Chuẩn hóa về hạ tầng kết nối và an toàn thông tin để phát triển mô hình ngân hàng mở

Công nghệ & ngân hàng số
Ngân hàng mở đang trở thành một xu hướng nổi bật trong ngành tài chính, mang đến nhiều cơ hội phát triển và cải thiện trải nghiệm khách hàng thông qua sự kết nối giữa ngân hàng và bên thứ ba.
aa

Việc triển khai ngân hàng mở (Open Banking) tại Việt Nam cần được luật hóa, quy định cụ thể, rõ ràng cả về tiêu chuẩn Giao diện lập trình ứng dụng (Application Programming Interface - API), sự chấp thuận của khách hàng, yêu cầu bảo mật, an toàn thông tin, yêu cầu vận hành và lộ trình tham gia hạ tầng ngân hàng mở đối với các ngân hàng, tổ chức tài chính.

Ngân hàng mở đang trở thành một xu hướng nổi bật trong ngành tài chính, mang đến nhiều cơ hội phát triển và cải thiện trải nghiệm khách hàng thông qua sự kết nối giữa ngân hàng và bên thứ ba. Một trong những công nghệ đột phá gắn với cách mạng công nghiệp 4.0 cho phép kết nối, chia sẻ dữ liệu qua API mở (Open API) đã được một số ngân hàng Việt Nam nghiên cứu, triển khai ứng dụng vào hoạt động thanh toán, nhận biết khách hàng điện tử, cung ứng sản phẩm, dịch vụ tài chính sáng tạo.


Ngân hàng mở là xu hướng mới trong tài chính, giúp kết nối dữ liệu qua Open API, cải thiện thanh toán
và cung cấp dịch vụ sáng tạo (Nguồn ảnh: Internet)


Open API - mở đường cho các giải pháp công nghệ sáng tạo trong ngành Ngân hàng

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), đến cuối năm 2023, có trên 72% tổ chức tín dụng (TCTD) đã và đang dự tính triển khai các API, trong đó gần 48% đã xây dựng API để cho các bên thứ ba kết nối; khoảng 65% các TCTD sẵn sàng triển khai Open API, trong đó trên 30% TCTD có mức độ sẵn sàng cao đối với Open API. Nhiều TCTD đã xây dựng API cho phép các bên thứ ba kết nối, triển khai API Portal để các đối tác có thể kết nối vào hệ sinh thái ngân hàng. Nhiều nhà cung cấp giải pháp ứng dụng Open API.

Trong xu thế phát triển công nghệ hiện nay, API là giao thức kết nối quan trọng có tính ứng dụng cao, giúp cho việc chia sẻ dữ liệu và xây dựng giải pháp công nghệ cũng như quá trình tương tác giữa các hệ thống trở nên thuận tiện và thông suốt. Quá trình kết nối, chia sẻ dữ liệu dựa trên API sẽ giúp cho ngân hàng và đối tác tạo nên giải pháp công nghệ mới, sản phẩm, dịch vụ liên kết tận dụng được ưu thế và đặc thù riêng có của hệ sinh thái mỗi bên. Ở Việt Nam, dù chưa có chuẩn mực chung về kỹ thuật API nhưng nhiều ngân hàng đã chủ động triển khai các cổng Open API để tích hợp dịch vụ với công ty Fintech, đối tác cung ứng dịch vụ.

Chẳng hạn, Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) Công thương Việt Nam (VietinBank) - một trong những ngân hàng tiên phong trong chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ hiện đại, đã xác định mô hình ngân hàng mở là trọng điểm trong việc cung cấp dịch vụ tài chính số. Với mục tiêu hợp tác đa lĩnh vực và tích hợp công nghệ toàn diện với các doanh nghiệp, công ty Fintech, VietinBank đã phát triển nền tảng Open API mang tên VietinBank iConnect. Thông qua iConnect, khách hàng có thể truy cập và tích hợp nhiều dịch vụ tài chính đã được số hóa của VietinBank, từ tài khoản, thanh toán, đến quản lý dòng tiền.

Đăng ký tài khoản tại VietinBank iConnect, khách hàng sẽ được tự do khám phá danh mục API, chức năng hiện có của VietinBank cũng như được giới thiệu các API mới nhất do VietinBank phát triển. VietinBank iConnect hiện đang cung cấp hàng trăm API để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, một số nhóm API chính bao gồm: (i) Tài chính: Mở tài khoản, mở thẻ, gửi tiết kiệm, đăng ký vay vốn, quản lý thông tin tài chính; (ii) Quản lý dòng tiền: Thu hộ, chi hộ, kết nối hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP); (iii) Thanh toán: Thanh toán hóa đơn, chuyển tiền, tích hợp cổng thanh toán, thanh toán qua QRCode, POS; (iv) Fintech: Kết nối ví điện tử, nạp, rút, hỗ trợ chuyển tiền...

Về vấn đề bảo mật, theo VietinBank, tất cả API được chia sẻ trên iConnect đều căn cứ trên cơ sở đồng ý hoặc ủy quyền của khách hàng cho quá trình kết nối và sử dụng dịch vụ. VietinBank sử dụng các tiêu chuẩn bảo mật quốc tế như OAuth2, OpenID Connect kết hợp với các hình thức OTP để xác thực khách hàng. Nhằm bảo đảm tính bảo mật, tất cả API đều được kiểm tra tấn công thường xuyên, để có thể hợp tác và kết nối đa dạng hơn với những đối tác trong các ngành nghề, lĩnh vực.

Còn tại NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), hệ thống BIDV Open API được xây dựng trên 4 module chính, gồm API Manager (quản lý và giám sát API), API Gateway (xử lý tích hợp giữa các hệ thống), API Analytics (phân tích dữ liệu hệ thống phục vụ cho báo cáo thời gian thực) và BIDV Open API Portal (trang trực tuyến dành cho nhà lập trình tìm hiểu và trải nghiệm API). BIDV đã công bố 15 gói API với nhiều tính năng phổ biến, bao gồm truy vấn thông tin ngân hàng, BIDV QR, eKYC, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn và tích hợp ví điện tử.

Những gói API này không chỉ đáp ứng nhu cầu giao dịch điện tử của khách hàng mà còn tạo ra sự tiện lợi và an toàn trong các hoạt động tài chính số. Các công ty Fintech sử dụng gói API của BIDV để tích hợp trực tiếp những dịch vụ tài chính vào nền tảng của mình, giúp người dùng thực hiện giao dịch như thanh toán, chuyển tiền và quản lý tài chính một cách liền mạch, tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng và mở ra cơ hội sáng tạo các giải pháp mới. Open API còn được BIDV sử dụng để phát triển sản phẩm mới như cho vay và thẻ tín dụng số, thẻ ghi nợ kết nối trực tiếp với ví điện tử. Điều này giúp khách hàng có thể dễ dàng quản lý chi tiêu và thực hiện các giao dịch mua sắm, thanh toán trực tuyến thông qua nền tảng ví điện tử, đáp ứng nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính số một cách toàn diện và linh hoạt.

Ngân hàng mở tại BIDV không chỉ dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ nội bộ mà còn mở rộng khả năng tích hợp với dịch vụ thanh toán của bên thứ ba như: ZaloPay, MoMo, ApplePay… Việc tích hợp này giúp người dùng thẻ BIDV có thể thanh toán linh hoạt, dễ dàng sử dụng ví điện tử hoặc phương thức thanh toán hiện đại ngay trên các ứng dụng quen thuộc của mình. Trong năm 2024, BIDV đã hỗ trợ nền tảng thanh toán thẻ qua Ví ApplePay - chỉ cần chạm nhẹ điện thoại thông minh là có thể hoàn thành giao dịch thẻ nhanh chóng và an toàn. Tất cả những yếu tố này không chỉ tạo ra sự liền mạch và thuận tiện, mà còn giúp BIDV xây dựng một hệ sinh thái tài chính số hoàn chỉnh, đáp ứng tối đa nhu cầu ngày càng cao của khách hàng trong thời đại kỹ thuật số.

Để bảo đảm an toàn trong các giao dịch trực tuyến, BIDV đã triển khai nhiều công nghệ tiên tiến nhằm bảo vệ thông tin cá nhân và tài chính của khách hàng. Một trong những công nghệ nổi bật là Tokenization, phương pháp mã hóa thông tin thẻ bằng cách thay thế dữ liệu thẻ thật bằng các “token - thẻ bảo mật” giúp giảm thiểu nguy cơ thông tin thẻ bị đánh cắp trong quá trình giao dịch. Điều này giúp ngăn chặn các hành vi gian lận và bảo vệ dữ liệu khách hàng tốt hơn.

Ngoài ra, BIDV còn sử dụng hệ thống xác thực hai yếu tố (2FA), yêu cầu người dùng cung cấp thêm một lớp thông tin xác thực thứ hai để hoàn tất giao dịch. Thông qua công nghệ xác thực giao dịch trực tuyến 3D Secure, người dùng nhận được thêm một lớp xác minh từ ngân hàng trước khi giao dịch được hoàn tất, giúp ngăn chặn các hành vi gian lận.

Việc triển khai công nghệ ngân hàng mở mang đến nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức với ngân hàng Việt Nam. Vấn đề bảo mật và quyền riêng tư là một yếu tố hàng đầu, khi cần bảo đảm rằng dữ liệu người dùng được bảo vệ an toàn trước các nguy cơ từ bên ngoài. Cùng với đó, tích hợp công nghệ hiện đại đòi hỏi ngân hàng phải đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật tiên tiến để hỗ trợ ngân hàng mở hoạt động hiệu quả. Cạnh tranh từ công ty Fintech cũng là một thách thức lớn khi những công ty này có khả năng cung cấp dịch vụ thẻ nhanh và sáng tạo hơn, buộc ngân hàng truyền thống phải không ngừng cải tiến để giữ vững thị phần. Trong khi đó, Việt Nam chưa có tiêu chuẩn chung về hạ tầng công nghệ và kết nối cũng như hành lang pháp lý về ngân hàng mở còn chưa hoàn chỉnh, chưa có quy định về giám sát để bảo đảm an ninh, an toàn, chống lộ, lọt thông tin của khách hàng ra ngoài.

Bảo mật thông tin và dữ liệu khách hàng là ưu tiên hàng đầu

Về khía cạnh pháp lý, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho ngân hàng mở, bao gồm Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật Các TCTD năm 2024, cùng nhiều nghị định và thông tư khác nhằm bảo vệ dữ liệu cá nhân, tăng cường bảo mật và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. NHNN cũng đang trong quá trình nghiên cứu, ban hành các quy định mới về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng, về triển khai Open API, mở đường cho những sáng kiến sáng tạo trong ngành Ngân hàng.

Tuy nhiên, quá trình triển khai ngân hàng mở sẽ đòi hỏi rất nhiều nỗ lực và công việc cần thực hiện. Về mặt kỹ thuật, để chuyển đổi số có thể phát triển bền vững, ngành Ngân hàng cần phải thiết lập sự kết nối chặt chẽ với tất cả các lĩnh vực kinh tế. Điều này đồng nghĩa với việc kiến thức về ngân hàng mở và Open API không chỉ dừng lại trong khuôn khổ ngành Ngân hàng, mà còn phải được áp dụng sâu rộng trong mọi ngành nghề và lĩnh vực kinh tế. Đây là một yêu cầu bắt buộc, đòi hỏi mỗi chúng ta đều phải hiểu rõ và thực hiện quá trình chuyển đổi này.

Việc triển khai ngân hàng mở tại Việt Nam cần được xây dựng thành luật, với những quy định chi tiết, rõ ràng về tiêu chuẩn API, sự chấp thuận của khách hàng, cũng như các yêu cầu nghiêm ngặt về bảo mật thông tin, an toàn dữ liệu. Đồng thời, các quy định này cũng phải xác định rõ các yêu cầu vận hành và lộ trình tham gia hạ tầng ngân hàng mở cho các ngân hàng và tổ chức tài chính.

Thời gian tới, về phía NHNN cần tiếp tục: (i) Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng, bảo mật thông tin, dữ liệu khách hàng, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát việc ứng dụng công nghệ, cung ứng sản phẩm, dịch vụ và triển khai mô hình kinh doanh mới; (ii) Trình Chính phủ ban hành những nghị định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng (Sandbox)…; (iii) Sớm ban hành các thông tư về Open API; (iv) Rà soát sửa đổi, ban hành quy định về hoạt động thanh toán; giao dịch điện tử và an ninh an toàn bảo mật, biện pháp xác thực giao dịch; tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn dữ liệu, API; (v) Phối hợp các bộ, ngành liên quan (như Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an) để xây dựng quy định về giám sát để bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, chống lộ, lọt thông tin của khách hàng ra ngoài, phối hợp trong phát hiện, ngăn chặn, xử lý tội phạm công nghệ cao; (vi) Cần triển khai hiệu quả và đồng bộ hệ thống phòng, chống tấn công mạng; đẩy mạnh truyền thông để hướng dẫn khách hàng hiểu rõ về quy trình thực hiện,bảo mật thông tin và nhận biết để phòng, tránh những rủi ro lừa đảo, gian lận..; tăng cường cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin giữa các bên để kịp thời hỗ trợ xử lý những vướng mắc, sự cố phát sinh trong quá trình sử dụng dịch vụ; (vii) Tiếp tục chỉ đạo các TCTD tăng cường các giải pháp về an toàn, an ninh thông tin và khả năng tích hợp kết nối hạ tầng công nghệ của toàn Ngành; khuyến khích các TCTD, trung gian thanh toán xây dựng, phát triển API mở và kết nối với các đối tác để cung ứng sản phẩm dịch vụ an toàn, tiện ích…

Có thể nói, việc triển khai thành công khung pháp lý cho Open API sẽ tạo điều kiện cho cộng đồng Fintech cung cấp các dịch vụ sáng tạo mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng theo kịp với sự phát triển trên toàn thế giới về cung cấp dịch vụ ngân hàng. Đồng thời khi chuẩn hóa danh sách API mà ngân hàng có thể cung cấp và có tiêu chuẩn chung về nền tảng kỹ thuật cũng như pháp lý rõ ràng cho việc cung cấp API của các bên thì thị trường tài chính - ngân hàng sẽ thực sự phát triển được mô hình ngân hàng mở.

Tài liệu tham khảo:


1. https://www.sbv.gov.vn
2. https://bidv.com.vn/
3. https://www
.vietinbank.vn/

Hà Trang (Hà Nội)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo lĩnh vực tài chính - ngân hàng: Cơ hội, rủi ro và giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo lĩnh vực tài chính - ngân hàng: Cơ hội, rủi ro và giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị

Bài viết phân tích toàn diện việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, làm rõ các cơ hội, rủi ro và đề xuất khuôn khổ quản trị nhằm bảo đảm khai thác công nghệ này một cách hiệu quả, an toàn và bền vững.
Stablecoin neo theo Euro: Các kịch bản tác động và hàm ý chính sách trong bối cảnh tài chính số

Stablecoin neo theo Euro: Các kịch bản tác động và hàm ý chính sách trong bối cảnh tài chính số

Trong vài năm trở lại đây, thế giới chứng kiến sự phát triển của stablecoin neo theo các đồng tiền pháp định, nổi bật nhất, stablecoin neo theo USD chiếm áp đảo, nó không chỉ làm thay đổi cấu trúc thị trường tài sản số mà còn bắt đầu để lại dấu ấn đậm nét trên thị trường trái phiếu Kho bạc Mỹ - một trụ cột của hệ thống tài chính toàn cầu. Tại các khu vực đồng tiền khác cũng như Khu vực đồng Euro câu chuyện này mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu. Bài viết phân tích một cách hệ thống cơ chế truyền dẫn của stablecoin neo theo Euro, các kịch bản tác động và đưa ra một số hàm ý chính sách.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong lĩnh vực ngân hàng: Từ yêu cầu pháp lý đến thực tiễn quản trị

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong lĩnh vực ngân hàng: Từ yêu cầu pháp lý đến thực tiễn quản trị

Trong bối cảnh chuyển đổi số của ngành Ngân hàng, quy mô thu thập và xử lý dữ liệu cá nhân ngày càng gia tăng, đặc biệt đối với dữ liệu tài chính và dữ liệu sinh trắc học. Bài viết phân tích vai trò của dữ liệu cá nhân trong hoạt động ngân hàng, khung pháp lý hiện hành tại Việt Nam về quản trị và bảo vệ dữ liệu, đồng thời chỉ ra một số thách thức trong thực tiễn như ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), xử lý dữ liệu sinh trắc học và chia sẻ dữ liệu trong hệ sinh thái tài chính số. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mô hình quản trị và kiểm soát rủi ro dữ liệu cá nhân trong ngân hàng, cùng một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, bảo đảm an toàn dữ liệu và củng cố niềm tin của khách hàng đối với các dịch vụ ngân hàng số.
Chuyển đổi số ngân hàng: Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, tiến tới ra quyết định dựa trên dữ liệu

Chuyển đổi số ngân hàng: Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, tiến tới ra quyết định dựa trên dữ liệu

Thời gian qua, bên cạnh việc hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, ngành Ngân hàng tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào an ninh mạng, bảo mật dữ liệu, xây dựng trung tâm giám sát an ninh mạng và năng lực ứng phó sự cố hiệu quả; chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung toàn Ngành, phục vụ nâng cao chất lượng ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Nâng cao mức độ an toàn đối với các dịch vụ ngân hàng trên kênh số nhờ “lá chắn số” SIMO

Nâng cao mức độ an toàn đối với các dịch vụ ngân hàng trên kênh số nhờ “lá chắn số” SIMO

Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO) là công cụ hỗ trợ hiệu quả trong công tác quản lý rủi ro, phòng, chống gian lận, đồng thời góp phần nâng cao mức độ an toàn và niềm tin của người dân, doanh nghiệp đối với các dịch vụ thanh toán trên kênh số nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung.
Stablecoin neo tiền pháp định - hình thức ngân hàng ngầm kỹ thuật số: Rủi ro hệ thống và thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ

Stablecoin neo tiền pháp định - hình thức ngân hàng ngầm kỹ thuật số: Rủi ro hệ thống và thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích bản chất kinh tế, cơ chế rủi ro và tác động của stablecoin tới truyền dẫn chính sách tiền tệ, đồng thời thảo luận hàm ý chính sách đối với Việt Nam trong việc xây dựng khuôn khổ quản lý phù hợp, gắn với phát triển tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC) và thúc đẩy đổi mới an toàn trong hệ thống ngân hàng.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ sinh thái thanh toán số: Nền tảng cho phát triển thanh toán hiện đại và bền vững

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ sinh thái thanh toán số: Nền tảng cho phát triển thanh toán hiện đại và bền vững

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, dữ liệu đã trở thành một nguồn lực quan trọng của nền kinh tế. Đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng, đặc biệt là hoạt động thanh toán, dữ liệu không chỉ là yếu tố hỗ trợ vận hành hệ thống mà còn là nền tảng để phát triển các dịch vụ tài chính số hiện đại, tiện ích và an toàn.
Xem thêm
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành