả trứng để lấy tiền cho tiêu dùng sinh hoạt chứ không phải để lấy tiền trả nợ ngân hàng. Do đó, việc kiểm tra món vay phải được phân tích bao trùm trên cả hoạt động kinh doanh lẫn sinh hoạt xã hội của hộ nghèo, bao gồm các nguồn thu nhập và chi tiêu để có thể đánh giá năng lực trả nợ của người nghèo.

Tiếp tục đổi mới cơ chế ưu đãi tín dụng cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Thực tiễn hiện nay cho thấy, lãi suất tín dụng chính sách cho hộ nghèo không quá thấp so với lãi suất cho vay của một số ngân hàng thương mại nhưng người nghèo vẫn có thể chi trả lãi đều đặn. Việc quy định lãi suất thấp sẽ khiến Nhà nước phải bù chênh lệch lãi suất và trong bối cảnh ngân sách nhà nước khó khăn, lượng khách hàng là hộ nghèo có thể tiếp cận với tín dụng ưu đãi sẽ không cao, làm giảm đi phạm vi tác động của tín dụng chính sách xã hội. Bởi vậy, NHCSXH cần có lộ trình đề xuất giảm dần mức độ ưu đãi trong lãi suất, chú trọng hơn những hỗ trợ về thủ tục, về kĩ thuật phù hợp với xu thế mới và thực tiễn kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới.

3.1.3. Tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; nâng cao năng lực, trình độ, kĩ năng của cán bộ trong việc cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính

NHCSXH cần có chính sách thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn nhân lực phù hợp với tín dụng chính sách xã hội tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Ví dụ, sử dụng nhân lực tại chỗ, tăng cường đào tạo chuẩn hóa các nhân lực này thông qua các chương trình đào tạo, giảng dạy kết hợp (blended learning).

Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đảm bảo nguồn nhân lực không chỉ có kiến thức về tài chính - ngân hàng mà còn được trang bị đầy đủ kiến thức, kĩ năng về công nghệ thông tin, kĩ năng mềm để triển khai có hiệu quả nhiệm vụ cũng như hỗ trợ khách hàng một cách nhanh chóng, đúng nhu cầu, rút ngắn thời gian giao dịch. Từ đó, xây dựng đội ngũ cán bộ có uy tín, phong cách làm việc tiên tiến, hiện đại, tân tâm, tận tụy phục vụ người dân với phương châm “Thấu hiểu lòng dân, tận tâm phục vụ”.

Nâng cao chất lượng phục vụ của đội ngũ cán bộ giao dịch trực tiếp với khách hàng thông qua việc cải tiến tác phong làm việc; nâng cao kĩ năng giao tiếp, chăm sóc khách hàng. Ngoài ra, cần nâng cao năng lực thẩm định và quản lí các rủi ro, khả năng sử dụng các công cụ nghiên cứu và kĩ năng phân tích rủi ro tín dụng của cán bộ NHCSXH.

Chú trọng làm tốt công tác quy hoạch, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp cán bộ có đủ năng lực, trình độ, uy tín, sức khỏe nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Quan tâm chăm lo, đảm bảo việc làm, thu nhập, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, người lao động, nhất là cán bộ công tác ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo.

Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, có đạo đức nghề nghiệp, có đầy đủ kĩ năng nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ; hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu lực hệ thống kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả hoạt động tín dụng chính sách xã hội.

3.1.4. Tăng cường tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, các sản phẩm, dịch vụ tài chính NHCSXH tới người dân

NHCSXH cần quan tâm nhiều hơn nữa đến việc giải thích, giới thiệu cho người dân các chương trình, chính sách ưu đãi hiện có theo phương thức phù hợp với đặc điểm tâm lí, trình độ nhận thức của mọi tầng lớp dân cư; đẩy mạnh các hình thức truyền thông trên đa dạng các kênh truyền thông như kênh thông tin truyền thống (báo, đài, tivi…) và phi truyền thống (biển hiệu quảng cáo, mạng xã hội…). Cần có chiến lược quảng cáo giới thiệu bài bản tới các khách hàng về những sản phẩm hiện chưa thu hút như sản phẩm cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, các sản phẩm thanh toán hiện đại…

3.1.5. Tăng cường chuyển đổi số nhanh và mạnh mẽ, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ trên nền tảng công nghệ, ứng dụng các sản phẩm công nghệ hiện đại và phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu hướng chuyển đổi số trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính ngày càng mạnh mẽ. Bởi vậy, tăng cường chuyển đổi số nhanh và mạnh mẽ, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ trên nền tảng công nghệ, ứng dụng các sản phẩm công nghệ hiện đại và phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử là giải pháp quan trọng để NHCSXH và các tổ chức cung ứng tín dụng cho người dân có thể tiếp cận khách hàng với chi phí thấp, thời gian nhanh chóng, mọi lúc, mọi nơi, giúp giảm tín dụng đen online, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ cung cấp.

Nỗ lực nhiều hơn nữa để hoàn thiện, nâng cao, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ thực hiện trên hệ thống ngân hàng điện tử. Tập trung phát triển sản phẩm, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ. Hoàn thiện hơn nữa hệ thống Mobile Banking, cập nhật và đầu tư hơn nữa cho App VBSP Smart Banking với các tiện ích đa dạng, phát triển thêm các sản phẩm thanh toán, xây dựng nền tảng ngân hàng số.

Nghiên cứu ngân hàng đại lí, các dịch vụ thanh toán và tài khoản trực tuyến, ngân hàng trực tuyến, mPOS, QR Pay, thanh toán trực tuyến, ví điện tử, tự động trích nợ… hoặc hỗ trợ cá nhân, doanh nghiệp thanh toán các khoản phải trả qua các kênh có nhiều tiện ích, tiện lợi như ngân hàng trực tuyến…

Phát triển đa dạng sản phẩm, dịch vụ theo hướng hiện đại, dễ sử dụng, chi phí phù hợp với nhu cầu và khả năng chi trả của khách hàng khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, người có thu nhập thấp.

Đẩy mạnh các hoạt động thanh toán điện tử qua tài khoản của NHCSXH thông qua các hình thức ưu đãi, hỗ trợ, chiết khấu khi khách hàng sử dụng dịch vụ này. Bên cạnh đó, cần chú trọng vào việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng tài chính bền vững, tạo điều kiện phát triển đa dạng sản phẩm, dịch vụ, kênh phân phối hiện đại.

3.1.6. Nguồn vốn cho thúc đẩy tài chính toàn diện

Để có thể thúc đẩy tài chính toàn diện thực sự hiệu quả và bền vững, cần gia tăng quy mô hoạt động nguồn vốn đầu tư cho cung ứng các dịch vụ tài chính, qua đó, giúp phát triển, mở rộng nhanh chóng phạm vi tiếp cận đến những đối tượng dễ bị tổn thương nhất, khó tiếp cận nhất. NHCSXH cũng cần xây dựng kế hoạch để phát triển các sản phẩm, dịch vụ cụ thể như: Chi bao nhiêu cho nghiên cứu, phát triển sản phẩm, mở rộng mạng lưới hay đầu tư công nghệ, trang thiết bị mới, đào tạo, tập huấn về giáo dục tài chính...

3.1.7. Phối hợp khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu cá nhân

NHCSXH cần phối hợp với ngành Công an để kết nối, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu dân cư, qua đó phân loại các dữ liệu theo giới tính, lứa tuổi, học vấn, nghề nghiệp, thu nhập của khách hàng. Đây là dữ liệu quan trọng để NHCSXH dựa vào các đặc tính cá nhân của người tiêu dùng phân loại và phân khúc khách hàng để cung ứng tốt hơn, đầy đủ, hợp lí cho các đối tượng khách hàng khác nhau.

3.1.8. Giải pháp đối với sản phẩm, dịch vụ của NHCSXH

a) Đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ tài chính của NHCSXH

Tiếp tục phát triển sâu các sản phẩm hiện có của NHCSXH như: Thanh toán, mở tài khoản, chuyển tiền trực tuyến… phù hợp với khả năng và điều kiện của người dân ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng cao, vùng xa; mở rộng đối tượng được vay vốn đến hộ có mức sống trung bình, các dự án sản xuất, kinh doanh với quy mô lớn, sản phẩm tạo ra theo chuỗi giá trị, phù hợp với điều kiện tự nhiên từng vùng miền, tạo động lực thúc đẩy người dân sản xuất hàng hóa có giá trị cao, góp phần tạo sinh kế, nâng cao thu nhập. Tập trung ưu tiên phát triển các sản phẩm tín dụng cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo; đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ tài chính của NHCSXH hướng tới tính tiện dụng, thích ứng và tính kết nối giữa các sản phẩm, có tính tới phân khúc khách hàng liên quan đến giới tính, độ tuổi, học vấn, nghề nghiệp. Gia tăng các sản phẩm hợp lí để phục vụ khách hàng ở khu vực nông thôn, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ, hợp tác xã; nghiên cứu, phát triển các sản phẩm thông minh áp dụng công nghệ tài chính, các sản phẩm có thể áp dụng qua điện thoại, máy tính, Internet như mở tài khoản từ xa, các dịch vụ thanh toán trên nền tảng điện tử, mở tiết kiệm điện tử.

Bên cạnh hình thức đảm bảo tiền vay bằng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, NHCSXH cần xem xét bổ sung hình thức đảm bảo tiền vay cầm cố tài sản. Điều này góp phần tăng cơ hội tiếp cận tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh và các đối tượng vay có đảm bảo bằng tài sản.

b) Đơn giản hóa các thủ tục giao dịch

NHCSXH cần tiếp tục đơn giản hóa các thủ tục hành chính, giảm thiểu các loại giấy tờ để tạo thuận lợi và thu hút người tiêu dùng có nhu cầu và khả năng sử dụng sản phẩm tài chính; hướng tới lấy khách hàng là trung tâm.

c) Đẩy mạnh công tác bảo vệ khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính

NHCSXH cần hướng dẫn cụ thể hơn nữa các quy định như: Thông tin về sản phẩm được công khai và minh bạch, cơ chế tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, cơ chế phản hồi thông tin cho khách hàng; tổ chức đào tạo nhiều hơn về cơ chế rủi ro, xử lí rủi ro để phòng ngừa các rủi ro bất khả kháng của các sản phẩm nông nghiệp, sản xuất, kinh doanh thua lỗ, thiên tai, dịch bệnh… dẫn đến các khoản vay được xếp vào nhóm rủi ro cao. Đồng thời, tăng cường các biện pháp phòng, chống các hành vi vi phạm, tội phạm lợi dụng các dịch vụ thanh toán ngân hàng điện tử trong phạm vi liên quan đến tài chính, ngân hàng; bảo vệ thông tin/dữ liệu của khách hàng; bảo vệ người sử dụng dịch vụ tài chính tránh khỏi bị truy thu từ tài khoản giao dịch, như bị chủ nợ siết nợ, hoặc các khoản truy thu khác…

3.2. Nhóm giải pháp đối với chủ thể sử dụng sản phẩm, dịch vụ là khách hàng của NHCSXH

3.2.1. Nâng cao hiểu biết về tài chính đối với người tiêu dùng, đặc biệt là đối tượng yếu thế


NHCSXH cần phối hợp mạnh mẽ hơn nữa với 4 tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác tại địa phương để tổ chức các khóa đào tạo hướng dẫn thủ tục cho vay, các dịch vụ của NHCSXH để giúp người dân hiểu rõ hơn, tiếp cận được với các nguồn vốn đầu tư. Bên cạnh đó, cần phân loại các nhóm đối tượng mục tiêu: Nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhóm người có thu nhập thấp, nhóm phụ nữ, nhóm thanh, thiếu niên, học sinh, nhóm người lao động, nhóm người khuyết tật… để có những chương trình đào tạo phù hợp; phối hợp với Hội sinh viên, Hội học sinh, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Hội hưu trí giúp triển khai các chương trình đào tạo, phổ biến các kiến thức về tài chính hoặc lồng ghép đào tạo và các hoạt động của hội. Các chương trình đào tạo phải được thiết kế đơn giản, dễ hiểu, có hình ảnh minh họa và hướng dẫn các đối tượng này tiếp cận với các dịch vụ tài chính như: Thanh toán, mở tài khoản, các sản phẩm tiết kiệm, cho vay và sản phẩm bảo hiểm. Bên cạnh đó, NHCSXH phối hợp với các Trường đại học (Học viện Ngân hàng, Kinh tế quốc dân...), Viện nghiên cứu về Giáo dục tài chính, Học viện Phụ nữ Việt Nam... để xây dựng, thực hiện đề án truyền thông và đào tạo về kiến thức tài chính cho khách hàng và các đối tượng có liên quan đến việc phối hợp thực hiện chính sách tín dụng nhằm tăng cường kiến thức, kĩ năng quản lí tài chính, nâng cao hiểu biết về sản phẩm, dịch vụ tài chính của người dân và khách hàng, từ đó tăng khả năng sử dụng, đánh giá lợi ích, rủi ro của các sản phẩm, dịch vụ tài chính cung ứng, giúp người tiêu dùng sáng suốt lựa chọn các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp với nhu cầu thực tế của cá nhân.

3.2.2. Hạn chế thói quen sử dụng tiền mặt

Số lượng người dân có thói quen tiêu dùng bằng tiền mặt hiện vẫn còn lớn, nhiều doanh nghiệp, tổ chức và người dân vẫn ưu tiên sử dụng các kênh truyền thống, e ngại dùng sản phẩm tài chính mới và hiện đại. Người dân thường dùng tiền mặt cho các khoản thanh toán, chi tiêu có giá trị nhỏ dẫn tới hạn chế trong tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ tài chính. NHCSXH cần có chiến lược tiếp cận các đối tượng này để tuyên truyền, giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ của NHCSXH như thu lãi, thu nợ, giải ngân bằng phương thức chuyển khoản, hướng tới dịch vụ gửi tiết kiệm online hay giải ngân qua chuyển khoản tại điểm giao dịch trong tương lai để tạo sự tin tưởng cho các khách hàng và loại bỏ dần thói quen sử dụng tiền mặt.

3.2.3. Tăng cường hơn nữa việc triển khai các dịch vụ hỗ trợ phi tài chính

Để khách hàng vay vốn sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả, từng bước thoát nghèo, vươn lên làm giàu và thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn, lãi cho NHCSXH, rất cần các hỗ trợ phi tài chính đi kèm các gói cho vay. Bởi khách hàng vay vốn của NHCSXH chủ yếu sống ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn nên điều kiện tiếp cận tiến bộ khoa học, kĩ thuật, các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học, kĩ thuật phục vụ phát triển sản xuất, cải thiện đời sống còn nhiều hạn chế. Các cán bộ NHCSXH và cán bộ hội, đoàn thể cần chủ động tìm kiếm và kết nối với các trung tâm khuyến nông, trạm thú y, trạm bảo vệ thực vật... tổ chức tập huấn chuyển giao khoa học kĩ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; phối hợp bồi dưỡng nghề, tư vấn giới thiệu việc làm cho người vay vốn; kết nối với các trường đại học, các tổ chức phi chính phủ và các hiệp hội để tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm; tổ chức các buổi tập huấn, bồi dưỡng kĩ năng quản lí tài chính cá nhân, đổi mới tư duy quản lí tài chính, tạo thói quen tiết kiệm để gửi tiền vào NHCSXH, tạo nguồn vốn trả nợ. Các hỗ trợ phi tài chính cần được tổ chức dưới nhiều hình thức đa dạng như: Đưa vào nội dung sinh hoạt chi hội, sinh hoạt tổ, tổ chức tọa đàm, hội thi, tập huấn, hội nghị, biên soạn tài liệu, tuyên truyền qua các phương tiện truyền thông như hệ thống loa truyền thanh cơ sở, nhóm Zalo, Facebook...

Tài liệu tham khảo:

1. Allen F, Carletti E, Cull R, Qian J, Senbet L, Valenzuela P. (2014). The african financial development and financial inclusion gaps. J Afr Econ 23(5): pages 614-642.

2. Beck, Thorsten, Asli Demirguc-Kunt, and Patrick Honohan (2008). Finance for All? Policies and Pitfalls in Expanding Access, Washington, DC: World Bank.

3. Báo cáo kết quả hoạt động của NHCSXH.

4. Cyn-Young, P. va Rogelio, M. (2015). Financial inclusion, poverty, and income inequality in developing Asia, No.426, Asian Development Bank.


TS. Trần Thị Thu Hường, ThS. Lê Thị Đức Hạnh, ThS. Phạm Văn Thắng

NHCSXH


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN). Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu lần đầu tiên nước ta có một ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sự ra đời này là kết quả của quá trình xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, mở ra bước phát triển mới về chất trong hoạt động tài chính - tiền tệ. Trải qua 75 năm xây dựng, củng cố và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế về giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro, qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chuyển đổi hiệu quả sang mô hình giám sát hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Chuyển đổi tư duy bảo vệ dữ liệu cá nhân: Xây văn hóa, củng cố niềm tin trong hoạt động ngân hàng

Chuyển đổi tư duy bảo vệ dữ liệu cá nhân: Xây văn hóa, củng cố niềm tin trong hoạt động ngân hàng

Sự hoàn thiện không ngừng của các quy định pháp lý đang giúp hệ thống ngân hàng định hình rõ nét chiến lược bảo vệ dữ liệu cá nhân, song cũng đặt ra không ít thách thức về quản lý sự thay đổi và nguồn lực triển khai. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) nhìn nhận đây là hành trình hoàn thiện công tác quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động ngân hàng. Hành trình này không chỉ dừng lại ở thay đổi các quy trình nghiệp vụ, mà sâu xa hơn, đây là quá trình nâng cao giá trị thương hiệu, mở ra cánh cửa để ngân hàng sẵn sàng trao đổi và chia sẻ dữ liệu trong hệ sinh thái mở.
Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam

Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam

Từ hào khí bất diệt của ngày 30/4 lịch sử đến nhịp sống sôi động của công cuộc kiến thiết đất nước hôm nay, ngành Ngân hàng đang tiếp nối tinh thần bất khuất và khát vọng vươn mình của dân tộc Việt Nam bằng những bước chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định vai trò trụ cột tài chính và động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trong kỷ nguyên mới.
Nhận thức về ngân hàng xanh và hành vi lựa chọn ngân hàng thân thiện môi trường tại Việt Nam

Nhận thức về ngân hàng xanh và hành vi lựa chọn ngân hàng thân thiện môi trường tại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của nhận thức ngân hàng xanh đến thái độ và hành vi lựa chọn của khách hàng Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò điều tiết của niềm tin môi trường trong việc thúc đẩy hành vi tài chính bền vững.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành