Chuẩn hóa về hạ tầng kết nối và an toàn thông tin để phát triển mô hình ngân hàng mở

Công nghệ & ngân hàng số
Ngân hàng mở đang trở thành một xu hướng nổi bật trong ngành tài chính, mang đến nhiều cơ hội phát triển và cải thiện trải nghiệm khách hàng thông qua sự kết nối giữa ngân hàng và bên thứ ba.
aa

Việc triển khai ngân hàng mở (Open Banking) tại Việt Nam cần được luật hóa, quy định cụ thể, rõ ràng cả về tiêu chuẩn Giao diện lập trình ứng dụng (Application Programming Interface - API), sự chấp thuận của khách hàng, yêu cầu bảo mật, an toàn thông tin, yêu cầu vận hành và lộ trình tham gia hạ tầng ngân hàng mở đối với các ngân hàng, tổ chức tài chính.

Ngân hàng mở đang trở thành một xu hướng nổi bật trong ngành tài chính, mang đến nhiều cơ hội phát triển và cải thiện trải nghiệm khách hàng thông qua sự kết nối giữa ngân hàng và bên thứ ba. Một trong những công nghệ đột phá gắn với cách mạng công nghiệp 4.0 cho phép kết nối, chia sẻ dữ liệu qua API mở (Open API) đã được một số ngân hàng Việt Nam nghiên cứu, triển khai ứng dụng vào hoạt động thanh toán, nhận biết khách hàng điện tử, cung ứng sản phẩm, dịch vụ tài chính sáng tạo.


Ngân hàng mở là xu hướng mới trong tài chính, giúp kết nối dữ liệu qua Open API, cải thiện thanh toán
và cung cấp dịch vụ sáng tạo (Nguồn ảnh: Internet)


Open API - mở đường cho các giải pháp công nghệ sáng tạo trong ngành Ngân hàng

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), đến cuối năm 2023, có trên 72% tổ chức tín dụng (TCTD) đã và đang dự tính triển khai các API, trong đó gần 48% đã xây dựng API để cho các bên thứ ba kết nối; khoảng 65% các TCTD sẵn sàng triển khai Open API, trong đó trên 30% TCTD có mức độ sẵn sàng cao đối với Open API. Nhiều TCTD đã xây dựng API cho phép các bên thứ ba kết nối, triển khai API Portal để các đối tác có thể kết nối vào hệ sinh thái ngân hàng. Nhiều nhà cung cấp giải pháp ứng dụng Open API.

Trong xu thế phát triển công nghệ hiện nay, API là giao thức kết nối quan trọng có tính ứng dụng cao, giúp cho việc chia sẻ dữ liệu và xây dựng giải pháp công nghệ cũng như quá trình tương tác giữa các hệ thống trở nên thuận tiện và thông suốt. Quá trình kết nối, chia sẻ dữ liệu dựa trên API sẽ giúp cho ngân hàng và đối tác tạo nên giải pháp công nghệ mới, sản phẩm, dịch vụ liên kết tận dụng được ưu thế và đặc thù riêng có của hệ sinh thái mỗi bên. Ở Việt Nam, dù chưa có chuẩn mực chung về kỹ thuật API nhưng nhiều ngân hàng đã chủ động triển khai các cổng Open API để tích hợp dịch vụ với công ty Fintech, đối tác cung ứng dịch vụ.

Chẳng hạn, Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) Công thương Việt Nam (VietinBank) - một trong những ngân hàng tiên phong trong chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ hiện đại, đã xác định mô hình ngân hàng mở là trọng điểm trong việc cung cấp dịch vụ tài chính số. Với mục tiêu hợp tác đa lĩnh vực và tích hợp công nghệ toàn diện với các doanh nghiệp, công ty Fintech, VietinBank đã phát triển nền tảng Open API mang tên VietinBank iConnect. Thông qua iConnect, khách hàng có thể truy cập và tích hợp nhiều dịch vụ tài chính đã được số hóa của VietinBank, từ tài khoản, thanh toán, đến quản lý dòng tiền.

Đăng ký tài khoản tại VietinBank iConnect, khách hàng sẽ được tự do khám phá danh mục API, chức năng hiện có của VietinBank cũng như được giới thiệu các API mới nhất do VietinBank phát triển. VietinBank iConnect hiện đang cung cấp hàng trăm API để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, một số nhóm API chính bao gồm: (i) Tài chính: Mở tài khoản, mở thẻ, gửi tiết kiệm, đăng ký vay vốn, quản lý thông tin tài chính; (ii) Quản lý dòng tiền: Thu hộ, chi hộ, kết nối hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP); (iii) Thanh toán: Thanh toán hóa đơn, chuyển tiền, tích hợp cổng thanh toán, thanh toán qua QRCode, POS; (iv) Fintech: Kết nối ví điện tử, nạp, rút, hỗ trợ chuyển tiền...

Về vấn đề bảo mật, theo VietinBank, tất cả API được chia sẻ trên iConnect đều căn cứ trên cơ sở đồng ý hoặc ủy quyền của khách hàng cho quá trình kết nối và sử dụng dịch vụ. VietinBank sử dụng các tiêu chuẩn bảo mật quốc tế như OAuth2, OpenID Connect kết hợp với các hình thức OTP để xác thực khách hàng. Nhằm bảo đảm tính bảo mật, tất cả API đều được kiểm tra tấn công thường xuyên, để có thể hợp tác và kết nối đa dạng hơn với những đối tác trong các ngành nghề, lĩnh vực.

Còn tại NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), hệ thống BIDV Open API được xây dựng trên 4 module chính, gồm API Manager (quản lý và giám sát API), API Gateway (xử lý tích hợp giữa các hệ thống), API Analytics (phân tích dữ liệu hệ thống phục vụ cho báo cáo thời gian thực) và BIDV Open API Portal (trang trực tuyến dành cho nhà lập trình tìm hiểu và trải nghiệm API). BIDV đã công bố 15 gói API với nhiều tính năng phổ biến, bao gồm truy vấn thông tin ngân hàng, BIDV QR, eKYC, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn và tích hợp ví điện tử.

Những gói API này không chỉ đáp ứng nhu cầu giao dịch điện tử của khách hàng mà còn tạo ra sự tiện lợi và an toàn trong các hoạt động tài chính số. Các công ty Fintech sử dụng gói API của BIDV để tích hợp trực tiếp những dịch vụ tài chính vào nền tảng của mình, giúp người dùng thực hiện giao dịch như thanh toán, chuyển tiền và quản lý tài chính một cách liền mạch, tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng và mở ra cơ hội sáng tạo các giải pháp mới. Open API còn được BIDV sử dụng để phát triển sản phẩm mới như cho vay và thẻ tín dụng số, thẻ ghi nợ kết nối trực tiếp với ví điện tử. Điều này giúp khách hàng có thể dễ dàng quản lý chi tiêu và thực hiện các giao dịch mua sắm, thanh toán trực tuyến thông qua nền tảng ví điện tử, đáp ứng nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính số một cách toàn diện và linh hoạt.

Ngân hàng mở tại BIDV không chỉ dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ nội bộ mà còn mở rộng khả năng tích hợp với dịch vụ thanh toán của bên thứ ba như: ZaloPay, MoMo, ApplePay… Việc tích hợp này giúp người dùng thẻ BIDV có thể thanh toán linh hoạt, dễ dàng sử dụng ví điện tử hoặc phương thức thanh toán hiện đại ngay trên các ứng dụng quen thuộc của mình. Trong năm 2024, BIDV đã hỗ trợ nền tảng thanh toán thẻ qua Ví ApplePay - chỉ cần chạm nhẹ điện thoại thông minh là có thể hoàn thành giao dịch thẻ nhanh chóng và an toàn. Tất cả những yếu tố này không chỉ tạo ra sự liền mạch và thuận tiện, mà còn giúp BIDV xây dựng một hệ sinh thái tài chính số hoàn chỉnh, đáp ứng tối đa nhu cầu ngày càng cao của khách hàng trong thời đại kỹ thuật số.

Để bảo đảm an toàn trong các giao dịch trực tuyến, BIDV đã triển khai nhiều công nghệ tiên tiến nhằm bảo vệ thông tin cá nhân và tài chính của khách hàng. Một trong những công nghệ nổi bật là Tokenization, phương pháp mã hóa thông tin thẻ bằng cách thay thế dữ liệu thẻ thật bằng các “token - thẻ bảo mật” giúp giảm thiểu nguy cơ thông tin thẻ bị đánh cắp trong quá trình giao dịch. Điều này giúp ngăn chặn các hành vi gian lận và bảo vệ dữ liệu khách hàng tốt hơn.

Ngoài ra, BIDV còn sử dụng hệ thống xác thực hai yếu tố (2FA), yêu cầu người dùng cung cấp thêm một lớp thông tin xác thực thứ hai để hoàn tất giao dịch. Thông qua công nghệ xác thực giao dịch trực tuyến 3D Secure, người dùng nhận được thêm một lớp xác minh từ ngân hàng trước khi giao dịch được hoàn tất, giúp ngăn chặn các hành vi gian lận.

Việc triển khai công nghệ ngân hàng mở mang đến nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức với ngân hàng Việt Nam. Vấn đề bảo mật và quyền riêng tư là một yếu tố hàng đầu, khi cần bảo đảm rằng dữ liệu người dùng được bảo vệ an toàn trước các nguy cơ từ bên ngoài. Cùng với đó, tích hợp công nghệ hiện đại đòi hỏi ngân hàng phải đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật tiên tiến để hỗ trợ ngân hàng mở hoạt động hiệu quả. Cạnh tranh từ công ty Fintech cũng là một thách thức lớn khi những công ty này có khả năng cung cấp dịch vụ thẻ nhanh và sáng tạo hơn, buộc ngân hàng truyền thống phải không ngừng cải tiến để giữ vững thị phần. Trong khi đó, Việt Nam chưa có tiêu chuẩn chung về hạ tầng công nghệ và kết nối cũng như hành lang pháp lý về ngân hàng mở còn chưa hoàn chỉnh, chưa có quy định về giám sát để bảo đảm an ninh, an toàn, chống lộ, lọt thông tin của khách hàng ra ngoài.

Bảo mật thông tin và dữ liệu khách hàng là ưu tiên hàng đầu

Về khía cạnh pháp lý, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho ngân hàng mở, bao gồm Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật Các TCTD năm 2024, cùng nhiều nghị định và thông tư khác nhằm bảo vệ dữ liệu cá nhân, tăng cường bảo mật và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. NHNN cũng đang trong quá trình nghiên cứu, ban hành các quy định mới về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng, về triển khai Open API, mở đường cho những sáng kiến sáng tạo trong ngành Ngân hàng.

Tuy nhiên, quá trình triển khai ngân hàng mở sẽ đòi hỏi rất nhiều nỗ lực và công việc cần thực hiện. Về mặt kỹ thuật, để chuyển đổi số có thể phát triển bền vững, ngành Ngân hàng cần phải thiết lập sự kết nối chặt chẽ với tất cả các lĩnh vực kinh tế. Điều này đồng nghĩa với việc kiến thức về ngân hàng mở và Open API không chỉ dừng lại trong khuôn khổ ngành Ngân hàng, mà còn phải được áp dụng sâu rộng trong mọi ngành nghề và lĩnh vực kinh tế. Đây là một yêu cầu bắt buộc, đòi hỏi mỗi chúng ta đều phải hiểu rõ và thực hiện quá trình chuyển đổi này.

Việc triển khai ngân hàng mở tại Việt Nam cần được xây dựng thành luật, với những quy định chi tiết, rõ ràng về tiêu chuẩn API, sự chấp thuận của khách hàng, cũng như các yêu cầu nghiêm ngặt về bảo mật thông tin, an toàn dữ liệu. Đồng thời, các quy định này cũng phải xác định rõ các yêu cầu vận hành và lộ trình tham gia hạ tầng ngân hàng mở cho các ngân hàng và tổ chức tài chính.

Thời gian tới, về phía NHNN cần tiếp tục: (i) Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng, bảo mật thông tin, dữ liệu khách hàng, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát việc ứng dụng công nghệ, cung ứng sản phẩm, dịch vụ và triển khai mô hình kinh doanh mới; (ii) Trình Chính phủ ban hành những nghị định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng (Sandbox)…; (iii) Sớm ban hành các thông tư về Open API; (iv) Rà soát sửa đổi, ban hành quy định về hoạt động thanh toán; giao dịch điện tử và an ninh an toàn bảo mật, biện pháp xác thực giao dịch; tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn dữ liệu, API; (v) Phối hợp các bộ, ngành liên quan (như Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an) để xây dựng quy định về giám sát để bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, chống lộ, lọt thông tin của khách hàng ra ngoài, phối hợp trong phát hiện, ngăn chặn, xử lý tội phạm công nghệ cao; (vi) Cần triển khai hiệu quả và đồng bộ hệ thống phòng, chống tấn công mạng; đẩy mạnh truyền thông để hướng dẫn khách hàng hiểu rõ về quy trình thực hiện,bảo mật thông tin và nhận biết để phòng, tránh những rủi ro lừa đảo, gian lận..; tăng cường cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin giữa các bên để kịp thời hỗ trợ xử lý những vướng mắc, sự cố phát sinh trong quá trình sử dụng dịch vụ; (vii) Tiếp tục chỉ đạo các TCTD tăng cường các giải pháp về an toàn, an ninh thông tin và khả năng tích hợp kết nối hạ tầng công nghệ của toàn Ngành; khuyến khích các TCTD, trung gian thanh toán xây dựng, phát triển API mở và kết nối với các đối tác để cung ứng sản phẩm dịch vụ an toàn, tiện ích…

Có thể nói, việc triển khai thành công khung pháp lý cho Open API sẽ tạo điều kiện cho cộng đồng Fintech cung cấp các dịch vụ sáng tạo mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng theo kịp với sự phát triển trên toàn thế giới về cung cấp dịch vụ ngân hàng. Đồng thời khi chuẩn hóa danh sách API mà ngân hàng có thể cung cấp và có tiêu chuẩn chung về nền tảng kỹ thuật cũng như pháp lý rõ ràng cho việc cung cấp API của các bên thì thị trường tài chính - ngân hàng sẽ thực sự phát triển được mô hình ngân hàng mở.

Tài liệu tham khảo:


1. https://www.sbv.gov.vn
2. https://bidv.com.vn/
3. https://www
.vietinbank.vn/

Hà Trang (Hà Nội)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Hoàn thiện pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hành trình chuyển đổi số ngân hàng

Hoàn thiện pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hành trình chuyển đổi số ngân hàng

Ngành Ngân hàng luôn tiên phong trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) góp phần nâng cao trải nghiệm khách hàng, đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động ngân hàng. Trong bối cảnh tội phạm công nghệ cao ngày càng tinh vi, công tác phòng chống gian lận, bảo vệ người tiêu dùng nói riêng và bảo đảm an ninh, an toàn giao dịch điện tử nói chung là yếu tố then chốt, sống còn của chuyển đổi số. Thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý hỗ trợ các ngân hàng, định chế tài chính và công ty công nghệ tài chính phát triển AI, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số ngân hàng, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia.
Chuyển đổi số ngân hàng: Tiếp tục ưu tiên phát triển hạ tầng số, kết nối liên thông dữ liệu

Chuyển đổi số ngân hàng: Tiếp tục ưu tiên phát triển hạ tầng số, kết nối liên thông dữ liệu

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên số, ngành Ngân hàng đã khẳng định vị thế tiên phong thông qua việc hiện thực hóa các chủ trương của Đảng và Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo ra những nền tảng vững chắc về dữ liệu và công nghệ, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế số và xã hội số của đất nước. Thời gian tới, bên cạnh hoàn thiện hành lang pháp lý, hạ tầng công nghệ, ngành Ngân hàng tiếp tục đầu tư vào phát triển hạ tầng số, kết nối liên thông dữ liệu nhằm đảm bảo an ninh, an toàn và bảo mật hoạt động thanh toán, ngân hàng; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Ứng dụng phân tích dữ liệu và học máy nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ chống rửa tiền trong ngân hàng

Ứng dụng phân tích dữ liệu và học máy nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ chống rửa tiền trong ngân hàng

Bài viết phân tích vai trò của phân tích dữ liệu và học máy trong nâng cao hiệu quả tuân thủ chống rửa tiền tại ngân hàng, qua đó giúp cải thiện độ chính xác phát hiện giao dịch đáng ngờ, giảm cảnh báo giả và hỗ trợ chuyển đổi từ cách tiếp cận phản ứng sang chủ động theo các chuẩn mực quốc tế.
Thành công trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 - Nền tảng cho phát triển an toàn, bền vững hệ thống tài chính

Thành công trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 - Nền tảng cho phát triển an toàn, bền vững hệ thống tài chính

Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu và là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với ngành Ngân hàng, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu nội tại nhằm hiện đại hóa hoạt động quản lý, điều hành và kinh doanh, mà còn giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy kinh tế số, tài chính toàn diện và cải cách hành chính.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp cận tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số

Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp cận tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số

Bài viết tập trung làm rõ những rào cản trong tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong bối cảnh chuyển đổi số, đồng thời đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính - ngân hàng theo hướng đồng hành, hỗ trợ hiệu quả hơn cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững.
Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) vừa công bố tài liệu giới thiệu cơ bản về các quỹ thị trường tiền mã hóa (TMMF). Bài viết đánh giá tiềm năng sử dụng, giải thích mô hình hoạt động của các quỹ cơ bản, ghi chép tốc độ và cấu thành thị trường TMMF. Theo đó, bài viết cũng giải thích các nguồn và gợi ý các mối liên kết TMMF với Stablecoins (một loại tiền điện tử được gắn với một giá trị tham chiếu, phổ biến nhất là đồng USD), nhấn mạnh rủi ro hoạt động liên quan đến sai lệch thanh khoản, khả năng kết nối và vận hành.
Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm

Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm

Bài viết tổng hợp và phân tích các nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm rõ tác động của công nghệ Blockchain đối với hiệu quả hoạt động, an ninh và tính minh bạch trong lĩnh vực ngân hàng, đồng thời chỉ ra những thách thức và hàm ý chính sách trong quá trình triển khai công nghệ này.
Xem thêm
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế

Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế

Bài viết phân tích những điểm mới của Thông tư số 83/2025/TT-NHNN về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng trên cơ sở Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và chuẩn mực Basel, qua đó làm rõ các yêu cầu tăng cường quản trị rủi ro, dữ liệu rủi ro, kiểm tra sức chịu đựng và quản lý rủi ro mô hình nhằm nâng cao an toàn hoạt động và ổn định hệ thống ngân hàng.
Quản trị rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trước biến động địa chính trị toàn cầu

Quản trị rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trước biến động địa chính trị toàn cầu

Bài viết phân tích rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trong bối cảnh biến động địa chính trị toàn cầu gia tăng, qua đó làm rõ mối liên hệ giữa an ninh năng lượng và ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất các giải pháp chiến lược về dự trữ quốc gia và công cụ tài chính phái sinh nhằm tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế.
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành