Cần các giải pháp đồng bộ để hỗ trợ ngân hàng chuyển đổi thẻ từ sang thẻ chip

Công nghệ & ngân hàng số
Trong những tháng đầu năm 2020, mặc dù bị ảnh hưởng của dịch Covid-19, các tổ chức phát hành thẻ (TCPHT), tổ chức thanh toán thẻ (TCTTT), tổ chức chuyển mạch thẻ, tổ chức bù trừ điện tử giao dịch thẻ...
aa

Trong những tháng đầu năm 2020, mặc dù bị ảnh hưởng của dịch Covid-19, các tổ chức phát hành thẻ (TCPHT), tổ chức thanh toán thẻ (TCTTT), tổ chức chuyển mạch thẻ, tổ chức bù trừ điện tử giao dịch thẻ vẫn đang nỗ lực thực hiện lộ trình chuyển đổi thẻ chip theo quy định tại Thông tư số 41/2018/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ngày 28/12/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng (Thông tư 41). Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn nhất định, những tác động từ dịch Covid-19 có thể làm chậm lại tiến độ thực hiện lộ trình chuyển đổi, do đó, cần có các giải pháp tổng thể, sự phối hợp đồng bộ từ các cơ quan liên quan, quyết tâm của các ngân hàng.

Theo quy định tại Điều 27a Thông tư 41, đối với tổ chức thanh toán thẻ: Đến ngày 31 tháng 12 năm 2019, ít nhất 35% ATM, 50% thiết bị chấp nhận thẻ tại điểm bán đang hoạt động tại Việt Nam của TCTTT tuân thủ Tiêu chuẩn cơ sở (TCCS) về thẻ chip nội địa; Đến ngày 31 tháng 12 năm 2020, 100% ATM và thiết bị chấp nhận thẻ tại điểm bán đang hoạt động tại Việt Nam của TCTTT tuân thủ TCCS về thẻ chip nội địa.

Tại Điều 27b: Đối với tổ chức phát hành thẻ: Đến ngày 31 tháng 12 năm 2019, ít nhất 30% số thẻ có BIN do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp đang lưu hành của TCPHT tuân thủ TCCS về thẻ chip nội địa; Đến ngày 31 tháng 12 năm 2020, ít nhất 60% số thẻ có BIN do NHNN cấp đang lưu hành của TCPHT tuân thủ TCCS về thẻ chip nội địa; Đến ngày 31 tháng 12 năm 2021, 100% số thẻ có BIN do NHNN cấp đang lưu hành của TCPHT tuân thủ TCCS về thẻ chip nội địa.


Ngân hàng đã nỗ lực chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip

Thời gian qua, hoạt động thẻ ngân hàng tại Việt Nam đã và đang có nhiều chuyển biến tích cực. Việc sử dụng thẻ thanh toán tại Việt Nam đang dần trở nên phổ biến ở các thành phố. Nhận thức chung của xã hội về thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) nói chung và thanh toán bằng thẻ ngân hàng nói riêng đang thay đổi, xu hướng thanh toán bằng thẻ của người dân cũng bắt đầu gia tăng. Tuy nhiên, đối với thẻ nội địa, các tổ chức chủ yếu phát hành và thanh toán thẻ từ, sử dụng phương thức xác thực trực tuyến (online) với mã PIN và ghi nợ tài khoản khách hàng theo thời gian thực; việc sử dụng thẻ từ trong thanh toán hàng hóa, dịch vụ có một số nhược điểm, như: dễ bị lộ dữ liệu cá nhân, dễ bị làm giả và tiện ích đi kèm chưa phong phú.

Do vậy, việc chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip là một nhu cầu tất yếu, cần thiết và phù hợp với xu thế chung của các quốc gia trên thế giới; qua đó, góp phần bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật thông tin, chống giả mạo, ngăn chặn các hành vi gian lận trong hoạt động phát hành và thanh toán thẻ. Đồng thời, việc chuyển đổi cũng mở ra cơ hội phát triển mới cho thẻ thanh toán, mở rộng và phát triển các dịch vụ thanh toán thẻ tại Việt Nam; tăng cường sự phát triển lành mạnh, an toàn, bền vững cho thị trường thẻ ngân hàng, bảo đảm cho các thành viên thị trường có thể liên kết, chia sẻ, khai thác hiệu quả cơ sở hạ tầng công nghệ liên quan tới phát hành, thanh toán và sử dụng thẻ.

Có thể nói, cơ hội mở ra cho thị trường TTKDTM Việt Nam khi triển khai thành công chuyển đổi thẻ từ sang thẻ chip là rất lớn. Cùng với đó là cơ hội để thẻ nội địa tham gia hội nhập quốc tế khi đã đáp ứng được các tiêu chuẩn an toàn, bảo mật khắt khe của các tổ chức quốc tế. Với hạ tầng thanh toán không tiếp xúc của thẻ chip nội địa, cộng với việc ứng dụng công nghệ để số hóa thông tin thẻ lên thiết bị di động, tương lai thị trường sẽ đón nhận trào lưu thanh toán “chạm” ngày càng phổ biến.

Triển khai các nhiệm vụ của NHNN được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016 phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020, NHNN đã thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng tiêu chuẩn thẻ chip nội địa; chỉ đạo các đơn vị liên quan nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện Bộ tiêu chuẩn thẻ chip nội địa (cho thẻ tiếp xúc - contact và phi tiếp xúc - contactless).

Tiếp sau đó, ngày 05/10/2018, NHNN đã ban hành Quyết định 1927/QĐ-NHNN công bố Bộ TCCS về thẻ chip nội địa; trong đó, quy định chi tiết về các yêu cầu kỹ thuật thẻ thanh toán nội địa tại Việt Nam theo công nghệ chip tiếp xúc và không tiếp xúc, theo hướng tương thích với chuẩn EMV. Ngoài việc giúp hạn chế rủi ro ăn cắp và giả mạo thông tin hơn so với thẻ từ, thẻ chip còn có khả năng lưu trữ thông tin lớn và có thể giúp ứng dụng vào các lĩnh vực khác như thanh toán trong bảo hiểm, giao thông, các dịch vụ công. Việc ban hành Bộ TCCS về thẻ chip nội địa nhằm đảm bảo an ninh, an toàn, bảo mật trong hoạt động thẻ ngân hàng, tạo thuận lợi cho việc gia tăng các tính năng, tiện ích cho chủ thẻ.

Để triển khai TCCS về thẻ chip nội địa, ngày 28/8/2018, NHNN đã ban hành Thông tư 41, trong đó, có quy định về lộ trình chuyển đổi thẻ ngân hàng sang thẻ tuân thủ TCCS về thẻ chip nội địa, đồng thời, quy định lộ trình chuyển đổi đối với TCTTT là đến ngày 31/12/2020 và đối với TCPHT là đến ngày 31/12/2021.

Bên cạnh đó, NHNN đã chỉ đạo Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (Napas) triển khai chính sách giảm phí dịch vụ chuyển mạch cho các ngân hàng tham gia hoặc hoàn thành các điều kiện kỹ thuật để chuyển đổi thẻ từ sang theo tiêu chuẩn thẻ chip nội địa từ 01/5/2019. Đồng thời, NHNN đã yêu cầu các TCTTT, TCPHT, tổ chức chuyển mạch thẻ, tổ chức bù trừ điện tử giao dịch thẻ tổ chức triển khai áp dụng TCCS về thẻ chip nội địa theo đúng lộ trình chuyển đổi đã quy định.

Theo báo cáo của các TCPHT, TCTTT tại Việt Nam gửi NHNN, phần lớn các tổ chức đã có sự chuẩn bị sẵn sàng nguồn lực về nhân sự, tài chính (hầu hết các tổ chức báo cáo đáp ứng đủ nguồn lực) và xây dựng được phương án chuyển đổi sơ bộ (đa số tổ chức đã xây dựng phương án chuyển đổi sơ bộ) cho hệ thống phát hành, thanh toán thẻ để thực hiện chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip.

Trong 6 tháng đầu năm 2020, mặc dù bị ảnh hưởng của dịch Covid-19, các TCPHT, TCTTT, tổ chức chuyển mạch thẻ, tổ chức bù trừ điện tử giao dịch thẻ vẫn đang nỗ lực thực hiện lộ trình chuyển đổi thẻ chip theo quy định tại Thông tư 41.

Theo lộ trình quy định tại Thông tư 41, đến ngày 31/12/2020, 100% ATM và thiết bị chấp nhận thẻ tại điểm bán đang hoạt động tại Việt Nam của TCTTT tuân thủ TCCS về thẻ chip nội địa. Theo Vụ Thanh toán (NHNN), tính đến cuối tháng 6/2020, các TCTTT đã chuyển đổi được hơn hơn 10 nghìn máy ATM và hơn 176 nghìn POS, đạt tương ứng 55% máy ATM và 66% POS trên tổng số lượng thiết bị đang hoạt động trên thị trường (trong đó: có 10 TCTTT đã hoàn thành chuyển đổi 100% về ATM, 05 TCTTT hoàn thành chuyển đổi về POS). Đối với việc chuyển đổi thẻ nội địa từ thẻ từ sang thẻ chip, theo quy định tại Thông tư 41, đến ngày 31/12/2021, 100% số thẻ có BIN do NHNN cấp đang lưu hành của TCPHT phải tuân thủ TCCS về thẻ chip nội địa. Tính đến ngày 30/6/2020, các TCPHT đã chuyển đổi được khoảng 4,4 triệu thẻ nội địa từ thẻ từ sang thẻ chip (một số TCPHT đã hoàn thành chuyển đổi 100% thẻ chip¹).

Theo số liệu của NHNN, đến cuối tháng 8/2020, tổng lượng thẻ lưu hành đạt khoảng 109 triệu thẻ, tăng hơn 38% so với cùng kỳ năm 2016. Hiện nay, các TCPHT, TCTTT đang khẩn trương làm việc cùng các đối tác thẻ cùng các đối tác tiêu chuẩn kỹ thuật của TCCS về thẻ chip nội địa.



Việc chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip là một nhu cầu tất yếu, cần thiết và phù hợp với xu thế chung của các quốc gia trên thế giới

Cần các giải pháp hỗ trợ để có thể theo đúng lộ trình chuyển đổi

Theo báo cáo của các TCPHT, TCTTT, đa phần các thiết bị ATM/POS tại Việt Nam đã chấp nhận thẻ chip (phần lớn ATM và hầu hết POS đã chấp nhận thẻ chip); do đó, trong quá trình chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip, các TCPHT, TCTTT không phải đầu tư mua mới nhiều, tránh được tình trạng phải nâng cấp toàn bộ, chắp vá. Bên cạnh đó, đa phần thẻ quốc tế đã phát hành là thẻ chip EMV; nhiều TCPHT, TCTTT tại Việt Nam đã có kinh nghiệm nhất định trong việc triển khai phát hành, nâng cấp thiết bị ATM/POS chấp nhận thẻ chip EMV cũng như phát hành thẻ chip EMV.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip là một quá trình phức tạp, đòi hỏi thời gian, đầu tư chi phí, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực (chi phí chuyển đổi lớn, riêng chi phí phôi thẻ có thể gấp 6 lần so với thẻ từ). Ngoài ra, ngân hàng còn phải có các hình thức liên hệ phù hợp đến khách hàng để thực hiện việc chuyển đổi nên khó thực hiện nhanh.

Mặt khác, do tình hình dịch Covid-19 cũng ảnh hưởng lớn tới tiến độ công việc các đơn vị nhà thầu. Các nước đóng cửa biên giới, hoạt động nhập khẩu các thiết bị phục vụ chuyển đổi bị đình trệ, cùng những khó khăn chung đối với các ngành và lĩnh vực liên quan cũng ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện. Hơn nữa, số lượng thẻ ATM đã phát hành khá lớn nên việc chuyển đổi cần phải có thời gian và kế hoạch tỉ mỉ để bảo đảm không gây bất tiện cho chủ thẻ, đồng thời, ngân hàng có thể chuẩn bị ngân sách cho việc chuyển đổi này.

Để đảm bảo phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, an ninh, độ an toàn và tăng thêm tiện ích sử dụng thẻ, NHNN đã đôn đốc các đơn vị thực hiện đúng tiến độ Kế hoạch chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip tại Việt Nam. Ngày 28/8/2020, NHNN đã có Công văn số 6220/NHNN-TT gửi các TCPHT, TCTTT, tổ chức chuyển mạch thẻ, tổ chức bù trừ điện tử giao dịch thẻ, trong đó, yêu cầu các đơn vị cần tích cực, chủ động và nghiêm túc tổ chức triển khai áp dụng TCCS về thẻ chip nội địa theo lộ trình chuyển đổi quy định tại Thông tư 41.

Cùng với đó, thời gian tới, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm tăng tính an toàn, bảo mật cho cả ngân hàng và khách hàng trong việc sử dụng thẻ, cơ quan quản lý cần tiếp tục có những chính sách hỗ trợ các ngân hàng thương mại trong việc chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip như: (i) cân nhắc khả năng của từng ngân hàng, đặc biệt là lộ trình chuyển đổi cho khách hàng hiện hữu; (ii) việc chuyển đổi sẽ được thực hiện theo từng bước để giảm áp lực tài chính cho ngân hàng và khách hàng cũng như có thời gian để tiếp cận đầy đủ thông tin, tránh ảnh hưởng đến việc sử dụng thẻ của khách hàng và đảm bảo đủ thời gian cho các ngân hàng chuẩn bị và thực hiện bước chuyển đổi; (iii) tiến hành mảng chấp nhận thanh toán trước, sau đó mới tiến đến mảng phát hành thẻ để đảm bảo được triển khai hiệu quả.

Đồng thời, tăng cường thông tin truyền thông về việc chuyển đổi thẻ ngân hàng từ thẻ từ sang thẻ chip, định hướng, tạo sự đồng thuận của người dân trong quá trình các ngân hàng thực hiện chuyển đổi thẻ ngân hàng từ thẻ từ sang thẻ chip. Bên cạnh đó, phối hợp với các bộ, ngành liên quan (như Bộ Giao thông vận tải, Bộ Y tế,...) nghiên cứu, mở rộng ứng dụng thẻ chip hỗ trợ cho phát triển các hệ thống ứng dụng Internet Banking, thương mại điện tử, thanh toán tầm gần (NFC), cũng như cho phép sử dụng để trả phí giao thông...

Hơn nữa, dịch vụ thẻ ở Việt Nam ra đời muộn hơn các nước trong khu vực đã và đang chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip (Nhật Bản; Hàn Quốc; Malaysia; Đài Loan), do đó, các ngân hàng thương mại Việt Nam có thể học hỏi thêm kinh nghiệm trong quá trình chuyển đổi của một số nước có điều kiện phát triển tương đương.

¹ Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thương tín.

Tài liệu tham khảo:

1. Thông tư 41/2018/TT-NHNN ngày 28/12/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng.

2. Kế hoạch số 16/KH-NHNN ngày 30/12/2015 về chuyển đổi thẻ ngân hàng từ thẻ từ sang thẻ gắn vi mạch điện tử.


Phan Linh Anh

Chuyên đề Công nghệ và Ngân hàng số, số 08/2020
https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Tích hợp Agentic AI và Generative AI trong tái định nghĩa hoạt động ngân hàng

Tích hợp Agentic AI và Generative AI trong tái định nghĩa hoạt động ngân hàng

Bài viết phân tích sự hội tụ giữa trí tuệ nhân tạo (AI) tác nhân (Agentic AI) và AI tạo sinh (Generative AI) trong quá trình tái định hình hoạt động ngân hàng hiện đại, qua đó cho thấy AI đang trở thành nền tảng chiến lược giúp các ngân hàng chuyển từ mô hình vận hành phản ứng sang chủ động, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, cá nhân hóa dịch vụ và tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng trong kỷ nguyên số.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa quy trình bằng robot (RPA) đang làm thay đổi sâu sắc nghề kế toán ngân hàng, không chỉ ở cách thức vận hành nghiệp vụ mà còn ở vai trò, kỹ năng và bản sắc nghề nghiệp của kế toán viên trong kỷ nguyên số.
Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động hai mặt của số hóa tài chính đối với sức khỏe tài chính hộ gia đình, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, bao trùm và bền vững trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết này phân tích thực trạng bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, đồng thời chỉ ra những rủi ro ngày càng gia tăng trong bối cảnh số hóa, từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ về pháp lý, công nghệ, nhân lực và quản lý nhằm xây dựng một hệ sinh thái ngân hàng số an toàn và bền vững.
Nâng cao hiệu quả an ninh mạng thông qua “human firewall” tại các ngân hàng Việt Nam

Nâng cao hiệu quả an ninh mạng thông qua “human firewall” tại các ngân hàng Việt Nam

Trong bối cảnh các mối đe dọa an ninh mạng ngày càng khai thác yếu tố con người, việc xây dựng “human firewall” trở thành trụ cột chiến lược giúp ngành Ngân hàng Việt Nam nâng cao năng lực phòng vệ và thích ứng với môi trường số hóa.
Đánh giá "tính tiền tệ" của Stablecoin và khuyến nghị đối với ổn định tiền tệ, tài chính

Đánh giá "tính tiền tệ" của Stablecoin và khuyến nghị đối với ổn định tiền tệ, tài chính

Bài viết phân tích “tính tiền tệ” của Stablecoin (tiền mã hóa ổn định), qua đó chỉ ra những giới hạn và hàm ý chính sách nhằm bảo đảm ổn định tiền tệ và tài chính trong kỷ nguyên số.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Xem thêm
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng