Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục góp phần quan trọng vào thành tựu chung của đất nước

Chính sách
Năm 2024, trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực có những biến động phức tạp nhưng kinh tế Việt Nam phục hồi tích cực, nằm trong nhóm các quốc gia tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới; lạm phát được kiểm soát tốt; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Nhiều tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế uy tín (như Fitch Rating, Moody’s, S&P) tiếp tục đánh giá tích cực về tình hình kinh tế của Việt Nam. Trong những thành công đó, có đóng góp quan trọng từ việc điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, NHNN tiếp tục phát huy những thành quả đạt được trong điều hành CSTT, tăng khả năng thích ứng với những biến động của môi trường kinh tế thế giới và trong nước để kiên định mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng, góp phần nâng cao tính độc lập tự chủ của nền kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đó là chia sẻ của Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà về điều hành CSTT nhân dịp Xuân Ất Tỵ 2025.
aa

Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà
Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà

Phóng viên: Thưa Phó Thống đốc, nhìn lại năm 2024, trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức nhưng điều hành CSTT của NHNN đã đạt hiệu quả trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế năm 2024 cũng như hỗ trợ doanh nghiệp, ổn định thị trường tài chính, xin ông chia sẻ thêm về điều này?

Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà: Năm 2024 là năm bứt phá có ý nghĩa đặc biệt quan trọng quyết định thành công việc thực hiện các mục tiêu trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025. Thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

Theo đó, NHNN đã điều tiết thanh khoản thị trường tiền tệ linh hoạt, phù hợp, vừa hỗ trợ ổn định tỉ giá, vừa ổn định thị trường tiền tệ; giữ nguyên các mức lãi suất điều hành của NHNN trong bối cảnh lãi suất thế giới vẫn neo ở mức cao; tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế.

Trên thị trường ngoại tệ, NHNN đã điều hành tỉ giá linh hoạt, phù hợp, góp phần hấp thu các cú sốc bên ngoài trong bối cảnh thị trường ngoại tệ và tỉ giá chịu áp lực lớn, đa chiều và thay đổi nhanh chóng.

Trong điều hành tín dụng, NHNN đã điều hành tăng trưởng tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng khoảng 15% năm 2024, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến tình hình thực tiễn, chỉ đạo các TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả. Cụ thể, để tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD cung ứng vốn cho nền kinh tế, ngày 31/12/2023, NHNN đã giao hết toàn bộ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 cho các TCTD và thông báo công khai nguyên tắc xác định để TCTD chủ động thực hiện tăng trưởng tín dụng. Trong năm 2024, NHNN đã chủ động thực hiện hai lần điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các TCTD vào ngày 28/8/2024 và ngày 28/11/2024 theo nguyên tắc cụ thể, bảo đảm công khai, minh bạch trong điều kiện lạm phát được kiểm soát tốt dưới mức mục tiêu để kịp thời đáp ứng vốn cho nền kinh tế, hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh.

Có thể thấy, trong môi trường quốc tế biến động, kinh tế thế giới phục hồi chưa bền vững, rủi ro lạm phát vẫn hiện hữu, Việt Nam có độ mở lớn và đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng điều hành CSTT vẫn thực hiện được những nhiệm vụ chính trị đặt ra, tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất cho vay hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ, ngoại tệ, tín dụng tăng trưởng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô. Kết quả này đã hỗ trợ thực hiện thành công các mục tiêu vĩ mô năm 2024 gồm tăng trưởng kinh tế cao hơn mục tiêu (khoảng 7%) và kiểm soát lạm phát ổn định (dưới 4%).

Phóng viên: Trong năm 2024, bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động, NHNN đã điều hành tỉ giá và lãi suất ra sao để hỗ trợ doanh nghiệp và ổn định thị trường tài chính, thưa Phó Thống đốc?

Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà: Năm 2024, bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động phức tạp. Ngoại trừ giai đoạn quý III áp lực đồng USD quốc tế giảm bớt do lạm phát thế giới giảm rõ ràng hơn, theo đó là các tín hiệu rõ hơn về xu hướng giảm lãi suất toàn cầu (trong đó có Cục Dự trữ Liên bang Mỹ - Fed) thì trong giai đoạn nửa đầu năm và từ đầu tháng 10 đến nay, áp lực quốc tế lên lãi suất, tỉ giá trong nước luôn ở mức cao, xuất phát từ các yếu tố khó lường (điều hành CSTT của Fed, bầu cử Tổng thống Mỹ, căng thẳng địa chính trị…), đồng USD quốc tế biến động nhanh, có những giai đoạn tăng mạnh, gây áp lực mất giá lên các đồng tiền, cộng hưởng với những áp lực từ trong nước như chênh lệch âm lãi suất giữa VND và USD trên thị trường liên ngân hàng trong một số thời điểm, cầu ngoại tệ cho nhập khẩu tăng cao...

Trong bối cảnh đó, NHNN điều hành tỉ giá linh hoạt, góp phần hấp thu các cú sốc bên ngoài; đồng thời, phối hợp đồng bộ các công cụ CSTT trong từng giai đoạn, bán can thiệp ngoại tệ khi cần thiết để hỗ trợ thanh khoản thị trường nhằm phục vụ các nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế, bình ổn thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Nhờ đó, thị trường ngoại tệ duy trì ổn định, thanh khoản ngoại tệ thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ; tỉ giá diễn biến linh hoạt theo cả hai chiều tăng/giảm, phù hợp với điều kiện thị trường.

Đồng thời, NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành trong năm 2024 sau khi giảm liên tục trong năm 2023 nhằm tạo điều kiện cho TCTD tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, góp phần hỗ trợ nền kinh tế. Đồng thời, NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD tiết giảm chi phí để giảm lãi suất cho vay; yêu cầu các TCTD công khai lãi suất cho vay bình quân, chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay bình quân cũng như thông tin về lãi suất cho vay các gói, chương trình tín dụng, sản phẩm (nếu có) trên trang thông tin điện tử của ngân hàng nhằm cung cấp thêm thông tin cho khách hàng tham khảo khi tiếp cận vốn vay. Kết quả, mặt bằng lãi suất cho vay có xu hướng giảm mạnh (năm 2023 giảm hơn 2,5%/năm so với cuối năm 2022 và đến ngày 30/11/2024, giảm trên 0,4%/năm so với cuối năm 2023; riêng 4 ngân hàng thương mại có vốn nhà nước gồm: Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), NHTMCP Công thương Việt Nam (VietinBank), mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm gần 1%). Qua đó, hỗ trợ doanh nghiệp và ổn định thị trường tài chính.

Phóng viên: Xin Phó Thống đốc cho biết thêm về định hướng điều hành CSTT của NHNN trong năm 2025, đặc biệt trong việc duy trì cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát?

Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà: Năm 2025 được dự báo tiếp tục là một năm đầy thách thức khi kinh tế toàn cầu vẫn còn nhiều yếu tố bất định và tiềm ẩn rủi ro. Lạm phát toàn cầu giảm nhưng chưa bền vững và tiềm ẩn rủi ro áp lực tăng trong bối cảnh độ mở của nền kinh tế Việt Nam rất lớn; giá cả hàng hóa thế giới biến động phức tạp do tác động của diễn biến địa chính trị phức tạp, xu hướng gia tăng về an ninh lương thực tại các quốc gia, tác động của thiên tai, thời tiết cực đoan... Trong khi đó, kinh tế trong nước vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, hạn chế xuất phát từ nội tại của nền kinh tế như những khó khăn trên thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp chưa thể giải quyết ngay; sức hấp thụ vốn tín dụng của nền kinh tế còn thấp khi nhiều doanh nghiệp thu hẹp hoặc ngừng sản xuất do thiếu đơn hàng, giải thể, đóng cửa, sức khỏe tài chính giảm sút, đặc biệt là sau khi chịu tác động của đại dịch Covid-19, cùng với đó là xu hướng thắt chặt, cắt giảm chi tiêu của người dân...

Về phía NHNN, có thể thấy, mặc dù trong những năm qua, sự thành công trong điều hành CSTT với mục tiêu kiểm soát lạm phát đã nâng cao uy tín của NHNN cũng như neo giữ kỳ vọng lạm phát tương đối vững chắc nhưng rủi ro lạm phát năm 2025 là không thể chủ quan, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều bất định. Việc đánh giá thấp rủi ro lạm phát, dẫn đến phản ứng chậm trong CSTT có thể dẫn đến hệ quả, tác động tiêu cực lên các hoạt động kinh tế. Theo đó, để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 như Quốc hội, Chính phủ đề ra, cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa CSTT, chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để hướng tới phát triển kinh tế bền vững, hài hòa các mục tiêu kinh tế vĩ mô, bảo đảm giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế.

Trong bối cảnh đó, công tác điều hành CSTT năm 2025 của NHNN sẽ tập trung vào một số giải pháp trọng tâm, cơ bản sau đây:

Thứ nhất, tiếp tục theo dõi sát diễn biến, tình hình kinh tế thế giới, trong nước để điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm hỗ trợ ưu tiên tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, đồng thời góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

Thứ hai, điều hành các công cụ CSTT linh hoạt, bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, góp phần ổn định thị trường tiền tệ, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống TCTD. Điều hành lãi suất, tỉ giá phù hợp với cân đối vĩ mô, lạm phát và mục tiêu CSTT.

Thứ ba, tiếp tục thực hiện các giải pháp tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế. Chỉ đạo các TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đặc thù đối với một số ngành, lĩnh vực theo chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Phóng viên: Phó Thống đốc có nhận định gì về vai trò của ngành Ngân hàng trong việc hỗ trợ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm tiếp theo với kỳ vọng tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số?

Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà: Nhìn lại 40 năm đổi mới, đất nước đã dành được những thắng lợi to lớn, quy mô kinh tế đất nước tăng 96 lần, từ một nước nghèo và lạc hậu trở thành nước đứng vào nhóm 34 nền kinh tế có quy mô lớn nhất trên thế giới (năm 2023), khẳng định được cơ đồ và vị thế, trở thành đối tác hợp tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với các cường quốc khu vực và trên thế giới, tạo tiền đề vững chắc tiến vào kỷ nguyên mới. Trong 4 thập kỷ đó, đóng góp vào thành tựu chung của đất nước, ngành Ngân hàng đã đạt được kết quả toàn diện trên mọi mặt hoạt động, từ đó góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối đến củng cố, phát triển an toàn, lành mạnh hệ thống các TCTD, mở rộng hợp tác quốc tế, đổi mới và nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng ngày càng hiệu quả hơn nhu cầu vốn cho nền kinh tế...

Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ ra 7 nhiệm vụ lớn phải làm từ nay đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và trong kỷ nguyên mới, trong đó tập trung vào 3 nhiệm vụ để giải quyết 3 điểm nghẽn lớn về thể chế, hạ tầng, nhân lực. Các nhiệm vụ này phải được tiến hành đồng bộ, nhưng nhiệm vụ đầu tiên phải làm cho chuyển biến ngay chính là thể chế, để từ đó có cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại, từ hạ tầng kinh tế đến hạ tầng xã hội, toàn Đảng, toàn dân một ý chí, một hành động để thực hiện.

Trong bối cảnh đó, ngành Ngân hàng sẽ tiếp nối truyền thống hơn 70 năm hình thành và phát triển, trong đó tập trung:

Thứ nhất, nâng cao hiệu quả điều hành CSTT, tăng khả năng thích ứng với những biến động của môi trường kinh tế thế giới và trong nước để kiên định mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần nâng cao tính độc lập tự chủ của nền kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ hai, thực hiện tái cơ cấu và củng cố hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn và lành mạnh, hiệu quả, tiệm cận tới các chuẩn mực quốc tế, để thực hiện tốt hơn vai trò chu chuyển vốn và nâng cao tính minh bạch trong nền kinh tế.

Thứ ba, hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng phù hợp với bối cảnh mới.

Thứ tư, phát triển và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, tăng cường đổi mới, sáng tạo, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phục vụ tiện ích cho doanh nghiệp và người dân, góp phần vào chủ trương thúc đẩy quá trình chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số…

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Phó Thống đốc!

Hà Trang
(thực hiện)

Tin bài khác

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Luật Thương mại điện tử năm 2025 ra đời trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ đã tạo ra những thay đổi quan trọng đối với hệ sinh thái thương mại điện tử, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm phát huy vai trò của hệ thống tài chính - ngân hàng và bảo đảm an toàn, ổn định cho nền kinh tế số Việt Nam.
Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Ngày 01/01/2026, Văn phòng Quốc hội công bố 10 sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc ban hành các văn bản pháp luật đã phần nào đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (viết tắt là cơ chế thử nghiệm), đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, để cơ chế thử nghiệm thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý tổng thể, thiết lập quy trình minh bạch, cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.
Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Bài viết phân tích thực trạng, nguyên nhân và khẳng định sự cần thiết đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng áp dụng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicators - KPI), đồng thời đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với khu vực công.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bài viết làm rõ triển vọng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đồng thời chỉ ra những điều kiện then chốt để mô hình này phát triển hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Tài chính xanh chỉ có thể phát huy hiệu quả khi dòng vốn được phân bổ đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và thực chất, nhằm bảo đảm tín dụng xanh không chỉ là trách nhiệm với cộng đồng mà còn trở thành cơ hội chiến lược để các ngân hàng định vị hướng phát triển bền vững của mình.
Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm tiền gửi trong mạng lưới an toàn tài chính quốc gia

Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm tiền gửi trong mạng lưới an toàn tài chính quốc gia

Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/5/2026, đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong khuôn khổ pháp lý bảo vệ người gửi tiền tại Việt Nam. Trong bối cảnh hệ thống tài chính - ngân hàng phát triển theo chiều sâu và rủi ro lan truyền gia tăng, bảo hiểm tiền gửi đang được tái định vị như một công cụ chính sách chủ động nhằm quản trị rủi ro hệ thống và củng cố niềm tin thị trường.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Xem thêm
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Luật Thương mại điện tử năm 2025 ra đời trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ đã tạo ra những thay đổi quan trọng đối với hệ sinh thái thương mại điện tử, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm phát huy vai trò của hệ thống tài chính - ngân hàng và bảo đảm an toàn, ổn định cho nền kinh tế số Việt Nam.
Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Các sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025

Ngày 01/01/2026, Văn phòng Quốc hội công bố 10 sự kiện, hoạt động tiêu biểu của Quốc hội năm 2025
Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Kiến thiết và vận hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Kinh nghiệm từ Anh, Hàn Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc ban hành các văn bản pháp luật đã phần nào đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (viết tắt là cơ chế thử nghiệm), đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, để cơ chế thử nghiệm thực sự phát huy hiệu quả, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý tổng thể, thiết lập quy trình minh bạch, cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.
Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Bài viết phân tích thực trạng, nguyên nhân và khẳng định sự cần thiết đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng áp dụng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicators - KPI), đồng thời đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với khu vực công.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bài viết làm rõ triển vọng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đồng thời chỉ ra những điều kiện then chốt để mô hình này phát triển hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế  và khuyến nghị đối với Việt Nam

Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh xét theo cả quy mô giao dịch và mức độ phổ cập trong đời sống tài chính, yêu cầu hoàn thiện khung phòng, chống rửa tiền trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, bởi các chỉ dấu khách quan cho thấy Việt Nam vừa nằm trong nhóm quốc gia có giá trị giao dịch trên chuỗi rất lớn.
Pháp luật Liên minh châu Âu  về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Pháp luật Liên minh châu Âu về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Dữ liệu cá nhân giữ vai trò nền tảng trong thương mại điện tử, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động tương tác và kinh doanh trên môi trường số. Bài viết phân tích quy định của EU (đặc biệt là GDPR 2016), đánh giá tác động thực thi, so sánh với pháp luật Việt Nam để chỉ ra bất cập và đề xuất hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng