Xây dựng nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực dựa trên Microservices

Nghiên cứu - Trao đổi
Khái niệm Microservices do Martin Fowler đề xuất vào năm 2014, dùng để chỉ một nhóm nhỏ, được quản lý tập trung trong một hệ thống ứng dụng duy nhất, mỗi dịch vụ chỉ thực hiện một bộ chức năng gắn kết và các mạng hoạt động cùng nhau, chúng được triển khai và được bảo trì riêng biệt.
aa

Tóm tắt: Bài viết phân tích những vấn đề tồn tại của việc xây dựng nền tảng tín dụng ngân hàng, thiết kế cấu trúc tổng thể của phân hệ chức năng nghiệp vụ và hạ tầng thông tin, phân tích các module chức năng của nền tảng tín dụng ngân hàng thành các dịch vụ vi mô (Microservices), công nghệ kiến ​​trúc dịch vụ, sử dụng khung phát triển Microservices của Spring Cloud và xác nhận hiệu quả của việc xây dựng kiến trúc này.

Từ khóa: Dịch vụ vi mô, nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực, ngân hàng số, số hóa ngân hàng, chuyển đổi số trong ngân hàng.

A regional bank credit platform based on microservices

Abstract: The article analyzes the existing problems of building a bank credit platform, designs an overall structure of the business function module and information infrastructure, devides the functional modules of the bank credit platform into microservices, uses Spring Cloud’s microservices development framework and confirms an efficiency in building the microservices architecture technology.

Keywords: Microservices, regional bank credit platform, digital bank, bank digitalization, digital transformation in the bank.

1. Mô hình nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực

Lĩnh vực tín dụng ngân hàng có thể được chia thành cấp chi nhánh, cấp khu vực và cấp quốc gia. Theo quan điểm chức năng, các chi nhánh ngân hàng chủ yếu quan tâm đến việc triển khai hệ thống tín dụng đầy đủ, linh hoạt. Tín dụng ngân hàng khu vực chủ yếu tập trung vào kết quả thu được thông qua các kênh khác nhau trong khu vực để có thể từng bước thực hiện kiểm định và đánh giá. Các nghiên cứu gần đây về xây dựng nền tảng tín dụng ngân hàng bao gồm thiết lập cơ sở dữ liệu lưu trữ, cơ sở dữ liệu kiểm định chất lượng và hệ thống tích lũy chuyển đổi.

Thực tiễn xây dựng nền tảng tín dụng ngân hàng chủ yếu bao gồm hai khía cạnh là cơ sở hạ tầng và chức năng hệ thống. Với lĩnh vực tín dụng ngân hàng hiện nay, có những vấn đề như cơ cấu tổ chức phức tạp, môi trường địa lý phân tán, tương tác thông tin, khó khăn trong quản lý dữ liệu... cần được quan tâm tháo gỡ.

Mô hình nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực được chia thành cơ cấu chức năng và kiến trúc kỹ thuật. Cơ cấu chức năng lại được chia thành ba cấp: Trung tâm, chi nhánh quản lý tín dụng, địa điểm của các tổ chức tín dụng (TCTD). Trung tâm quản lý chịu trách nhiệm thiết lập tiêu chuẩn, xây dựng hệ thống, phân tích dữ liệu toàn diện cũng như hướng dẫn và quản lý kinh doanh các chi nhánh TCTD. Chi nhánh có trách nhiệm xét duyệt hồ sơ đầu vào, quy đổi một số kết quả, hướng dẫn nghiệp vụ và quản lý điểm tiếp nhận. Điểm tiếp nhận là các cơ sở cấp 3, có trách nhiệm tiếp nhận đơn đăng ký mở tài khoản, xác thực danh tính, nhập thông tin, ký kết thỏa thuận dịch vụ, chấp nhận đơn xin chuyển đổi, xem xét sơ bộ, nộp cho chi nhánh, cấp sao kê và các công việc khác.

Mô hình kiến ​​trúc nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực sử dụng thiết kế phân cấp, dựa trên các loại dịch vụ và chức năng kinh doanh, mô hình nền tảng kỹ thuật này bao gồm 07 phần: (1) Tầng cơ sở hạ tầng: Xây dựng nhóm tài nguyên ảo hóa để thực hiện cấu hình theo yêu cầu và mở rộng tài nguyên hệ thống linh hoạt; (2) Lớp dữ liệu: Cung cấp quy tắc cơ sở chuyển đổi chứng nhận tín dụng bao gồm các tiêu chuẩn về tích lũy và chuyển đổi thông qua giao diện lập trình ứng dụng (API) nhằm kết nối và tích hợp thông tin; (3) Lớp logic nghiệp vụ: Phần mềm trung gian trên nền Web và Spring Cloud cho các khoản tín dụng, chuyển đổi và tích lũy để cung cấp các chức năng cốt lõi cần thiết nhằm triển khai các ứng dụng theo hướng kinh doanh (Spring Cloud là giải pháp cung cấp các công cụ dành cho các nhà phát triển có thể nhanh chóng xây dựng những mẫu thiết kế phổ biến trong các hệ thống phân tán); (4) Lớp ứng dụng: Cung cấp trung tâm quản lý và dịch vụ trực tuyến; (5) Cổng thông tin ứng dụng dành cho tất cả các TCTD các cấp, gồm cả nhân viên; (6) Hệ thống tiêu chuẩn nghiệp vụ: Chủ yếu bao gồm tiêu chuẩn chuyển đổi và chuyên môn dựa trên khung trình độ các TCTD...; (7) Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật: Bao gồm tiêu chuẩn giao diện nền tảng, hệ thống bảo mật, hệ thống vận hành và bảo trì. Tiêu chuẩn giao diện dựa trên API Restful - một tiêu chuẩn dùng trong việc thiết kế API cho các ứng dụng web (thiết kế Web services) để tiện cho việc quản lý các nguồn dữ liệu. Nó chú trọng vào tài nguyên hệ thống (tệp văn bản, ảnh, âm thanh, video, hoặc dữ liệu động...), bao gồm các trạng thái tài nguyên được định dạng và được truyền tải qua giao thức truyền tải siêu văn bản (http). Hệ thống an ninh bao gồm bảo mật hệ thống quản lý và bảo mật hệ thống kinh doanh. Công nghệ mạng riêng ảo VPN (Virtual Private Network) được sử dụng để thực hiện truy cập vào mạng riêng nội bộ. Bảo mật của hệ thống kinh doanh cần được tăng cường để xác thực, kiểm soát quyền phân cấp, ghi lại hành vi của người dùng.

2. Công nghệ Microservices

Ngành tài chính, ngân hàng sử dụng công nghệ Kiến trúc hướng dịch vụ SOA (Service Oriented Architecture) để giải quyết vấn đề tích hợp giữa nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực và các hệ thống kinh doanh khác. Quy mô nền tảng dần phát triển và đối mặt với các vấn đề về mở rộng chức năng và bảo trì. Tuân theo kiến ​​trúc module thiết kế theo hướng miền DDD (Domain Driven Design) làm kim chỉ nam, công nghệ Microservices được dùng để chia nhỏ các khối chức năng của nền tảng thành nhiều dịch vụ vi mô phục vụ cho việc phát triển, duy trì và vận hành hệ thống.

Khái niệm Microservices do Martin Fowler đề xuất vào năm 2014, dùng để chỉ một nhóm nhỏ, được quản lý tập trung trong một hệ thống ứng dụng duy nhất, mỗi dịch vụ chỉ thực hiện một bộ chức năng gắn kết và các mạng hoạt động cùng nhau, chúng được triển khai và được bảo trì riêng biệt. Từ quan điểm kiến trúc hệ thống, nền tảng có thể được phân tách thành nhiều đơn vị dịch vụ độc lập để quản lý, mỗi Microservices thực hiện chức năng riêng, từ lưu trữ dữ liệu, quy trình kinh doanh, giao diện bên ngoài đến quy mô để giải quyết sự phức tạp của nền tảng. Microservices cung cấp một giao diện chuẩn dùng trong thiết kế API cho các ứng dụng web (Restful API) để đạt được sự ghép nối giữa các dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả tích hợp, trên cơ sở này, mỗi dịch vụ có thể phát triển độc lập song song. Mỗi Microservices có thể chia tỷ lệ và được lựa chọn để phù hợp với tài nguyên phần cứng của dịch vụ.

Sau khi nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực áp dụng công nghệ Microservices, các chức năng quản lý và giám sát cũng cần được bổ sung, bao gồm đăng ký và khám phá dịch vụ; cấu hình tập trung; cuộc gọi thủ tục từ xa (Remote Procedure Call - RPC) - một khái niệm nhằm khái quát một lời gọi làm thủ tục thông thường trong trường hợp mà người gửi và người nhận không cùng nằm trong một quá trình mà bị phân tán trên các máy riêng biệt; cổng API; giới hạn hiện tại; khả năng chịu lỗi và hợp nhất, bảo mật và kiểm soát truy cập; cân bằng tải và các chức năng cốt lõi khác. Kiến trúc Microservices có 04 cấp: Lớp cơ bản (lớp nền tảng); lớp cốt lõi; lớp nghiệp vụ (lớp kinh doanh) và lớp giao diện.


Lớp cơ bản chủ yếu cung cấp các chức năng về tài nguyên phần cứng, tài nguyên hệ thống, quản lý cụm, giám sát vận hành và bảo trì, quản lý nhật ký và dịch vụ xử lý ngoại lệ, công nghệ ảo hóa, trực quan hóa dữ liệu và các chức năng con khác. Quản lý thu thập nhật ký cung cấp các khả năng ghi lại, theo dõi và kiểm tra như Spring Cloud Sleuth (Một thư viện cho các ứng dụng Spring Cloud). Phần mềm cơ sở phổ biến bao gồm Docker, CoreOS, RancherOS, Citrix XenServer, Huawei Fusionsphere và KVM (Kernel-based Virtual Machine), phần mềm quản lý cụm có thể là hệ thống quản lý phân tán của Google Kubernetes, Mesos Marathon, Docker Swarm và CoreOS..., để hỗ trợ khôi phục các vùng chứa, tự động mở rộng quy mô và nâng cấp, lập lịch tài nguyên... Giám sát hoạt động và bảo trì chủ yếu được thực hiện bởi Zabbix và Nagios (dạng lõi hệ thống giám sát hạ tầng và dịch vụ mạng).

Lớp chức năng cốt lõi tham gia vào việc quản lý vòng đời Microservices và bảo đảm hoạt động bình thường cho các dịch vụ nền tảng chi nhánh ngân hàng khu vực, bao gồm đăng ký và khám phá dịch vụ, cấu hình tập trung, truyền thông giữa các quy trình, cổng trung gian (API Gateway), hạn chế hiện tại, bảo mật và kiểm soát truy cập... Khi Microservices được khởi động, dịch vụ được đăng ký bởi các bộ tích hợp như Spring Cloud Config server, Eureka Server. Spring Cloud Config Server hỗ trợ cấu hình các hệ thống phân tán cho cả máy chủ và máy khách, đồng thời lưu trữ tập trung tất cả các tệp thiết lập của ứng dụng. Truyền thông giữa các quá trình là cơ sở giao tiếp giữa các Microservices. Nó chủ yếu bao gồm các khung RPC và giao thức Restful. Khung RPC chủ yếu bao gồm Dubbo, Motan, Thrift, Grpc, Ribbon... Các Microservices đề xuất cuộc gọi hợp nhất giữa các dịch vụ đầu cuối back-end để nâng cao hiệu quả của việc kiểm tra và tích hợp phát triển các Microservices. API Gateway cung cấp các lệnh thống nhất đến giao diện người dùng, nó có các chức năng như định tuyến dịch vụ, kiểm soát quyền. Trong kiến ​​trúc Microservices, front-end và back-end được tách biệt để cung cấp khả năng bảo vệ truy cập, uỷ quyền và các chức năng khác đối với lớp định tuyến dịch vụ để đạt được giao diện xác thực và phân tách logic nghiệp vụ đảm bảo phần thân chính của cụm dịch vụ có thể tái sử dụng và khả năng kiểm tra cao hơn.

Lớp nghiệp vụ được thực hiện bởi Microservices trong nền tảng tín dụng khu vực, để lưu trữ dữ liệu cá nhân, chứng nhận và chuyển đổi, tích lũy và đánh giá khả năng.

Lớp giao diện là các chức năng của API Restful mà API Gateway cung cấp cho các module người dùng.

3. Xây dựng nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực

Việc xây dựng nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực đã được chuyển đổi từ ứng dụng chuỗi nguyên khối sang ứng dụng giản đồ Microservices. Theo các chức năng khác nhau, nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực được chia thành 05 phần: Người dùng, dịch vụ truy cập, dịch vụ kinh doanh, dịch vụ quản lý và dịch vụ giám sát theo trình tự logic kinh doanh. (Hình 1)

Hình 1. Chức năng Microservices của nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực


Người dùng sử dụng các thiết bị di động như điện thoại di động, máy tính bảng..., truy cập trang web của ngân hàng qua giao thức http, vào thông tin người dùng, xem tệp tin, chứng nhận và chuyển khoản tín dụng...

Dịch vụ truy cập cung cấp Microservices cấu hình tập trung, xác thực, ủy quyền và API Gateway, cấu hình môi trường thử nghiệm dịch vụ và môi trường trực tuyến cho các thiết lập khác nhau, chẳng hạn như IP xác thực danh tính và phân quyền theo vai trò của người người dùng, cổng mạng, cơ sở dữ liệu, thông tin kết nối, tải lên dữ liệu kinh doanh, giao diện SMS...

Dịch vụ kinh doanh là dịch vụ nền tảng, chìa khóa để cung cấp dịch vụ tín dụng, bao gồm hồ sơ cá nhân, quy trình chứng nhận, tích lũy, chuyển đổi tín dụng. Yêu cầu chứng nhận cá nhân được chuyển tiếp đến Microservices, sau đó được gửi đến dịch vụ chuyển đổi tín dụng. Mỗi Microservices được định cấu hình với cơ sở dữ liệu riêng biệt, phần mềm trung gian, xử lý logic nghiệp vụ và giao diện API Restful, trung tâm thông báo cuộc gọi giữa các Microservices, để cung cấp cơ chế đồng bộ sử dụng giao thức http và cơ chế xử lý thông báo bất đồng bộ.

Dịch vụ quản lý chủ yếu được cung cấp cho quản trị viên của các nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực và cung cấp các dịch vụ như quản lý tài liệu lưu trữ, tín dụng (tổ chức, cá nhân), chuyển đổi...

Dịch vụ giám sát chủ yếu dành cho nhân viên vận hành và bảo trì phát triển nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực. Nó quản lý vùng chứa và cụm ảo hóa, kiểm tra tính khả thi của ứng dụng, tình trạng hệ thống, tối ưu hóa nhật ký công việc và các dịch vụ vận hành, bảo trì khác.

4. Thực nghiệm

Để xác minh tính hợp lệ của việc xây dựng Microservices cho nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực, tiến hành thử nghiệm với Microservices framework, sử dụng khung phát triển Spring Cloud phiên bản 1.1.0. Spring Cloud cung cấp quản lý cấu hình hệ thống phân tán, khám phá dịch vụ, bộ chuyển mạch, định tuyến thông minh, cổng dịch vụ, trung tâm thông báo và các bộ công cụ phát triển khác. Nền tảng Microservices chạy trong vùng chứa của nền tảng Docker, cách ly ứng dụng do Docker cung cấp, tiến hành chạy Microservices trên mỗi vùng chứa và quản lý các cụm Docker. Lưu đồ thử nghiệm được chỉ ra như Hình 2.

Hình 2. Biểu đồ luồng thử nghiệm của nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực


Lưu đồ bao gồm các chức năng cốt lõi trong hoạt động kinh doanh chính và các Microservices của nền tảng tín dụng khu vực. Máy khách sử dụng thành phần Ribbon trong Spring Cloud để hoàn thành việc cân bằng tải, gửi yêu cầu tới thành phần định tuyến dịch vụ Zuul và chọn nút có tải thấp hơn tải của dịch vụ kinh doanh. Microservices ở đây là các dịch vụ trực tuyến, giao tiếp tương tác, kiểm tra công việc, thông tin cấu hình...

Trung tâm cấu hình máy chủ là nơi thông tin thiết lập được lưu trữ trong kho cục bộ và sau đó được đăng ký với thành phần dịch vụ Spring Cloud Eureka. Thành phần Eureka cung cấp truy vấn và khám phá danh sách đã đăng ký thuận tiện cho việc giao tiếp giữa các Microservices. Các Microservices giao tiếp với nhau thông qua giao diện API Restful, các nút phục vụ tương ứng truyền thông với RabbitMQ để hoàn thành việc gửi tin nhắn không đồng bộ và đăng ký.

5. Kết luận

Chiến lược giao dịch được chấp nhận cho Microservices với cách tiếp cận thông thường là cô lập các dịch vụ siêu nhỏ đó càng nhiều càng tốt - coi chúng là các đơn vị đơn lẻ. Sau đó, các giao dịch có thể được phát triển trong toàn bộ dịch vụ (không phải là một phần của giao dịch thông thường, mặc dù vẫn có thể có các giao dịch bên trong dịch vụ). Microsevices chia nhỏ ứng dụng lớn thành các ứng dụng nhỏ kết nối với nhau. Mỗi dịch vụ đảm nhiệm một chức năng riêng biệt và chúng được kết nối với nhau tạo nên một tổng thể hài hòa. Ví dụ: Trong ngân hàng có nhiều dịch vụ kết nối với nhau, như liên kết thanh toán hóa đơn, gửi tiền, rút tiền, gửi tiết kiệm..., thì các sản phẩm nhỏ này cũng có thể tạo thành Microservices trong ứng dụng.

Nhưng thực tế, với các ứng dụng nhỏ (mặc dù có nhiều dịch vụ chuyên biệt) thì chúng ta lại đang sử dụng kiến trúc Monolithic (gộp chung databases, quản lý code, repo...). Cách làm có ưu điểm dễ viết, dễ triển khai, cách viết chặt chẽ hơn. Nhưng nhược điểm của nó là kiến trúc này trở nên khó mở rộng. Ngay từ ban đầu, nếu tầm nhìn quản lý không tốt, thì việc đập đi xây lại cả hệ thống là điều khó tránh khỏi, rồi khi có một service nào đó thất bại thì những service còn lại có nguy cơ rất cao.

Các doanh nghiệp lớn từng thống trị thị trường hiện đang phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các công ty Fintech nhỏ hơn, gọn gàng hơn bởi sự nhanh nhạy về công nghệ, chuyên môn hóa và lấy khách hàng làm trung tâm. Để duy trì tính cạnh tranh, các công ty dịch vụ tài chính, ngân hàng đang xem xét lại các kiến ​​trúc kỹ thuật cồng kềnh của họ và biến chúng thành những mô hình dễ thích ứng hơn. Các quy định mới nổi nhằm giải quyết nền kinh tế thanh toán kỹ thuật số mới, chẳng hạn như các quy định của Chỉ thị Dịch vụ Thanh toán (PSD2) của châu Âu, sẽ yêu cầu các ngân hàng áp dụng một cách mới để vận hành và phân phối. Những thay đổi theo PSD2 nhằm đưa các tổ chức tài chính, ngân hàng vào nền kinh tế API mở, thúc đẩy khả năng tương tác và tích hợp thông qua các tiêu chuẩn mở. Để tích hợp dữ liệu mở này, các công ty dịch vụ tài chính, ngân hàng sẽ cần những lợi thế do Microservices cung cấp, để có thể:

- Bảo mật nâng cao: Các yêu cầu Fintech hiện đại tạo ra những thách thức đối với cơ sở hạ tầng bảo mật đã được thiết lập. Các tính năng như ví kỹ thuật số, tư vấn Robot, Chatbot và Blockchain bắt buộc phải có các cơ chế bảo mật mới. Microservices tuân theo một phương pháp là tạo một dịch vụ nhận dạng riêng để giải quyết các yêu cầu mới này.

- Giao hàng nhanh hơn: Nhanh chóng đưa các tính năng mới ra thị trường là nền tảng của các công ty Fintech thành công. Microservices giúp các nhóm ứng dụng khác nhau phân phối độc lập chức năng mới để đáp ứng nhu cầu mới của khách hàng dễ dàng hơn. Microservices cũng mở rộng quy mô tốt để đáp ứng số lượng người dùng và giao dịch lớn hơn.

- Tích hợp liền mạch: Lớp tích hợp trong một giải pháp Fintech hiện đại cần một bộ API mạnh mẽ để giao tiếp với các dịch vụ khác, cả bên trong và bên ngoài. Lớp API này nổi tiếng là thách thức để quản lý trong một ứng dụng nguyên khối lớn. Microservices giúp lớp API quản lý và bảo mật dễ dàng hơn nhiều thông qua tính cách ly, khả năng mở rộng và khả năng phục hồi.

- Mạng lưới dịch vụ giúp việc quản lý một kiến ​​trúc Microservice phức tạp trở nên dễ dàng hơn: Trước sự thay đổi nhanh chóng của khách hàng, doanh nghiệp và các yêu cầu về quy định, Microservices giúp các công ty dịch vụ tài chính, ngân hàng nhanh chóng đáp ứng những thay đổi này. Nhưng điều này không đến miễn phí. Các công ty tiếp nhận chi phí hoạt động tăng lên trong quá trình chuyển sang sử dụng Microservices - các công nghệ như mạng lưới dịch vụ có thể giúp quản lý điều đó. Lưới dịch vụ cung cấp một gói các tính năng xoay quanh khả năng quan sát, bảo mật và kiểm soát rất quan trọng để quản lý các dịch vụ nhỏ trên quy mô lớn. Các giải pháp hiện có trước đây như quản lý cấu hình và DNS cung cấp một số khả năng như khám phá dịch vụ nhưng không cung cấp thử lại nhanh, cân bằng tải và theo dõi sát tình trạng. Cách tiếp cận cũ để quản lý Microservices yêu cầu kết hợp nhiều giải pháp khác nhau mỗi khi có vấn đề phát sinh, nhưng lưới dịch vụ sẽ gộp tất cả lại với nhau trong một gói có thể tái sử dụng. Mặc dù có thể thực hiện một số công việc mà lưới dịch vụ quản lý bằng các công cụ và quy trình riêng lẻ, nhưng việc này thủ công và tốn thời gian.

Sự cạnh tranh từ các công ty khởi nghiệp Fintech sáng tạo, cùng với kỳ vọng ngày càng tăng của khách hàng, những tổ chức tài chính, ngân hàng đã có thương hiệu phải thay đổi cách họ cung cấp dịch vụ và kinh doanh với khách hàng của mình. Việc cung cấp các yêu cầu mới này là khó khăn với các hệ thống cũ, đòi hỏi cần một kiến ​​trúc phần mềm phù hợp với mục đích - nhanh nhẹn, thích ứng, khả năng mở rộng cao, đáng tin cậy và mạnh mẽ. Microservices làm cho điều này trở nên khả thi và lưới dịch vụ giúp Microservices có thể quản lý trên quy mô lớn.

Chuyển đổi số trong ngân hàng là việc tích hợp số hóa và công nghệ số vào mọi lĩnh vực ngân hàng. Sự tích hợp này cho phép tạo mới hoặc sửa đổi các quy trình kinh doanh, văn hóa và trải nghiệm khách hàng hiện có nhằm đáp ứng các yêu cầu thay đổi của thị trường và mong muốn của khách hàng. Chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng đã và đang thay đổi cách mà khách hàng sử dụng các dịch vụ tài chính. Điều này đã thúc đẩy các ngân hàng thích ứng nhanh hơn với làn sóng công nghệ nếu không muốn đánh mất nguồn khách hàng quý giá của mình. Nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực dựa trên Microservices góp phần vào công cuộc chuyển đổi số ngành tài chính, ngân hàng nói riêng và các lĩnh vực khác trong chương trình chuyển đổi số quốc gia nói chung.

Tài liệu tham khảo:

1. Li Lingqun. “Analysis of the operation mode elements of credit bank and its relationship - based on the practice of national Open University credit bank”. Lifelong education research, 2017,28(04): 51 - 57.

2. Zhou Jingjing, Tao Mengzhu. “Credit bank concept function analysis based on the review and practice exploration of domestic theoretical research”. Modern distance education, 2017(01): 3 - 10.

3. Zhou Jingjing, Sun Yaoting. “Difficulties and thoughts of regional credit bank construction”. Open education research, 2016,22(05): 55 - 60.

4. Wu Zunmin. “The path and mechanism of building national credit bank”. Open education research, 2016,22(01): 43 - 49.

5. Yu Yanfang. “Research on design philosophy and technical architecture of credit bank information management platform in the background of education big data”. China remote education, 2015(06): 53 - 59.

6. Xiao Xiaoping. “Mode selection and architecture design of China’s credit banking system”. Remote education magazine, 2015,33(01): 30 - 38.

7. Yang Chen, Gu Fengjia. “A review of foreign credit banking system”. China remote education, 2014(08): 29 - 39.

8. Tang Shihua. “Review of research and practice of credit bank in China”. China remote education, 2013(05): 16 - 21.

9. Cao mei, Zhang zengrong. “The connotation and deepening of learning resources”. China electrochemical education, 2002(04): 14 - 17.

10. Wang Xiaojun1, Wang Shuling, Hao zhe1, Zhang Xinhai, “Research on the Construction of Regional Credit Bank Platform Based on Microservices”, 10th International Conference on Measuring Technology and Mechatronics Automation, 2018.


ThS. Lý Thu Trang

Đại học Bách khoa Hà Nội

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới không chỉ là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn là nhiệm vụ then chốt để củng cố nền tảng tư tưởng, bảo vệ định hướng phát triển quốc gia và khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Xem thêm
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành